Quan hệ bình đẳng với TQ chỉ là ‘sáo ngữ’?

Posted: January 19, 2015 in Uncategorized
Tags: ,

(BBC) – Tuyên bố nhấn mạnh quan hệ Việt – Trung phải dựa trên cơ sở ‘bình đẳng, cùng có lợi’ chỉ là một câu nói ‘sáo ngữ’ của Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Việt Nam trong dịp hai nước đánh dấu 65 năm thành lập bang giao chính thức, theo ý kiến của nhà quan sát từ trong nước.

� Xem thêm: 65 năm bang giao Trung-Việt!!! + Trung Quốc công bố có toàn quyền xây đảo nhân tạo ở Trường Sa


Ông Phạm Bình Minh trong lần tiếp đón và gặp lại
ông Dương Khiết Trì vào ngày 27/10/2014 ở Hà Nội.

Trao đổi với Bàn tròn Trực tuyến (Hangout) cuối tuần của BBC hôm 18/01/2015, Tiến sỹ Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội nhà báo Độc lập Việt Nam từ Sài Gòn cho rằng đã hơn một lần ông Phạm Bình Minh sử dụng ‘sáo ngữ’ này, kể cả trong thời điểm vụ Giàn khoan HD-981 năm ngoái trên Biển Đông.

TS. Dũng nói: “Ngay vào thời điểm đó cũng đã nêu lại vấn đề bình đẳng, cùng có lợi trong quan hệ giữa hai nước. Đó thực ra nó giống như một câu sáo ngữ ở trong bài tuyên bố của ông Phạm Bình Minh.

“Và chúng tôi thử hỏi là bây giờ một Phó Thủ tướng phụ trách về ngoại giao như vậy và năm nào cũng lặp lại sáo ngữ như vậy trong một bối cảnh mà thực ra mọi chuyện nó đang hoàn toàn khác.

“Tức là vào năm 2014 thì xảy ra vụ (Giàn khoan) Hải Dương 981 và dường như bài tuyên bố của ông Phạm Bình Minh, chúng tôi có cảm giác như ông đã quên đi khá nhanh sự kiện Hải Dương 981.


BBCquote
Những tuyên bố của ông Phạm Bình Minh, tôi có cảm giác nó chỉ như là sáo ngữ, mang tính chất ngoại giao thôi, dường như ông đã quên đi khá nhanh sự kiện Hải Dương 981
Tiến sỹ Phạm Chí Dũng

“Sự kiện đó là một sự gây hấn có thể nói ở mức độ khá cao của người Trung Quốc và nó cho thấy, nó báo một điềm không lành rằng những năm tới Trung Quốc sẽ không bình đẳng với Việt Nam về vấn đề ngoại giao và đặc biệt về vấn đề Biển Đông.

“Cho nên những tuyên bố của ông Phạm Bình Minh, tôi có cảm giác nó chỉ như là sáo ngữ thôi, nó chỉ mang tính chất ngoại giao thôi, dường như ông đã quên đi khá nhanh sự kiện Hải Dương 981 và nó cũng khá tương phản với những điều người ta tương phản về ông là ‘là đôi mắt hình viên đạn’ mà ông đã nhìn Ủy viên Quốc vụ viện Dương Khiết Trì trong chuyến đi của Dương Khiết Trì tới Hà Nội trong năm vừa rồi.”

‘Quan hệ nay đã khác’

Từ Hong Kong, Phó Giáo sư Jonathan London, nhà quan sát tình hình Việt Nam từ Đại học Thành thị Hong Kong cho rằng trong quan hệ bang giao chính thức Việt – Trung mấy thập niên qua có thể có nhiều ‘dịp’ khác nhau để đánh dấu.

Ông nói: “Tôi nghĩ rằng với một lịch sử dài giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc, chúng ta có thể lựa chọn rất nhiều kỷ niệm khác nhau, việc kỷ niệm 65 năm thành lập quan hệ chính thức cũng là một cơ hội.

