“Vừa hợp tác vừa đấu tranh” và … Vương Thúy Kiều

Posted: November 29, 2014 in Uncategorized
Tags:

Hạ Đình Nguyên (NLG) – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng vừa đưa ra phương châm 6 chữ: “Vừa hợp tác, vừa đấu tranh” nghe hay hay, để nói về đối sách của ta với Tàu. Ông còn nói thêm: “Đối với Trung Quốc, dù mưa bão… mãi mãi là láng giềng”.

� Xem thêm: Bức tranh lớn và bức tranh nhỏ.


Thích Thanh Quyết hay Thích Hành Quyết!?

[:-/] Vừa hợp tác vừa đấu tranh với Trung Quốc! (NLĐ) – Đại biểu – Thượng tọa Thích Thanh Quyết đề nghị Thủ tướng khái quát súc tích về quan hệ Việt Nam – Trung Quốc. Trước đề nghị của ĐB Thích Thanh Quyết, Thủ tướng nói: “Vấn đề này khó, nhưng tôi xin trình bày khái quát với 6 chữ: Vừa hợp tác vừa đấu tranh. Chúng ta vừa hợp tác vừa đấu tranh không chỉ với Trung Quốc mà với tất cả các nước để có hòa bình ổn định, để có hữu nghị, tin cậy lẫn nhau, cùng phát triển thịnh vượng…”.

Tôi bỗng nghĩ đến nàng Vương Thúy Kiều trong truyện Kiều của thi hào Nguyễn Du.

Xin nói ngay rằng, tôi không có ý mỉa mai khi liên hệ “lục tự phương châm” này của Thủ tướng Dũng với hình ảnh nàng Thúy Kiều, mà là một liên hệ nghiêm túc, vì rằng truyện Kiều được thừa nhận là một tác phẩm văn học kiệt xuất vượt thời gian của nền văn học Việt Nam. Nhân vật Thúy Kiều lại đã làm rơi nước mắt của bao thế hệ, từ người bình dân cho đến giới văn nhân, thi sĩ, học giả… Hình ảnh của Thúy Kiều như là biểu trưng của một thứ định mệnh của dân tộc. Nàng Kiều cũng đã từng “vừa hợp tác vừa đấu tranh” gần hết quãng đời thanh xuân nhan sắc của mình.

Thúy Kiều khởi sự ra đi bằng một động cơ tốt “chuộc cha, cứu nhà” với biện pháp “bán mình” cho Mã Giám Sinh. Một sự chọn lựa tự nguyện hy sinh để lao vào cuộc phiêu lưu mơ hồ với ý tưởng thực thà và ngây thơ, rồi nhận lấy một hệ quả đau thương, đầy nước mắt, đến cả tự sát.

Trong suốt quá trình phiêu lưu, bao giờ Kiều cũng có tinh thần hợp tác chân thành với kẻ xấu với mình, và luôn canh cánh bên lòng một cuộc đấu tranh âm thầm, cố thoát ra khỏi cảnh cá chậu chim lồng để tìm tự do. Lần cuối cùng rơi vào âm mưu nham nhở của Hồ Tôn Hiến, Kiều tuyệt vọng muốn kết thúc cuộc đời bằng cách lao mình xuống dòng sông chảy xiết. Ngoài sự vô vọng về mơ ước tự do, Kiều còn mang theo nỗi ân hận không thể tự tha thứ, vì đã gây nên nhiều tội lỗi, nhất là cái chết của Từ Hải, người đã hết lòng yêu thương mình, đồng thời cũng là niềm hy vọng cuối cùng cho cuộc vượt thoát. Cái chết mà Thúy Kiều tìm đến lần này, là sự kết thúc trọn vẹn một phương thức nhập nhằng, thiếu tự tin của một tư tưởng không độc lập tự chủ. Cái chết của Kiều khi lao xuống sông Tiền là cái chết giả định, tượng trưng cho một sự chuyển đổi tâm thức triệt để. Nếu không có cái quyết liệt ấy, Kiều sẽ tiếp tục cuộc trôi lăn vô vọng trong tình cảnh nô lệ. Thực ra, Kiều đã tắm gội một cách tận cùng rốt ráo để lấy lại sự tinh khiết, và được trở về cố hương với “thiện căn” ban đầu, như “đứa con đi hoang đã trở về”. Thời đại của Kiều là thời đại bi đát, vì không “bán” mình thì không biết làm gì hơn! Nhưng bán mình của Kiều không có nghĩa là “bán mình” để nuôi thân như nghĩa thông thường ngày nay, mà trao đổi trân trọng giá trị của cuộc sống.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời từ một nghĩa cả, với niềm mơ ước độc lập tự do. Tầm vông vạc nhọn và đôi dép râu, giống như Kiều, là cống hiến giá trị sống với một niềm tin “ảo/không thật có ” về cái tốt của người.

