Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm tại Việt Nam không chỉ là một màn kịch chính trị

Posted: November 17, 2014 in Uncategorized
Tags:

Martin Petty Reuters Vũ Thị Phương Anh dịch (VNTB) – Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm của quốc hội đối với các lãnh đạo hàng đầu của Việt Nam dường như là một việc làm vô nghĩa, vì các đại biểu tham gia bỏ phiếu hầu hết đều là đảng viên Cộng sản, và trong các lựa chọn để bỏ phiếu không có lựa chọn nào là “không tín nhiệm”.

� Xem thêm: Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm: Việc làm chẳng giống ai? + Việt Nam và lối thoát duy nhất.

Mặc dù sẽ chẳng có ai bị ảnh hưởng nghiêm trọng, cuộc bỏ phiếu hôm thứ Bảy nhằm đánh giá hoạt động của của khoảng 50 quan chức hàng đầu cũng bắt đầu cho thấy trách nhiệm giải trình, đồng thời hé lộ chút thông tin hiếm hoi về những động thái bên trong của một đảng đang tự tìm lại chính mình sau gần bốn thập niên kiểm soát chặt chẽ .

Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng, và người ta đang đồn rằng có sự chia rẽ nội bộ trong quan điểm phải làm gì trong tình hình hiện nay để vẫn giữ nguyên thể chế. Theo các nhà phân tích, sự chia rẽ này tồn tại giữa một bên là phe giáo điều bảo thủ và bên kia là những cán bộ nghiêng về tư bản và tự do hơn, trong nội bộ của một đảng vốn có truyền thống đồng thuận.

“Cuộc bỏ phiếu này tạo ra một sự cởi mở nhằm giảm bớt căng thẳng, nhưng rốt cuộc nó chỉ làm cho ta thấy có sự đấu đá nội bộ giữa các phe phái khác nhau,” nhà phân tích chính trị nổi tiếng Nguyễn Quang A nhận định.

Dân chúng lâu nay đã âm ỉ bất bình về nạn tham nhũng, chiếm đoạt đất đai và một nền kinh tế nhà nước là chủ đạo nhưng kém hiệu quả. Những vấn đề này đã trở thành cố hữu trong nền kinh tế của Việt Nam sau một thời kỳ tăng trưởng bùng nổ, và giờ đây đang mưng mủ như muốn vỡ ra trên diện rộng, đòi hỏi phải có các biện pháp cấp thiết nhằm khắc phục chúng.

Các chuyên gia cho rằng không có thách thức nào đối với quyền lực của đảng Cộng sản trong tương lai gần. Quỹ đạo của nền kinh tế có quy mô 178 tỷ đô la này, cùng khả năng nó hiện thực hóa được tiềm năng trở thành một ngôi sao thị trường mới nổi, hoàn toàn phụ thuộc vào phe nào sẽ nắm thế thượng phong.

Cuộc bỏ phiếu diễn ra chỉ hơn một năm trước một đại hội được tổ chức năm năm một lần, khi đảng Cộng sản lựa chọn người sẽ lãnh đạo bộ máy trong giai đoạn Việt Nam đang theo đuổi việc tham gia sâu hơn với thế giới phương Tây thông qua một loạt các hiệp định thương mại có tiềm năng làm thay đổi luật chơi, và đòi hỏi những nhượng bộ có thể sẽ không làm hài lòng các nhóm lợi ích khác nhau.

“Tôi không nghĩ có bất kỳ sự bất đồng nào trong việc theo đuổi các thỏa thuận thương mại lớn”, ông Nguyễn Quang A nói. “Sự bất đồng chủ yếu liên quan đến việc các thỏa thuận này sẽ ảnh hưởng như thế nào đến lợi ích của các cá nhân và các nhóm đang nắm quyền mà thôi.”

Sự chia rẽ trong quốc hội

Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm lần đầu tiên diễn ra vào năm trước có thể đã phản tác dụng, vì kết quả của cuộc bỏ phiếu này càng củng cố những đồn đoán về sự cạnh tranh ngấm ngầm giữa Chủ tịch nước và Thủ tướng.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng chỉ giành được sự ủng hộ của 42% tổng số các đại biểu quốc hội và bị gần 1/3 tổng số đại biểu chọn mức “tín nhiệm thấp”. Kết quả này trái ngược với Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, người giành được 330 phiếu tín nhiệm cao trên tổng số 498 đại biểu và chỉ nhận có 28 phiếu tín nhiệm thấp.

Các nhà phân tích tin rằng ông Dũng sẽ tìm cách đưa ra một người kế nhiệm trước khi nghỉ hưu trước đại hội năm 2016, và có lẽ tăng cường ảnh hưởng của mình trong năm nay bằng việc thúc đẩy cải cách ngành ngân hàng đang gặp khó khăn vì nợ xấu, đồng thời tư nhân hóa một phần hàng trăm doanh nghiệp nhà nước đang thua lỗ trầm trọng.