“Nhưng cũng có nhiều ngày khác nhau và ý nghĩa của mỗi ngày cũng khác nhau… Vào dịp này kỷ niệm 65 năm là một cơ hội cho đại diện của hai nước gặp nhau và nhấn mạnh để nâng cao tình hữu nghị.


Quan hệ Việt – Trung trong năm 2014 đã trải qua những thăng trầm, theo các nhà quan sát.

“Nhưng như đã biết, trong vòng một năm vừa rồi đã có những biến đổi quan trọng trong quan hệ giữa hai nước mà hiện nay dù cả hai chính phủ cùng hai đảng, hai nhà nước vẫn đang điều chỉnh tầm nhìn của họ, rõ ràng quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc đã bước vào một giai đoạn mới…

“Nhưng rõ ràng quan hệ Trung Quốc và Việt Nam hiện nay khác hẳn so với chỉ gần đây một, hai năm, nên tôi chấp nhận là dịp này cũng có một ý nghĩa cụ thể của nó, nhưng mà không thể hiểu ở ngoài bối cảnh ở lớn hơn – cụ thể là những căng thẳng trên biển trong năm vừa rồi.”

Hôm Chủ Nhật, nhiều báo Việt Nam dẫn lời của Phó Thủ tướng Việt Nam, ông Phạm Bình Minh, Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Ngoại giao nói về 65 năm quan hệ ngoại giao chính thức Việt – Trung.


BBCquote
Tôi chấp nhận là dịp này cũng có một ý nghĩa cụ thể của nó, nhưng mà không thể hiểu ở ngoài bối cảnh ở lớn hơn – cụ thể là những căng thẳng trên biển trong năm vừa rồi
Phó Giáo sư Jonathan London

“Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Trung Quốc, mong muốn quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung ngày càng phát triển, đi vào chiều sâu, ổn định, bền vững trong bối cảnh trên thế giới đang đầy rẫy các bất ổn và mọi con mắt đang hướng và đặt nhiều kỳ vọng vào châu Á,” ông Minh được truyền thông Việt Nam trích lời nói.

“65 năm qua, quan hệ giữa hai nước tuy có trải qua thăng trầm nhưng ngày càng phát triển”, bài viết đánh dấu sự kiện hơn sáu thập niên bang giao chính thức giữa hai quốc gia láng giềng cùng theo thể chế cộng sản của Phó Thủ tướng, Ngoại trưởng Việt Nam nhận định.

‘Bình đẳng và nhập siêu’

Bình luận với Bàn tròn Cuối tuần của BBC hôm 18/01/2015 về bài phát biểu này, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phản biển Độc lập (IDS – đã tự giải thể) nói:

“Tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bất kể chính phủ nào chăng nữa, thậm chí ngay cả đến trong tương lai nếu mà có một chính phủ không phải là cộng sản đi chăng nữa, thì vẫn phải giữ một quan hệ hữu nghị với Trung Quốc.

“Cái đấy là một điều hiển nhiên và tôi nghĩ rằng Phó Thủ tướng Phạm Bình Minh đặt vấn đề như thế là dễ hiểu, ông nhấn mạnh mối quan hệ phải trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi, điểm đó cũng phản ánh sự thay đổi như là ông Jonathan London vừa nói.


Hiện chưa rõ liệu năm 2015 trên Biển Đông có giảm bớt căng thẳng, đối đầu hay không.

“Tuy nhiên mình sẽ cố gắng bình đẳng hết sức có thể, nhưng tôi nghĩ rằng trong quan hệ quốc tế, giữa các nước với nhau, mình cố gắng đạt được cái gọi là bình đẳng theo một cái nghĩa nào đấy.