Xét một cách công bằng, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cũng là lời nói đúng. Đó là nhìn nhận một sự thật, không thể không “hợp tác” với Tàu, vì đó là một nước lớn, ở sát nách, có mối quan hệ lịch sử từ ngàn xưa, lại cùng thân phận lệ thuộc. Nhưng cũng đã “dám” công khai thừa nhận, nó có cái xấu nên phải “đấu tranh”. Thật ra đây là chuyện không mới, vì đã có cả 4000 năm lịch sử trần ai với chúng, nhưng lại khá mới với lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, từ khi ra đời đến đây là 70 năm.

Cũng nên công bằng để nhắc lại, có một thời gian ngắn ngủi khi Trung Quốc đem 60 vạn quân đánh bất ngờ vào sáu tỉnh biên giới, giết sạch, phá sạch và tuyên bố “dạy một bài học” (1979) thì Lê Duẩn, Tổng Bí thư Đảng – thấy niềm tin của ông bị phản bội trắng trợn – mới công khai gọi chúng là kẻ thù truyền kiếp và ghi thẳng vào Hiến Pháp. Một nỗi thất vọng không đáng có vì một niềm tin không nên có. Nhưng không bao lâu thì câu ấy bị gỡ ra, và xóa cả chứng tích cả bia mộ, lệnh cho toàn dân không được nhắc tới, xuất phát từ Hội nghị bí mật ở Thành Đô, và thay vào đó là lời thú tội nghiêm túc, nguyện trung thành với phương châm 16 chữ vàng và 4 tốt, dịu ngọt ngoan hiền, toàn Đảng học thuộc với một tấm lòng cung kính. Cái “nổi trận lôi đình” của ông Lê Duẩn xem là chuyện nhất thời phải quên đi, phải lau chùi sạch sẽ một cách khiếp nhược, so với lịch sử gắn bó dài hơi của Đảng.

Sự nín nhịn và chịu đựng qua vụ mất Hoàng Sa, Gạc Ma… Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn mang thân phận Thúy Kiều, chịu lép một bề, với lời sám hối trong đòn roi: tấm lòng trinh bạch từ nay xin chừa. Lời thề thốt không vượt qua số phận. Chiếc giàn khoan 891ngang nhiên xuất hiện chiếm đóng vùng lãnh hải, thì nhân dân và một bộ phận trong đảng không thể cam chịu được nữa. Sự thật đã bung vỡ. Lý tưởng “xã hội chủ nghĩa cùng nhau” (trong Thông cáo chung) mà Đảng hoài mong đã hoàn toàn sụp đổ trong sự thảng thốt. Chiếc giàn khoan 891, như trò thô bỉ bẽ bàng lần cuối của Hồ Tôn Hiến, đã làm giọt nước tràn ly, khiến cho Kiều tỉnh ngộ để đi đến một quyết định triệt để đổi đời. Gieo mình vào sóng nước trùng khơi, với Kiều là sự tỉnh ngộ rốt ráo. Nhưng với Đảng Cộng sản Việt Nam, chưa thể buông lơi cái “hợp tác” đã lỡ, nên xuất hiện thêm một chữ “đấu tranh”. Người ta còn nhiều hồ nghi về mức độ của từ ngữ ấy, phần nào như một lời gượng ép. Nó là lời thật hay lời giả để đối phó? Đặc biệt đã kèm theo một thề thốt đáng lẽ không nên: “dù mưa bão… mãi mãi là láng giềng”. Khó ai đi hiểu chữ “láng giềng” với ý nghĩa thuần túy về địa lý.