“Cuộc bỏ phiếu tín nhiệm năm nay diễn ra trong bối cảnh đang có tranh cãi nặng nề trong giới lãnh đạo cấp cao nhất của Việt Nam trước Đại hội Đảng sắp đến … như vậy, kết quả sẽ làm sáng tỏ ít nhiều về tình hình hiện nay của nền chính trị phe phái này”, Phương Nguyễn, một nhà nghiên cứu tại Trung tâm Chiến lược và Nghiên cứu Quốc tế Washington cho biết.

“Người ta tin rằng Thủ tướng đã hồi phục từ cú đánh của năm ngoái, nếu không phải là đã củng cố được quyền lực của mình. Chúng tôi sẽ chờ xem kết quả bỏ phiếu tín nhiệm có phản ánh điều đó hay không.”

Ông Dũng vừa gặp Tổng thống Mỹ Barack Obama hôm thứ Năm, và có thể đã đạt được một số đòn bẩy quan trọng trong kế hoạch theo đuổi một mối quan hệ mạnh mẽ hơn với Mỹ và thách thức Trung Quốc trong cuộc tranh chấp về chủ quyền hàng hải gần đây.

Bế tắc với Trung Quốc có vẻ đã làm sâu sắc thêm cuộc tranh luận trong nội bộ đảng về sự phụ thuộc vào nước láng giềng Trung Quốc. Điều này đã bộc lộ ra trong tháng Sáu vừa qua, khi 61 đảng viên và cựu đảng viên đã gửi một bức thư ngỏ đến Trung ương đảng Cộng sản và cho rằng sự thất bại trong việc thoát khỏi quỹ đạo của Trung Quốc sẽ là “một tội ác đối với đất nước “.

(Editing by Robert Birsel)

Quốc hội lấy phiếu tín nhiệm: Việc làm chẳng giống ai?

Kami (Blog RFA) – Gần đây, trong một cuộc phỏng vấn của truyền thông nước ngoài, GS. Nguyễn Minh Thuyết, nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội có nói đại ý rằng: ở Việt nam cái gì mấy ông lãnh đạo cũng làm ngược với thế giới, đó là nguyên nhân chính làm cho dân mình cứ phải khổ mãi.

Liên hệ với việc lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội trong hai lần vừa qua thì thấy, việc này cũng thấy đã và đang tiến hành chẳng giống ai. Điều đó đã làm sai mục đích của việc đánh giá tín nhiệm các chức danh lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc chỉ định là nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội đối với bộ máy nhà nước.

Vài nét về việc đánh giá tín nhiệm

Các khái niệm bỏ phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu bất tín nhiệm hay lấy phiếu tín nhiệm… là những thuật ngữ để chỉ các hoạt động nghị trường ở các quốc gia theo chế độ dân chủ nghị viện. Đó là việc làm mang tính tổng kết sự đánh giá tín nhiệm của cơ quan Lập pháp – Quốc hội đối với cơ quan Hành pháp – Chính phủ trong một  nhiệm kỳ của Quốc hội. Việc làm này được tiến hành thông qua một cuộc họp các Đại biểu Quốc hội chất vấn và bỏ phiếu bất tín nhiệm Chính phủ. Việc làm này là những hoạt động nhằm đảm bảo việc giám sát và điều chỉnh quyền lực trong cơ chế tam quyền phân lập. Nguyên tắc đó là “Cơ quan Hành pháp – Chính phủ chỉ có thể tồn tại khi có sự đồng thuận và tín nhiệm của cơ quan Lập pháp – Quốc hội”.

Mục đích lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội, giúp người được lấy phiếu tín nhiệm thấy được mức độ tín nhiệm của mình để phấn đấu, rèn luyện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động. Và kết quả tín nhiệm cũng là cơ sở cho việc đánh giá cán bộ của cơ quan có thẩm quyền và việc miễn nhiệm chức vụ đối với người mà Quốc hội không còn tín nhiệm. Nói đơn giản là, sau một thời gian Quốc hội giám sát hoạt động của Chính phủ, thì đến lúc Quốc hội sẽ chỉ ra các khiếm khuyết để buộc Chính phủ phải tự xem xét và sửa đổi đổi cách làm việc, kể cả việc thay đổi người đứng đầu hoặc nhân sự của Chính phủ.