“Nhưng trên thực tế không có một sự bình đẳng thực sự, bởi vì có những nước lớn, nhỏ, có những nước có trọng lượng, có những nước trọng lượng lớn, trọng lượng bé, xét một khía cạnh nào đó, đòi hỏi về bình đẳng là một sự cố gắng để phấn đấu, còn trong thực tế, tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa các nước với nhau, từ trước tới nay, từ nay về sau cũng không bao giờ có một cái gọi thật là bình đẳng cả đâu,” Tiến sỹ Quang A nói.

Hôm Chủ Nhật, một số tờ báo và truyền thông chính thống của Việt Nam cũng sử dụng từ ‘thăng trầm’ để nói về quan hệ 65 năm giữa hai quốc gia.


BBCquote
Tôi nghĩ rằng trong quan hệ giữa Việt Nam và Trung Quốc, bất kể chính phủ nào chăng nữa, thậm chí ngay cả đến trong tương lai nếu mà có một chính phủ không phải là cộng sản đi chăng nữa, thì vẫn phải giữ một quan hệ hữu nghị với Trung Quốc
TS. Nguyễn Quang A

Bình luận riêng về khía cạnh có bình đẳng hay không trong quan hệ thương mại, mậu dịch giữa hai nước, ông Phạm Chí Dũng, người có bằng Tiến sỹ kinh tế, nói với Bàn tròn trực tuyến của BBC:

“Một sự bất bình đẳng thứ hai mà có thể chứng minh được, mà chúng ta có thể nói, đó là sự bất bình đẳng về mặt kinh tế, thì làm sao có thể nói là bình đẳng khi mà Việt Nam nhập siêu một năm tới 24-25 tỷ đô-la từ Trung Quốc, mà không có một cách nào có thể khắc phục được,” ông Dũng nói.

Cũng hôm Chủ Nhật, tờ Vnexpress đưa ra con số trong đó nói Việt Nam nhập khẩu từ Trung Quốc 36,95 tỷ USD, trong khi xuất khẩu sang Trung Quốc thu được 13.25 tỷ USD từ nước láng giềng phía Bắc trong riêng năm 2013.

Một số mặt hàng chính mà Việt Nam xuất sang Trung Quốc là nhiên liệu, nguyên liệu thô, nông sản, thủy sản và đồ thủ công mỹ nghệ, trong khi các mặt hàng chính Trung Quốc xuất vào Việt Nam là máy móc, thiết bị phụ tùng, hàng tiêu dùng, nhiên liệu (như xăng) và các hàng hóa tiêu dùng v.v…

65 năm bang giao Trung-Việt!!!

Ban Biên Tập TDNL (15.01.2015 số 211) – Hôm 14-1, sứ quán Việt cộng bên Tàu đã tổ chức họp báo về việc kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt–Trung (18/1/1950-18/1/2015). Theo đại sứ Nguyễn Văn Thơ, đây là dịp quan trọng để hai nước nâng cao hơn nữa mối “quan hệ hữu nghị truyền thống” và “hợp tác chiến lược toàn diện”. Lý do: Trung Quốc vừa là láng giềng lớn, vừa là nước cùng chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa là đối tác quan trọng hàng đầu của Việt Nam!

Phản ảnh Cam kết hợp tác toàn diện tháng 2-2011, Nguyễn Văn Thơ nói: “Đảng, Chính phủ và nhân dân VN trước sau như một luôn xem trọng việc phát triển quan hệ mọi mặt với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu, nhất quán và lâu dài trong chính sách đối ngoại của VN”. Đại diện Hà Nội nêu rõ: hai nước cần (1) tăng cường các cuộc tiếp xúc, thăm viếng cấp cao cũng như giao lưu giữa các bộ ngành và địa phương, đặc biệt thế hệ trẻ, nhằm củng cố niềm tin chính trị và niềm tin chiến lược; (2) tiếp tục thúc đẩy hợp tác kinh tế thương mại, sớm thành lập hai nhóm công tác về cơ sở hạ tầng và tiền tệ; (3) tiếp tục giải quyết vấn đề Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng lợi ích song phương và luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); (4) tăng cường tuyên truyền về tình hữu nghị, sự hiểu biết và mối quan hệ giữa hai dân tộc, nhất là cho giới trẻ”. (Theo Thông tấn xã VN 14-01-2015). Thiệt là trong lịch sử bang giao giữa các quốc gia và dân tộc tự cổ chí kim, từ đông sang tây, nhất là trong mấy ngàn năm Việt sử, chưa hề có mối quan hệ thắm thiết, sâu sắc, toàn diện như vậy!?!