Kiều đã trải qua một đoạn đường dài trồi sụt của niềm tin trong nỗi đắng cay, từ Mã Giám Sinh, Sở Khanh, các loại Tú Bà, Thúc Sinh, đến Từ Hải, và đã cho thấy Kiều chưa từng không hợp tác, chưa từng không đấu tranh, để rồi kết thúc niềm tin, lần cuối cùng và cũng triệt để, bởi sự kiện Hồ Tôn Hiến. Cũng như Thúy Kiều, trong cuộc trần ai mà Đảng trải qua về mặt sinh lý và lý trí, cũng không thiếu nổi trồi sụt những cơn đau âm thầm và những cơn hưng phấn mây mưa. Cơ thể Đảng hẳn nhiên là không đồng bộ. Thủ tướng Dũng đã nói lên tiếng “đấu tranh” có phải là tiếng nói của 16 ủy viên Bộ Chính trị hay 1/16 Bộ Chính trị, hay chỉ là tiếng rên nhất thời lúc cố cựa mình trong một cơn mê? Mà cho dù đủ 16, thì cũng chưa đủ là niềm tin của nhân dân.

“Thiện căn” của Đảng phải nằm ở ý muốn và ý chí của toàn dân. Hợp tác trên cơ sở nào, và đấu tranh trên cơ sở nào, nếu không phải trên nền tảng của một thể chế dân chủ mà tiếng nói và sức mạnh của nhân dân được thể hiện minh bạch và đầy đủ? Hợp tác trong âm thầm và đấu tranh cũng trong âm thầm, thông qua những tay áp phe và dắt mối, là cách thế riêng của Kiều, chứ không thể là cách riêng của Đảng, nếu Đảng là đại biểu của nhân dân? Là điều mà cựu Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An nói bóng gió theo cách nể nang e thẹn là “lỗi hệ thống”, nói trắng ra là cái hỏng hóc nằm ở toàn bộ thể chế chính trị? Nguyên cớ từ một thằng bán tơ (với Kiều), rồi dẫn đến Chủ nghĩa Mác-Lênin (với Đảng Cộng sản Việt Nam), chính là sự ngã giá phỉnh phờ đầu tiên mà Mã Giám Sinh đã lừa được Kiều trong cơn hoạn nạn, và cũng bắt đầu từ đó, cuộc phiêu bạt lãng phí máu xương của Đảng và Nhân dân tiếp diễn. Thời gian đằng đẵng những 70 năm, nhân cho nhiều thế hệ, mà mỗi thế hệ bình quân nhân cho 15 năm Thúy Kiều! Nước mắt nhiều như nước sông Hằng trong kinh Phật, vẫn tiếp tục chảy.

Nàng Kiều đã hồi phục “thiện căn” sau một lần tắm gội kỹ càng ở sông Tiền, nhưng với Đảng Cộng sản Việt Nam thì cuộc tắm rửa chưa đồng bộ, mỗi bộ phận trong cơ thể đang vận hành trong tình thế phân liệt, chập chờn giữa tỉnh giữa mê. Vừa hợp tác vừa đấu tranh, vừa đau thương vừa sảng khoái. Gươm đàn nửa gánh non sông mấy chèo!

Những tay anh hùng giai cấp, nhân danh nghèo khó và ra đi từ nghèo khó, nay trở về trong thênh thang lâu đài dinh thự, hãnh tiến và hiên ngang giữa xóm nghèo, họ ngâm vang chứ chẳng cần phải “ca len lén bài ca nửa thú vật nửa thiên thần” như lời của Mác chỉ trích tôn giáo!

Những đứa con đi hoang hãy trở về, nhưng không phải về với tư cách ấy.

Trở về trong “hoành tráng” !

Thi hào Nguyễn Du nói:

Thiện căn ở tại lòng ta
 Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài”.

“Thiện căn” của một dân tộc nằm ở chỗ Độc Lập, không lệ thuộc, dù nước có nhỏ như một hòn đảo Singapore, hay chưa tiến bộ như Campuchia, như Lào, như Myanmar… Cái tâm chưa chuyển đổi, cái tài cũng như vứt xuống sông. Ngôn ngữ nhảy múa. Có những lời không đáng nghe, lại có những lời đáng nghe mà không đáng tin. Đấu tranh phải chăng là loại ngôn ngữ phấn son của hợp tác? Nó che giấu cái phần hợp tác bất chính ngoài ý muốn của một đời Kiều? Vì sao có Bauxite Tân Rai, có Vũng Áng, có “Hải Vân quan”, có Ải Nam quan, có thác Bản Giốc, có thỏa thuận bí mật Thành Đô, v.v.? Sự thỏa hiệp mơ hồ của niềm tin hợp tác phảng phất nơi Thúy Kiều hãy còn đó với Sở Khanh, Mã Giám Sinh, Thúc Sinh. Chưa dám dấn thân với Từ Hải thì chưa có điều kiện để đến bước giác ngộ ở sông Tiền.