Việc đánh giá tín nhiệm các chức danh lãnh đạo cao cấp do Quốc hội bầu hoặc chỉ định là một công việc hoàn toàn mới, xuất hiện lần đầu tiên vào tháng 6 năm 2013, đó là lần đầu tiên Quốc hội Việt nam tiến hành lấy phiếu tín nhiệm. Tuy vậy, ít ai biết rằng, cuộc bỏ phiếu bất tín nhiệm đầu tiên trên thế giới đã từng diễn ra cách đây 232 năm tại Anh, vào tháng 3.1782. Việc làm này của Quốc hội Việt nam dù cho đã quá chậm, nhưng cũng vẫn được coi là một tín hiệu tốt, là điều đáng mừng thể hiện cho sự thay đổi. Cho dù nó vẫn mang phong cách của lãnh đạo Việt nam, đó là làm chẳng giống ai.

Ở xứ người…

Ở các quốc gia theo chế độ dân chủ nghị viện, Quốc hội là cơ quan lập pháp, chịu trách nhiệm xây dựng và thông qua các dự luật. Thông thường, trong Quốc hội chia làm hai phe, phe chiếm đa số bao gồm các dân biểu của một (hoặc các) đảng cầm quyền nắm quyền thành lập Chính phủ để điều hành hoạt động của đất nước. Và phe còn lại nắm số dân biểu của các đảng còn lại giữ vai trò kiểm soát hoạt động của phe Chính phủ gọi là phe đối lập. Phe đối lập đóng vai trò cốt lõi trong Quốc hội để tiến hành giám sát các hoạt động của Chính phủ. Hoạt động bỏ phiếu bất tín nhiệm Thủ tướng và một số thành viên Chính phủ là vũ khí hết sức lợi hại của phe đối lập, đồng thời cũng là điều bất cứ Chính phủ cầm quyền cũng luôn luôn phải hết sức lo ngại.

Trong nhiệm kỳ của Quốc hội, thường khi nào có tối thiểu 20% dân biểu phe đối lập không hài lòng với cách làm việc và điều hành của Chính phủ, đặc biệt khi họ nắm được các bằng cho thấy có sự hoạt động bất minh, trái luật hoặc có biểu hiện tham nhũng của Chính phủ. Lập tức phe đối lập sẽ trình Quốc hội một nghị quyết, yêu cầu Quốc hội tổ chức cuộc họp để chất vấn và bỏ phiếu bất tín nhiệm các thành viên Chính phủ bị nghi ngờ. Công việc này thuộc thẩm quyền của phe đối lập, không bị giới hạn về số lần hoặc bị hạn chế thời gian (số ngày họp chất vấn) cho một lần. Việc bỏ phiếu bất tín nhiệm là thủ tục cuối cùng của cuộc họp, thông qua việc bỏ phiếu công khai (bấm nút) với các nội dung: tín nhiệm, bất tín nhiệm, bỏ phiếu trắng (no vote).

Nội dung của cuộc họp chất vấn trước đó phải được phe đối lập gắn cùng với nghị quyết để nghị mở phiên chất vấn Chính phủ, đó là yêu cầu chất vấn thành viên X,Y, Z…. về các nghi vấn cụ thể A, B, C… Trên cơ sở đó phe đối lập và phe Chính phủ sẽ trao đổi và thảo luận để đi đến thống nhất sẽ chất vấn ai, về vấn đề gì? Song vấn đề quan trọng nhất là các tài liệu, chứng cứ tố cáo của phe đối lập có đủ căn cứ, chứng lý đáng phải bỏ phiếu bất tín nhiệm hay không? Cũng có trường hợp không quan trọng thì Quốc hội chỉ chất vấn Chính phủ mà không kèm theo việc bỏ phiếu bất tín nhiệm. Trên cơ sở đó, hai bên thống nhất cụ thể thời gian dành cho việc chất vấn của phe đối lập, thời gian trả lời chất vấn của phe Chính phủ. Tất cả các điều nêu trên phải được một Uỷ ban của Quốc hội thông qua và chuẩn thuận.

Cuộc họp chất vấn này kéo dài nhiều ngày và thường kết thúc bằng việc bỏ phiếu bất tín nhiệm cho một số thành viên của Chính phủ, kể cả Thủ tướng. Trong trường hợp nếu các chứng cứ buộc tội của phe đối lập quá chặt chẽ và rõ ràng thì ngay sau cuộc họp đảng cầm quyền phải cải tổ nội các, thay các Bộ trưởng đó. Tuy vậy, kết quả để dẫn tới việc phế truất hoặc thay thế các thành viên Chính phủ là rất hãn hữu, ít xảy ra vì số phiếu bất tín nhiệm của phe đối lập thường không quá bán (do luôn chiếm thiểu số). Trừ trường hợp dân biểu của một hay vài đảng trong liên minh cầm quyền bỏ phiếu bất tín nhiệm, đưa tỷ lệ bất tín nhiệm lên quá bán thì sẽ dẫn đén việc thay đổi chính phủ. Khi đó đảng cầm quyền cũ sẽ trở về làm vai trò đối lập trong Quốc hội.