Để chuẩn bị cho tinh thần này, ngày 27-12-2014, Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ/VN -Nguyễn Thiện Nhân- và Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Hội nghị Hiệp thương chính trị TQ -Du Chính Thanh- đã cùng khai trương “Học viện Khổng Tử”, một cơ quan tuyên truyền cho Tàu cộng. Sau đó, tại “hội nghị của Chính phủ với địa phương triển khai Nghị quyết của Quốc hội về nhiệm vụ kinh tế – xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước năm 2015” ngày 29-12, bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh đã khẳng định: “Tôi thấy lo lắng lắm, không biết tuyên truyền thế nào, chứ từ trẻ con đến người già có xu thế ghét Trung Quốc. Ai nói tích cực cho Trung Quốc là ngại. Tôi cho rằng, cái đó là nguy hiểm cho dân tộc”.

Nhân kỷ niệm 65 năm bang giao Trung-Việt, hãy thử nhìn lại mối quan hệ giữa hai lân bang này, mà đúng hơn là giữa hai cộng đảng. Một mối quan hệ luôn thể hiện trong ý đồ xâm lăng, kiểu cách “cá lớn nuốt cá bé” như từng chứng kiến trong lịch sử các quốc gia CS: Nga đối với các tiểu quốc Liên bang Xô viết, Liên Xô đối với các nước Đông Âu, và Tàu cộng đối với các nước châu Á cộng sản.

Ngày 13-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao VN, Hoàng Minh Giám, rồi ngày 18-1-1950, Bộ trưởng Ngoại giao TQ, Chu Ân Lai thay mặt chính phủ hai nước gửi công hàm công nhận lẫn nhau và đề nghị thiết lập quan hệ, từ đó ngày 18-1 được coi là ngày kỷ niệm chung. Nhưng cũng chính từ hôm này, mộng xâm lăng bành trướng muôn thuở của Đại Hán “tiến lên một tầm cao mới”. Lợi dụng sự viện trợ quân sự to lớn để giúp Hà Nội đánh Pháp rồi đánh Mỹ, mà thực chất là đánh phe quốc gia và chế độ tư bản, lợi dụng lòng tin tưởng mù quáng của Hồ Chí Minh và đảng Việt cộng vào tình đồng chí vô sản (hay là niềm tín thác sáng suốt của tên Tàu đội lốt Việt Hồ Tập Chương), lợi dụng sự ngu dốt về lịch sử chống giặc của tiền nhân và sự coi thường khí phách kháng Tàu của dân tộc, Mao Trạch Đông đã phá vỡ Ải Nam Quan, tiền đồn chốt chặn ngàn đời của nước Việt để không những đem lực lượng quân sự mà cả lực lượng chính trị, kinh tế, văn hóa ngõ hầu xâm lược Việt Nam, biến nó lại thành An Nam, và xa hơn là thành tỉnh Âu Lạc.

Bước xâm lược đầu tiên thể hiện qua cuộc Cải cách ruộng đất tiến hành theo đường lối Tàu và dưới sự chỉ đạo của Tàu, vừa nhằm tước đoạt đất đai cho cộng đảng, vừa nhằm phá vỡ cơ cấu xã hội và đạo đức dân tộc, vừa nhắm làm kiệt quệ kinh tế của Hà Nội để phải nhận sự viện trợ của Bắc Kinh trong cuộc chiến mở xuống phía Nam chủ nghĩa CS. Tiếp đến là thể hiện qua cuộc Trăm hoa đua nở theo tinh thần “Bách gia tranh minh” của Trung Nam Hải, vừa nhằm mục đích cải biến trí thức thành “cục phân” (vì mù quáng thần phục đảng) vừa nhằm mục đích tiêu diệt văn hóa Việt để văn hóa Tàu dễ tràn vào.