Phương châm của Thủ tướng Dũng đưa ra “vừa hợp tác, vừa đấu tranh” thoạt nghe có chút phân vân về sự lưỡng tính, mà thêm “mãi mãi là láng giềng” như vỡ ra một tình thế lưỡng nan, từa tựa như sự quay đầu; hoặc, xét cho cùng dù ngôn ngữ có vẻ tân kỳ, bay bướm hơn đôi chút, nhưng không khác mấy với phương châm “đánh chuột không để vỡ bình” của ông Tổng Bí thư Trọng, dù ý tưởng của ông Dũng ở phạm vi rộng lớn hơn là trong cõi chén bát bình lọ.

Hóa ra lại như nhau???

Hợp tác trong “bình đẳng”!

Sông Tiền Đường phải là biểu trưng sự kết thúc một nhân sinh quan yếm thế, một ý thức hệ lạc hậu. Nỗi trầm luân của Vương Thúy Kiều chưa đến đoạn cuối. (25-11-2014)

Trích Dân Luận điểm tin: – Trung Quốc ăn gạo Việt Nam nhiều nhất (Pháp luật): Theo báo cáo mới nhất của Bộ NN&PTNT, thị trường lớn nhất của mặt hàng gạo tính đến nay vẫn là Trung Quốc với 31% thị phần.

Bạo động tại TQ không giảm dù bị đàn áp (RFA tiếng Việt): 10 triệu người Duy Ngô Nhĩ hiện sinh sống tại Tân Cương và phụ cận đang thổi bùng các cuộc bạo loạn chống lại chính quyền do Trung Quốc áp đặt lên họ. Hàng trăm người bị giết hàng ngàn người bị giam trong các trại tù khắc nghiệt không thể là nỗ lực nhằm giảm thiểu bạo lực do chính quyền muốn đưa ra. – 2 nhà tranh đấu nhân quyền TQ ra tòa về tội ‘phá rối trật tự công cộng’ (VOA tiếng Việt): Hai nhà tranh đấu nhân quyền Trung Quốc hôm nay bị đưa ra tòa xét xử về tội gọi là “phá rối trật tự công cộng”, trở thành những nhân vật bất đồng chính kiến mới nhất bị Bắc Kinh truy tố.

Bức tranh lớn và bức tranh nhỏ

GS Nguyễn Văn Tuấn (Basam) – Tôi có quen một anh bạn trẻ, là bác sĩ và làm sếp trong một công ti dược đa quốc gia. Điều tôi quí anh là khác với các bạn trẻ khác hay chạy theo những thị hiếu tầm thường, anh là người sâu lắng, có trăn trở với thời cuộc, nói năng có suy nghĩ kĩ, và trung thành với dân tộc và đất nước (chứ không phải với cái chủ nghĩa lỗi thời kia). Thoạt đầu, tôi rất ngạc nhiên một người lớn lên sau 1980 mà có trăn trở như thế, nhưng sau này tôi hiểu vì em xuất thân từ một gia đình trung lưu ở Sài Gòn thời trước 1975. Có lần anh khuyên tôi: Thầy đừng nhìn VN như là một bức tranh lớn, vì bức tranh đó ảm đạm lắm, chẳng thấy tương lai đâu cả, và thầy sẽ thấy bi quan lắm; thầy cứ tập trung vào bức tranh nhỏ, chẳng hạn như giúp tụi em nè, và thầy sẽ thấy vui hơn. Câu nói này ám ảnh và đeo đuổi tôi cho đến ngày nay, và nó có khi trở thành phương châm của tôi khi làm việc liên quan đến VN.

Nếu nhìn từ xa và nhìn chung, VN quả thật là một bức tranh ảm đạm. An ninh đất nước bị đe doạ bởi các tên diều hâu phương Bắc. Biển đảo bị xâm lấn hầu như hàng ngày. Tình hình phát triển kinh tế bị trì trệ, môi trường kinh doanh không được đánh giá cao, nợ nần chồng chất và có nguy cơ vỡ nợ. Giáo dục thì là câu chuyện muôn đời không có lối ra, khi cái vòng kim cô còn treo lơ lửng trên đầu. Chất lượng đào tạo sút kém, từ bậc phổ thông đến đại học và càng lên cao chất lượng càng yếu. Y tế và chăm sóc sức khoẻ thì được xếp hạng gần chót trên thế giới, bệnh dịch lúc nào cũng trực chờ xảy ra ở qui mô lớn. Về khoa học thì hoạt động nghiên cứu và ứng dụng KH&CN ở Việt Nam còn mờ nhạt: hoạt động nghiên cứu KH&CN có chất lượng thấp và KH&CN chưa có những đóng góp xứng đáng cho sự phát triển đất nước. Vân vân. Nhìn đâu cũng thấy toàn là … màu xám.