Các cuộc họp chất vấn Chính phủ và bỏ phiếu bất tín nhiệm là sinh hoạt chính trị quan trọng, sẽ thu hút sự chú ý và theo dõi của một bộ phận lớn dân chúng. Do vậy, sự kiện này luôn được truyền hình trực tiếp và đây cũng là cơ hội lấy điểm của cả phe đối lập lẫn Chính phủ. Cái quan trọng nhất của vấn đề này là ở chỗ có tác dụng răn đe đối với các chính trị gia nói chung và những người đảm nhiệm chức vụ lãnh đạo nói riêng. Phe đối lập thì bằng các chứng cứ, tài liệu bằng hình ảnh, âm thanh ra sức cáo buộc và chứng minh phe chính phủ có các việc làm phi pháp và vi phạm pháp luật, ngược lại phe Chính phủ cũng cố gắng chứng minh được rằng, mọi cáo buộc của phe đối lập là vu cáo, giả tạo nhằm mục đích hạ uy tín của chính phủ. Việc này sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến uy tín của đảng cầm quyền và đảng đối lập, điều có ý nghĩa và sẽ ảnh hưởng rất lớn cho cuộc bầu cử nhiệm kỳ sắp tới. Và cuối cùng, vấn đề ai đúng, ai sai, ai là người có lỗi hay ai là người vu khống quyền phán xét cuối cùng là thuộc về cử tri. Họ sẽ trả lời rằng họ tin ai, không tin ai qua lá phiếu bầu của họ.

Và ở xứ mình

Việc đánh giá tín nhiệm ở Việt nam thông qua 02 bước: lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm. Lấy phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội thăm dò mức độ tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn làm cơ sở cho việc xem xét, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền. Việc lấy tín nhiệm gồm 03 mức: tín nhiệm cao, tín nhiệm trung bình, tín nhiệm thấp. Còn việc bỏ phiếu tín nhiệm là việc Quốc hội thể hiện sự tín nhiệm hoặc không tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội bầu hoặc phê chuẩn để làm cơ sở cho việc miễn nhiệm, bãi nhiệm hoặc phê chuẩn việc miễn nhiệm, cách chức người không được Quốc hội tín nhiệm. Bỏ phiếu tín nhiệm có hai mức: tín nhiệm và không tín nhiệm. Theo Nghị quyết số 35 của Quốc hội thì lấy phiếu tín nhiệm là bước đi thứ nhất hoặc là bước đệm cho việc bỏ phiếu tín nhiệm. Đáng tiếc là rất nhiều người trong số chúng ta nhầm lẫn và cho rằng việc lấy phiếu tín nhiệm và bỏ phiếu tín nhiệm là một công việc chung với hai tên gọi khác nhau. Mà không hiểu rằng đây là 02 bước riêng biệt để phục vụ cho việc đánh giá tín nhiệm các chức danh lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc chỉ định.

Hiện nay, với cách lấy phiếu tín nhiệm với 03 mức lấy phiếu tín nhiệm, đó là tín nhiệm cao, tín nhiệm, tín nhiệm thấp là cách để chọn lựa các đối tượng yếu kém để dành cho bước tiếp theo là bỏ phiếu tín nhiệm. Tuy nhiên, cách lấy phiếu tín nhiệm ở 03 mức tín nhiệm như trên cho thấy việc những người tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm ngay từ đầu có ý đồ nhằm làm cho là tất cả đều được tín nhiệm, chỉ khác nhau ở mức độ cao hay thấp. Nói một cách khác, nếu lấy phiếu tín nhiệm ở 03 mức như kể trên thì hoàn toàn triệt tiêu cơ hội cho việc bỏ phiếu tín nhiệm, nghĩa là việc làm theo kiểu “Đầu Voi, đuôi Chuột”.

Lần đầu tiên Quốc hội Việt nam đánh giá tín nhiệm các chức danh do Quốc hội bầu hoặc chỉ định vào tháng 6 năm 2013 và chỉ dừng lại ở bước lấy phiếu tín nhiệm. Ngay sau đó, trước ý kiến của nhiều Đại biểu Quốc hội cho rằng việc lấy phiếu tín nhiệm ở 03 mức tín nhiệm là việc làm mang tính hình thức, không thực chất và không có tác dụng răn đe hay cảnh báo đối với các đối tượng bị lấy phiếu tín nhiệm. Quốc hội đã dừng việc này để xem xét và nghiên cứu một phương án khả thi hơn. Tiếc rằng, thay cho việc có một giải pháp tối ưu hơn thì Quốc hội đã thay việc lấy phiếu tín nhiệm hàng năm bằng việc chỉ lấy phiếu tín nhiệm cho một lần vào giữa kỳ nhưng 03 mức tín nhiệm thì vẫn giữ nguyên. Không những thế việc lấy phiếu tín nhiệm là được tổ chức trong một phiên họp kín, điều mà được dư luận coi là một bước thụt lùi của Quốc hội Việt nam.