Cuộc thống trị kiểu “cá lớn nuốt cá bé” tiến thêm một bước với công hàm Phạm Văn Đồng năm 1958 nhằm tước bỏ chủ quyền nước Việt trên Hoàng Sa lẫn Trường Sa để giao cho kẻ ngoại thù mà cả mấy ngàn năm, biên giới phía Nam chỉ đến Hải Nam đảo. Giao cho chúng ngõ hầu được chúng viện trợ quân trang, quân dụng và cả quân đội để tàn phá chính đất nước của Tổ tiên (“dẫu đốt cả dãy Trường Sơn” như HCM từng nói), tàn sát chính đồng bào cùng huyết tộc (“đánh Mỹ cho tới người Việt cuối cùng vì Trung Quốc” như Lê Duẩn từng khẳng định). Cuộc chiến tranh tương tàn càng kéo dài bao lâu thì cuộc xâm lăng của Trung Nam Hải càng tiến sâu chừng ấy.

Đến năm 1974, khi Tàu cộng ngang nhiên xâm chiếm Hoàng Sa của đất nước, phá vỡ cuộc kháng cự anh dũng của VNCH, vào chính ngày kỷ niệm bang giao Trung-Việt (18-01), thì như để đánh dấu tình hữu nghị răng môi, tình đồng chí vô sản, Hà Nội hí hửng tuyên bố: “Thà để Hoàng Sa thuộc Trung Quốc hơn là thuộc Ngụy Sài Gòn. Bạn giữ cho ta rồi có ngày sẽ trao lại”?!? Xâm lăng VNCH xong, Hà Nội bắt đầu bị Bắc Kinh đòi nợ chiến phí. Khốn nạn một điều là Trung Nam Hải không đòi tiền (mà có đòi thì Ba Đình chẳng biết lấy đâu đủ để trả) cho bằng đòi dâng đất, một điều mà vua chúa Việt chưa từng làm trong lịch sử, thậm chí còn cấm đoán với lời răn đe tru di tam tộc (Trần Nhân Tông). Nhưng Việt cộng thì cần gì biết tinh thần lẫn giáo huấn đó, nên năm 1988, lúc Tàu cộng chiếm thêm Gạc Ma thuộc Trường Sa quần đảo, chính tên bộ trưởng quốc phòng thân Tàu là Lê Đức Anh đã cấm binh sĩ kháng cự, coi chúng như kẻ thù, thậm chí Bộ Chính trị sau đó còn cấm loan tin (rồi sẽ nhiều lần cấm tưởng niệm), khiến cho 64 chiến sĩ hải quân mãi mãi là những oan hồn tức tưởi vì bị hy sinh cho thứ tình hữu nghị không ai hiểu nổi!

Sau khi mất chỗ dựa vật chất và tinh thần từ anh cả Liên Xô và khối Đông Âu cộng sản, Hà Nội lại chạy sang Bắc Kinh mà mình từng coi là kẻ thù kể từ cuộc chiến biên giới 1979, để khấu đầu tạ tội, tái nhận giặc làm cha, xin nối lại mối bang giao, tình hữu nghị (1990). Thế là Tàu cộng lợi dụng cơ hội để biến quan hệ đồng chí anh em thành quan hệ chủ tớ, đại quốc chư hầu. Tại Hội nghị Thành Đô, các tên cáo già Giang Trạch Dân và Lý Bằng đã ra oai trước những chú cừu non Đỗ Mười, Nguyễn Văn Linh, Phạm Văn Đồng và biến ba tên này thành đám đồng lõa, tay sai cho cuộc xâm lấn ngày càng sâu rộng, tặng cho Hà Nội vòng kim cô 16 chữ vàng ngày càng siết chặt đầu dân Việt và bảng mật ước ghê gớm ngày càng ngoạm dần đất Việt (xem dưới).