Nhưng quan trọng nhất có lẽ là văn hóa, đạo đức xã hội đang suy thoái trầm trọng. Chưa khi nào tin tức về tệ nạn xã hội lại có mật độ dày đặc như hiện nay. Dường như, cái xấu và cái ác đang hoành hành ngoài xã hội và tràn lên mặt báo mỗi ngày. Kỉ cương, phép nước bị coi thường. Mê tín dị đoan lên ngôi, không chỉ ở tầng lớp đại chúng mà ngay ở cả một số cán bộ cao cấp ở các cơ quan công quyền. Những chuẩn mực về văn hóa, những giá trị phổ quát như chân-thiện-mĩ đã bị sự giả dối, cái xấu và cái ác bóp nghẹt không nhân nhượng. Chưa bao giờ, nhân phẩm của con người có thể bị xúc phạm dễ dàng và tính mạng của con người có thể bị coi rẻ như hiện nay. Suy thoái kinh tế – xã hội thì còn có thể vực dậy trong vài năm, nhưng suy đồi về văn hoá và đạo đức xã hội thì chắc cần đến vài thế hệ để khôi phục.

Với một bức tranh lớn ảm đạm như thế thì người có trăn trở không bi quan mới là chuyện lạ. Chẳng những bi quan mà còn cảm thấy bất lực, vì họ chẳng làm được gì để cải thiện tình thế. Bạn và tôi không thể làm gì cả vì không ở trong “hệ thống”. Mà, dù có ở trong hệ thống thì cũng chưa chắc làm được gì. Chỉ có thể lên tiếng, nhưng có khi lên tiếng lại mang hoạ vào thân. Nói chung là chỉ biết than thở riêng tư, chứ chẳng gây được tác động gì to tát. Do đó, có nhiều người thắc mắc hỏi tôi là sao tôi viết toàn những “negative” về tình hình VN, nhưng khi làm việc gì cho VN thì tôi rất “positive”, rất tích cực; có gì mâu thuẫn chăng?

Thật ra thì chẳng có gì mâu thuẫn cả. Tôi theo lời khuyên của anh bạn trẻ ở trên, tức là dù nhìn vào bức tranh lớn thì thấy ảm đạm, nhưng tôi tìm niềm vui trong những bức tranh nhỏ. Thật vậy, tôi nghĩ mỗi chúng ta cũng có thể làm những việc nhỏ để cải thiện tình thế. Nói như anh bạn tôi là nhìn vào bức tranh nhỏ và làm đẹp bức tranh đó. Nếu nhiều người cùng làm những việc nhỏ mà khả năng cá nhân cho phép, thì tập hợp những việc nhỏ đó sẽ có khả năng gây tác động lớn và tích cực hơn. Lấy ví dụ như viết sách, đó là một việc rất nhỏ. Nhưng tôi thấy mình vui khi ngồi rị mọ viết những dòng chữ hướng dẫn phân tích cái này, vẽ cái kia, vì tôi biết có nhiều bạn sẽ học được một hai điều có ích từ đó. Nếu nhiều người cùng viết ra những kinh nghiệm của mình thì tập hợp lại sẽ là một bộ sách rất có ích cho nhiều thế hệ, và thế là chất lượng giáo dục – y tế sẽ tốt hơn. Bắt đầu từ việc làm đẹp những bức tranh nhỏ thì kết quả là bức tranh lớn sẽ đẹp hơn. Hình như ai đó có nói rằng [và tôi rất đồng cảm] thay vì nguyền rủa bóng tối thì nên thấp lên một que diêm.

Thôi, cũng đành như chiếc que diêm
Một lần loé lên
Thắp đời em sáng lung linh
Buồn một cõi riêng

(Từ Công Phụng)

[Thà thắp lên một ngọn nến bé nhỏ còn hơn là nguyền rủa bóng đêm. Thà đốt lên một que diêm còn hơn ngồi rên rỉ trong bóng tối…]

Advertisements
Comments
  1. vivi099 says:

    lừa đảo nhiều quá cũng nhàm.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.