Việc Quốc hội chỉ tổ chức lấy phiếu tín nhiệm mà không tổ chức họp chất vấn, để các Đại biểu Quốc hội có điều kiện chất vấn các vấn đề mà họ có nghi ngờ đối với các đối tượng lấy phiếu tín nhiệm. Đặc biệt là tổ chức họp kín không tường thuật trực tiếp phiên họp là một thiếu sót lớn cần được khắc phục. Nếu không sửa đổi thì mục tiêu răn đe của việc đánh giá tín nhiệm sẽ hoàn toàn mất tác dụng.

Kết

Trong danh sách lấy phiếu tín nhiệm của Đại biểu Quốc hội đối với 50 vị lãnh đạo cao cấp của bộ máy nhà nước, thì Tổng BT Nguyễn Phú Trọng, người được coi là nhân vật nắm quyền lực cao nhất trong bộ máy chính quyền Việt nam không có tên trong số 50 vị lãnh đạo chủ chốt. Đây được coi là bằng chứng ở Việt nam Đảng CSVN đứng trên tất cả, không ai giám sát quản lý họ, kể cả Quốc hội. Điều đó cho thấy việc đánh giá tín nhiệm đối với các chức danh lãnh đạo do Quốc hội bầu hoặc phê duyệt thực sự đang có vấn đề.

Cách tổ chức lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội Việt nam có quá nhiều điều bất cập, có lẽ đấy chính là nguyên nhân khiến cho kết quả việc lấy phiếu tín nhiệm của Quốc hội là một việc làm vô ích và không có hiệu quả như mong muốn. Kết quả cuối cùng thì cũng đã thấy, tức là chẳng có ai mất chức, hay bị cách chức như nhiều người kỳ vọng, nghĩa là mọi cái vẫn giữ y nguyên. Đây cũng chính tồn tại lớn nhất, khi những người lãnh đạo cũng chính là những đối tượng để lấy và bỏ phiếu tín nhiệm, còn tránh né đến vấn đề nhạy cảm và quan trọng nhất đối với họ, đó là vấn đề quyền lực.

Nguyên nhân sâu xa là do thiếu một thiết chế Tam quyền phân lập và sự lãnh đạo toàn diện của Đảng CSVN về mọi mặt, là điều đã khiến cho Quốc hội, Chính phủ hay các cơ quan Tư pháp cũng chỉ là một bộ phận chịu sự lãnh đạo của Đảng CSVN. Điều đó đã làm tê liệt toàn bộ cơ chế giám sát và điều chỉnh quyền lực đối với bộ máy nhà nước hiện nay.

Việt Nam và lối thoát duy nhất

Trần Thế Kỷ (VNTB) – Từ một nước đói ăn triền miên, thông qua Đại hội Đổi mới (1986) đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, kéo theo nhiều sự thay đổi về diện mạo kinh tế – xã hội. Thế nhưng, càng về sau này Việt Nam càng lâm vào những khủng hoảng trên các lĩnh vực Kinh tế, xã hội, môi trường, giáo dục… Sự hậu so với các nước trong khu vực không còn là nguy cơ mà đã trở thành hiện thực.

Kinh tế yếu kém, phát triển kiểu “tụt hậu”

Dưới sự điều hành kinh tế yếu kém của chính phủ Nguyễn Tấn Dũng, kinh tế Việt Nam mang một sắc màu u ám.

Tính đến ngày 01-04-2012, Việt Nam chỉ còn hơn 312.000 doanh nghiệp hoạt động trong tổng số trên 694.000 doanh nghiệp thành lập. Nền kinh tế hiện đang bị phụ thuộc, sản xuất chủ yếu là làm gia công, làm thuê cho Trung Quốc và các nước khác. Ngay cả khi nền kinh tế thế giới ra khỏi cơn suy thoái thì Việt Nam vẫn còn lặn hụp trong vũng lầy. Theo ông Bùi Quang Vinh, Bộ trưởng Kế hoạch – Đầu tư, “Tăng trưởng của Việt Nam không nhờ tăng năng suất hay tiến bộ về khoa học công nghệ…mà chủ yếu dựa vào tăng qui mô nguồn vốn, khai thác tài nguyên…”

Nhưng có một yếu tố giúp kinh tế Việt Nam “dựa vào” mà ông Bộ trưởng quên nhắc đến, đó chính là lượng kiều hối hằng năm chảy vào Việt Nam. Lượng kiều hối chuyển về Việt Nam liên tục tăng mỗi năm. Tổng cộng từ năm 1993 tới 2013 là khoảng 84 tỷ USD. Riêng năm 2013 của Việt Nam đạt 11 tỷ USD giúp Việt Nam đứng vào danh sách các quốc gia nhận kiều hối nhiều nhất thế giới. Chính lượng kiều hối đã “giúp đỡ” Việt Nam gượng dậy trong sự suy sụp về mặt kinh tế.