Và đó là Hiệp ước phân định biên giới năm 1999 nuốt trọn Ải Nam Quan, 2/3 thác Bản Giốc, gần 1000 km2 đất liền; Hiệp ước phân định lãnh hải năm 2000 triều cống cho Tàu trên dưới 10.000 km2 vịnh Bắc bộ; Tuyên bố Việt-Trung năm 2001 rồi 2008 (do Nông Đức Mạnh) cho Tàu cộng vào yếu huyệt Tây Nguyên di dân, ém quân, cấy người qua vỏ bọc khai thác bauxite. Tuyên bố tai hại này được Nguyễn Tấn Dũng biến thành hiện thực qua Quyết định số 167 ngày 01-11-2007, cho phép các nhà thầu TQ thực hiện dự án kéo dài từ 2007 đến 2025. Và đó là việc để cho thường dân Tàu đi vào VN sinh sống, lập làng xã, xây phố thị từ Nam chí Bắc; để cho thương lái Tàu đi vào VN lường gạt nông dân, phá hoại nông nghiệp khắp nơi mọi chốn; cho chuyên gia Tàu đi vào VN trúng thầu đến 90% các công trình xây dựng cơ bản (đường, điện); cho doanh nhân Tàu thao túng nền kinh tế tụt hậu và giết chết các công ty xí nghiệp èo uột của dân Việt.

Trên mặt chính trị và văn hóa, Tàu cộng không ngừng khống chế Việt cộng, lèo lái Bộ chính trị, xâm nhập Trung ương đảng để thảo ra Cam kết hợp tác toàn diện tháng 2-2011; đẻ ra nhiều kế hoạch làm lợi kẻ thù như cho Tàu cộng thuê mấy trăm ngàn hecta rừng quốc phòng, nhiều vị trí chiến lược như Vũng Áng, Cửa Việt, Hải Vân, Cam Ranh; tạo ra nhiều nội ứng cho giặc như phó thủ tướng gốc Tàu Hoàng Trung Hải; tung ra những đòn tàn bạo trấn áp các cuộc xuống đường chống Tàu, những đòn bắt bớ kết tội các công dân lên tiếng tố Tàu; soạn ra những sách vở, tài liệu làm nhân dân quên đi hiểm họa Tàu trong quá khứ lẫn hiện tại; và gần đây nhất là lập ra viện Khổng Tử (đang lúc trên thế giới ngày càng xóa sổ nó) để tuyên truyền cho chính sách Tàu.

Để kết luận về những gì được mất sau 65 năm bang giao Trung-Việt, tưởng không có gì hơn là nhắc đến bài viết mới đây của đại tá Phạm Quế Dương, “VN sẽ là Quốc gia tự trị hay là một tỉnh của TQ?”. Trong bài này, vị sĩ quan phản tỉnh viết: theo tài liệu được tiết lộ bởi Thiếu tướng Hà Thành Châu, Chính ủy Tổng cục công nghiệp Quốc phòng, tỵ nạn chính trị tại Hoa Kỳ từ ngày 08-4-2013, phải chăng tại cuộc họp tại Thành Đô năm 1990, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã khấu đầu trước Đặng Tiểu Bình: “Nhờ TQ mà Đảng CSVN mới nắm được chính quyền, mới thắng được đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ, diệt được bọn tư bản phản động. Công ơn TQ to lắm, bốn biển gộp lại cũng không bằng. Do thế, nhà nước VN đề nghị TQ bỏ qua hiểu lầm, xóa bỏ các bất đồng đã qua. Phía VN sẽ làm hết sức mình để vun bồi tình hữu nghị lâu đời vốn sẵn có giữa hai đảng do Mao Chủ Tịch và Hồ Chủ tịch dày công xây dựng trong quá khứ. VN sẽ tuân thủ đề nghị của TQ là cho VN được hưởng “Quy chế tự trị trực thuộc chính quyền trung ương Bắc Kinh” như TQ từng dành cho Nội Mông, Tây Tạng,Tân Cương, Quảng Tây”. Phải chăng có kế hoạch sáp nhập VN vào TQ dự kiến qua ba giai đoạn : Giai đoạn 1: 15-7-2020: Quốc gia tự trị; Giai đoạn 2: 05-7-2040: Quốc gia thuộc trị; Giai đoạn 3: 05-7-2060: Tỉnh Âu Lạc.