Nhưng điều đó cũng không giúp được nhiều, theo thông báo chính thức từ Chính phủ, đến tháng 11-2013, mỗi người Việt Nam gánh 860 USD trong tổng số gần 77 tỉ USD mà chính phủ Việt Nam đi vay trong và ngoài nước. Tỉ lệ vay để trực tiếp trả nợ đang ngày một lớn, dẫn đến tỉ lệ nợ công lên tới 98% (so với 55% mà Chính phủ báo cáo) trong khi mức an toàn của nợ công là 65% GDP.

Ông Vũ Đình Ánh, một chuyên gia kinh tế đã phải thừa nhận rằng, Việt Nam làm ra 100 đồng thì phải dùng 98 đồng để trả nợ. Nguy cơ “vỡ nợ” hiện hữu, khác hẳn so với cam kết của thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng về việc “sẽ không để vỡ nợ”.

Một trong những nguyên nhân gây ra nạn nợ công tăng cao là vấn đề về việc sử dụng ODA địa phương, một trong những nguồn trực tiếp gây ảnh hưởng đến vấn đề nợ công cũng gặp nhiều yếu tố tiêu cực. Không ít các lãnh đạo địa phương vẫn tồn tại quan điểm rằng ODA là cho không, vay được càng nhiều càng tốt. Chưa kể, bộ máy hành chính lại quá cồng kềnh nhưng hoạt động kém hiệu quả trong khi ngân sách nhà nước dành cho bộ máy chiếm tới 70%. Một nghịch lý là, Hoa Kỳ – đất nước có nền kinh tế số 1 thế giới với 320 triệu dân mà bộ máy nhà nước chỉ hơn 2 triệu người còn Việt Nam gần 90 triệu dân lại có tới 2.8 triệu công chức.

Do đó, theo Báo cáo phát triển Việt Nam năm 2009 của Ngân hàng Thế giới, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam tụt hậu tới 51 năm so với Indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158 năm so với Singapore. Và “Thực tế là Việt Nam sẽ phải rất lâu mới đuổi kịp được”. Giáo sư Hà Văn Thịnh viết trên báo Một Thế Giới: “Có tìm thấy ở đâu giống với nước ta là nói nhiều, nói lắm mà tất cả sự sai trái, trì trệ vẫn y nguyên? Hình như chỉ có một cái thay đổi thôi: Nỗi đau của hàng triệu người nghèo ngày một nhức nhối hơn”.

Theo Báo cáo của Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc công bố tháng 9 – 2014, Việt Nam không có tiến bộ về “Phát triển con người”. Từ năm 2000 đến 2013, chỉ số HDI của Việt Nam đã giảm từ 1.7 xuống còn 0.96. Trong khi, hầu hết quốc gia châu Á đều có chỉ số HDI cao hơn Việt Nam (HDI là chỉ số tổng hợp từ các yếu tố tuổi thọ, tri thức, mức sống).

“Việt Nam nhẽ ra phải nằm trong nhóm các nước có thu nhập bình quân 7.000 USD thay vì 1.400 USD như hiện nay (2014) song thực tế không được do điều hành kém hiệu quả”, ông Olin McGill chuyên gia của USAID (Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ) chia sẻ.

Để kinh tế Việt Nam thoát khỏi tình trạng này, đa số các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đổi mới thể chế. Bộ trưởng Kế hoạch Đầu tư Bùi Quang Vinh khẳng định: “Đến thời điểm hiện tại (2014) nền kinh tế Việt Nam đã hết động lực để phát triển và Việt Nam cần cơ chế, chính sách mới để phát triển”. Tiến sỹ kinh tế Phạm Chí Dũng nhận định rằng vấn đề chính trị là cái gốc của thể chế kinh tế, “Không thể giải quyết vấn đề chính trị nếu không giải quyết vấn đề các nhóm lợi ích hiện nay. Cho nên đó là một cái vòng lẩn quẩn, các nhóm lợi ích lại thao túng chính trị, xây dựng chính trị và thậm chí hoàn chỉnh chính trị”.

Âm về giáo dục, đạo đức, xã hội

Việt Nam là nước coi trọng bằng cấp hơn thực học, dẫn đến việc, đất nước sản sinh ra quá nhiều giáo sư, tiến sĩ nhưng lại quá hiếm những công trình, phát minh tầm cỡ (năm 2013, Việt Nam có khoảng 24.000 tiến sĩ). Số tiến sĩ của Việt Nam nhiều nhất Đông Nam Á nhưng không có trường đại học Việt Nam nào đứng trong bảng xếp hạng 500 trường đại học hàng đầu thế giới. Nhiều luận án tiến sĩ chủ yếu là sao chép công trình của người khác. Việc học giả bằng thật có xu hướng lan rộng. Nhiều người lấy bằng tiến sĩ chỉ để kiếm tiền, địa vị.

Ngành giáo dục không cân đối kế hoạch khiến các trường đại học mở tràn lan mà người dân lại chuộng bằng cấp dẫn tới cả nước dư thừa 72.000 lao động có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ không có việc làm (theo Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội năm 2014). Mặt khác, do chính sách đãi ngộ nhân tài còn nhiều bất cập và bị lấn lướt bởi mô hình “Nhất hậu duệ, nhì quan hệ, ba tiền tệ, bốn trí tuệ”, dẫn đến nạn chảy máu chất xám khi hết 70% sinh viên du học nước ngoài không trở về nước làm việc.

Nền giáo dục bê bét, khiến cho đạo đức cá thể xã hội rơi vào trạng thái suy đồi. Điều này khiến cho tốc độ gia tăng tội phạm nhanh hơn cả dân số. Tướng Phan Anh Minh thuộc Công an thành phố Hồ Chí Minh thừa nhận: “Có những đợt đặc xá là do nhà tù quá tải chứ không phải do giáo dục tốt”.

Tiến sĩ Nguyễn Thanh Giang cho rằng con người Việt Nam bây giờ còn tha hóa hơn con người Việt Nam thời phong kiến; tư chất, đạo lý con người Việt Nam bây giờ còn thua thời Pháp thuộc. Đảng và nhà nước không ngừng hô hào nhân dân học tập “Tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, nhưng tình hình vẫn không được cải thiện, nếu không nói là càng tệ hơn.

Xã hội Việt Nam ngày càng lún sâu vào trạng thái bất an, khủng hoảng niềm tin tràn lan, dẫn đến nạn “ngoại cảm” được tôn vinh tại một thể chế vô thần. Bia rượu và thuốc lá tiếp tục ru ngủ xã hội, khi mà theo công bố gần đây, mỗi năm Việt Nam chi 3 tỷ USD cho bia, trong khi thu nhập bình quân đầu người chỉ đứng thứ 8, lợi nhuận doanh nghiệp sản xuất bia tại Việt Nam năm 2013 lên đến 10.150 tỷ đồng, đặc biệt vào năm 2013, Việt Nam xếp trong 25 quốc gia có mức tiêu thụ bia gia tăng nhiều nhất thế giới.

Ô nhiễm môi trường và tham nhũng tràn lan

Có hai thứ phát triển rất nhanh tại Việt Nam là môi trường bị ô nhiễm và nạn tham nhũng.

Sự phát triển kinh tế theo hướng mỗi tỉnh mỗi khu công nghiệp, đã bỏ qua sự bền vững môi trường. Sông ngòi, không khí, đất bị ô nhiễm nặng nề, hệ sinh thái bị đảo lộn do nạn làm thủy điện, xây dựng các khu công nghiệp (không đề cao xử lý chất thải), tiến hành các hoạt động khai thác công nghiệp thô sơ, hay mang tính chất hiểm họa môi trường như boxit ở Tây Nguyên.

Một kiểu ô nhiễm điển hình nhất có thể thấy tại Việt Nam là ô nhiễm nguồn nước và nguồn thực phẩm đã đưa Việt Nam trở thành nước có bệnh nhân ung thư nhiều nhất thế giới với mỗi năm số bệnh nhân mới là 150.000 người, trong đó có 75.000 người tử vong. Trong nước, hình thành những kiểu làng lạ, với tên gọi là… làng ung thư.

Môi trường sinh thái đem đến bệnh ung thư, thì môi trường xã hội và thể chế lại tạo điều kiện cho nạn tham nhũng phát triển ngày một tinh vi, phức tạp, từ trung ương tới địa phương. Năm 2013, Việt Nam xếp thứ 123 trên tổng số 176 nước trong bảng đánh giá hàng năm về tham nhũng trong khu vực công của Tổ chức Minh bạch Quốc tế (Transparency International).

Căn bệnh tham nhũng trở thành một đặc trưng của thế chế, do đó, khi được hỏi về việc, đến bao giờ nạn tham nhũng mới được đẩy lùi thì chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đáp: “Tôi chưa dám trả lời bao giờ đẩy lùi được tham nhũng”.