Phải chăng đó sẽ là thành quả bang giao Trung-Việt được làm nên bởi những kẻ cũng da vàng máu đỏ, cũng con Hồng cháu Lạc, nhưng chưa bao giờ có ý thức quốc gia, tự hào dân tộc và tình nghĩa đồng bào? Hỡi quốc dân đất Việt, còn đợi gì nữa?

Ban Biên Tập (số 211 ngày 15-1-2015)

Tổng quan 65 năm quan hệ Việt – Trung qua những con số (VnExpress): Trải qua nhiều thăng trầm kể từ khi Việt Nam và Trung Quốc chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao ngày 18/1/1950, hiện hai nước láng giềng là đối tác thương mại, du lịch quan trọng của nhau. – Việt Nam luôn coi trọng quan hệ hợp tác bình đẳng với Trung Quốc (VnExpress): Gần 20 năm sau khi bình thường hóa quan hệ, Việt Nam và Trung Quốc đã giải quyết thành công 2 trong 3 vấn đề do lịch sử để lại hết sức phức tạp trong quan hệ hai nước, đó là hoàn thành toàn bộ công tác phân giới cắm mốc biên giới trên đất liền và phân định Vịnh Bắc Bộ.

Trung Quốc công bố có toàn quyền xây đảo nhân tạo ở Trường Sa

(RFA) – Tuần trước, Bộ Ngoại Giao Trung Quốc có nói rằng chính phủ Hoa Lục có toàn quyền thực hiện các dự án phát triển ở vùng biển đảo mà chủ quyền thuộc về họ, kể cả những dự án cải tạo, xây đảo nhân tạo mà Trung Quốc đang thực hiện ở Trường Sa.


Trung Quốc xây đảo nhân tạo trên quần đảo Trường sa đang tranh chấp giữa các nước.
Đá Chữ Thập đã thành căn cứ quân sự của Trung Quốc – Hennhausaigon.com

Từ cuối năm 2013, đã có tin nói rằng Trung Quốc gia tăng nỗ lực thực hiện các dự án cải tạo và xây đảo nhân tạo ở Biển Đông.

Đến tháng 11 năm ngoái, tuần báo chuyên về quốc phòng Jane’s của Anh Quốc cho phổ biến hình vệ tinh chụp được cho thấy Trung Quốc đang biến bãi đá Chữ Thập thành hòn đảo lớn nhất Trường Sa, xây dựng hải cảng để đón tầu chở dầu và chiến hạm, đồng thời đổ bê tông làm đường băng cho máy bay cất cánh và hạ cách.

Chính phủ Hoa Kỳ cũng lên tiếng bày tỏ quan tâm về những hoạt động mà Trung Quốc thực hiện ở Biển Đông, kêu gọi Bắc Kinh ngưng ngay những hoạt động với mục đích phá vỡ hiện trạng, và nên thảo luận cùng các nước đang tranh chấp chủ quyền để tìm cách giải quyết vấn đề.

Advertisements
Comments
  1. vivi099 says:

    csVN là bộ phận bành trướng tiên phong của Trung Cộng

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s