Bản thân ông Nguyễn Phú Trọng, Tổng Bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, cũng phải nhìn nhận: “Bây giờ ra khỏi nhà, cái gì cũng phải tiền, không tiền thì không trôi. Tham nhũng lớn có, tham nhũng nhỏ cũng có, như ngứa ghẻ, rất khó chịu”.

Dù tham nhũng được đánh giá gây hại đến sự tồn tại của chế độ nhưng quyết tâm chống tham nhũng lại dừng ở những lời hứa, trấn an hoặc nếu chống cũng theo kiểu “Ném chuột đừng để vỡ bình”.

Rõ ràng, sự ô nhiễm môi trường, tham nhũng chính là do sự bao che, dung túng của chế độ mà nên. Điều đó dẫn đến việc, dù đã huy động hệ thống chính trị Đảng, Chính phủ và Mặt trận Tổ quốc cùng vào cuộc chống tham nhũng. Nhưng rốt cuộc chỉ bắt được vài con chuột nhắt.

Nền “dân chủ” vì… Đảng

Nhân dân không mấy ai còn tin vào chế độ. Tháng 9-2014, bộ phim “Sống cùng lịch sử” được thực hiện để ca ngợi chiến thắng Điện Biên Phủ và tướng Võ Nguyên Giáp (được nhà nước đầu tư 21 tỷ đồng) đã phải ngưng chiếu sau hai tuần ra rạp vì không bán được vé do người dân không buồn vào xem.

Trong mắt người dân, chế độ nói xóa bỏ giai cấp nhưng lại tạo nên một giai cấp ăn trên ngồi trước. Nói là đầy tớ nhân dân nhưng thực tế lại là cha mẹ nhân dân. Khoảng cách giàu nghèo giữa quan và dân ngày càng lớn. Quan chức thì thì giàu lên vì vật chất, trong khi dân thì giàu lên ở các khoản… phí thuế.

Chương II, Điều 27 của Hiến Pháp 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định.”

Tuy nhiên, hiện nay việc bầu cử, ứng cử vẫn bị chi phối bởi chế độ “Đảng cử, dân bầu”. Trong khi, tạo ra đặc quyền chính trị riêng biệt cho một tầng lớp Đảng viên, lãnh đạo, hình thành nên hệ thống “Thái Tử Đảng” – một cụm từ dùng để chỉ tầng lớp con cháu của các quan chức cao cấp ưu tiên tuyển vào các vị trí lãnh đạo tại các cơ quan nhà nước.

Nền dân chủ bị bóp ngẹt, nạn thuế phí chồng chất, đặc biệt việc tước đoạt ruộng đất nhân danh “Đất đai là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý” đã dẫn đến nhiều cuộc biểu tình trong nước, lượng dân oan ngày một tăng.

Tiếng nói bảo vệ người dân nghèo của hệ thống báo chí, truyền thông trong nước với con số trên 800, các hội đoàn như Công đoàn, Mặt trận Tổ Quốc, Hội nông dân không mang tính phản ánh thực trạng, quyền lợi của người dân mà chỉ chuyên về tuyên truyền, bảo vệ cho các chủ trương, chính sách (dù sai lầm) của Đảng.

Điều đó, dẫn đến việc, người người dân chủ động sáng lập những tờ báo mạng của riêng mình thu hút hàng triệu người đọc như: Dân Làm Báo, Anh Ba Sàm, Bauxite Việt Nam… Những hội đoàn dân sự đối trọng với các hội đoàn nhà nước như: Hội Nhà báo Độc lập Việt Nam, Văn đoàn Độc lập Việt Nam… ra đời.

Dù sự ra đời hoàn toàn hợp pháp, vì nằm trong Điều 25 của Hiến pháp 2013, trong đó ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, nhưng các Hội đoàn, trang báo “lề dân” lại không được thừa nhận, ngược lại liên tiếp bị đả kích trên các phương tiện báo chí nhà nước, các hội viên và người sáng lập liên tục bị sách nhiễu.

Sự suy sụp về kinh tế, suy thoái về đạo đức con người, rối loạn về xã hội, độc quyền về chính trị đã cho thấy, Đại hội Đổi mới (1986) mới chỉ giải quyết trước mắt về vấn đề kinh tế, tuy nhiên điều này đã không kéo được dài lâu, mà ngược lại, càng khiến cho sự hấp hối kéo dài của thể chế làm hao hụt nguồn nhân lực, tiềm lực sẵn có của quốc gia.

Chính vì vậy, người dân mong muốn một sự thay đổi về gốc, trong một Đại hội Đổi Mới – về thể chế, chính trị, làm nền tảng cho việc chấn hưng lại nền kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tại Việt Nam. Đó là lối thoát duy nhất và là tương lai của Việt Nam, cũng là bước đi hợp lý nhất mà một lãnh đạo có tâm, có tầm có thể làm được.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.