Nói thật và nói sự thật

Posted: January 20, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Trọng Bình (Basam) Theo Viet-studies – Thời gian qua, có một thực tế mà ai cũng nhìn thấy là, trước một vấn đề nào đó (nhất là vấn đề liên quan đến đời tư của các lãnh đạo cấp cao hay thông tin về những vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia về biển đảo…) thì về phía các cơ quan truyền thông chính thống, đa phần chỉ cung cấp cho người dân ở mức độ “vừa phải” hay chủ yếu là “nói tránh”, “nói giảm” đi cái bản chất thật của những sự việc (ví như đồng chí X, Y, Z hay ngư dân của ta bị “tàu lạ” đâm chìm…).

� Xem thêm: Qua chuyện Nguyễn Bá Thanh đến lời ông Thủ tướng + Lạm bàn cuộc chiến về thông tin + Tốc độ internet VN gần “đội sổ” châu Á – Thái Bình Dương.

1. Có thể thấy sau những phát ngôn của Thủ tưởng Nguyễn Tấn Dũng về những vấn đề liên quan đến cơ chế kiểm soát và cung cấp thông tin trong thời đại công nghệ hiện nay thì gần như ngay lập tức nhiều cơ quan truyền thông, những người báo chuyên lẫn không chuyên đều tỏ ra vui mừng phấn chấn. Mới đây, báo Tuổi trẻ số ra ngày Chủ nhật, 18 tháng 1 cũng đã tổ chức một diễn đàn xung quanh vấn đề này [1]. Một lần nữa, hầu hết những người tham gia diễn đàn này đều đồng tình với quan điểm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước đó. Đặc biệt, mọi người đều nhất trí cho rằng việc kịp thời và công khai, minh bạch thông tin cho người dân về tất cả mọi vấn đề của đời sống xã hội là giải pháp quan trọng nhằm giành lại “trận địa thông tin” trong tình hình bùng phát thông tin trên các trang, mạng xã hội hiện nay.

Bây giờ chúng ta hãy thử đặt câu hỏi để xem đây có phải là một giải pháp tốt hay không? Câu hỏi là, giả sử trong trường hợp các cơ quan truyền thông chính thống đã chủ động cung cấp thông tin một cách kịp thời và minh bạch rồi nhưng nhân dân vẫn không tin thì sao? Hay người dân sau khi có thông tin từ các cơ quan truyền thông chính thống nhưng họ vẫn muốn tìm thông tin ở chỗ không chính thống như một cách để kiểm chứng mức độ chân thật của sự việc nào đó thì sao? Bởi nói cho cùng, việc hoài nghi hay không tin vào một thông tin liên quan đến một vấn đề, một sự kiện nào đó cũng là quyền của mỗi người dân và không ai hay một cơ chế nào có thể ngăn cấm họ.

2. Đặt câu hỏi mang tính phản biện như trên, người viết bài này muốn nhắc lại đây quan điểm của giáo sư Lê Ngọc Trà trong một bài viết cách đây gần 30 năm. Chính xác là năm 1988 – thời điểm được xem là lần “đổi mới tư duy thứ nhất” của Đảng những 80 của thế kỷ trước. Khi ấy, trên lĩnh vực văn hóa văn nghệ nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng, sau khi đã được Đảng “cởi trói”, Giáo sư Lê Ngọc Trà có nêu quan điểm rằng:

“Mặt khác phải thấy rằng nói thật và nói sự thật không phải bao giờ cũng là một. Có khi anh chân thành đấy nhưng vì nói một chiều, định hướng của anh sai nên thành ra chỉ nói được một nửa sự thật. Chẳng phải mấy chục năm qua phần đông nhà văn chúng ta cũng tin mình nói thật đó sao? Mà có lẽ đúng như vậy. Nhưng bây giờ thì trừ những người “yêu quá khứ” vì yêu mình ra, mấy ai nghĩ rằng văn học ta đã nói hết được sự thật?” [2].

Từ quan điểm trên của Giáo sư Lê Ngọc Trà có thể nói, sắp tới đây việc chủ động cung cấp thông tin kịp thời, chính xác và minh bạch cho người dân của các cơ quan truyền thông chính thống nước nhà thật ra chỉ mới đáp ứng được một nửa sự thật về một vấn đề, một sự kiện nào đó mà thôi. Nói cách khác, việc chủ động kịp thời và minh bạch thông tin về sự kiện nào đó của đất nước mới là “điều kiện cần” trong vấn đề xây dựng niềm tin đối với nhân dân của các cấp chính quyền và lãnh đạo Nhà nước. Vậy thì nửa sự thật còn lại nằm ở đâu? Hay cái “điều kiện đủ” ở đây là gì? Xin thưa đó là tâm thế và thái độ của người cung cấp thông tin hay chính xác hơn là tâm thế và thái độ của lãnh đạo Nhà nước và chính quyền đối với nhân dân trong việc cung cấp thông tin về những sự kiện liên quan đến hiện tình đất nước là như thế nào? Vấn đề này có thể nhìn nhận ở 3 phương diện quan trọng sau:

Một, thông tin được cung cấp có mang tính chia sẻ và sẵn sàng đối thoại với nhân dân để tìm sự đồng thuận hay chỉ nhằm mục ban phát trong sự áp đặt suy nghĩ và tư tưởng người dân; như một mệnh lệnh để thi hành và không cho phép người dân được quyền phản biện lại hay có cách nhìn khác, góc nhìn khác?

Hai, thông tin được cung cấp có thực sự nhằm phục vụ lợi ích của đại bộ phận công chúng và nhân dân hay chỉ phục vụ lợi ích cho một người hay nhóm người nào đó?

Ba, chỉ số và mức độ công khai, minh bạch của những sự kiện được cung cấp như thế nào, độ tin cậy của những vấn đề ra sao; đâu là những sự kiện mà người dân đương nhiên phải được chính quyền cung cấp (ngoài những vấn đề, những thông tin liên quan đến bí mật quân sự, bí mật quốc gia) để mà “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”…?

3. Thời gian qua, có một thực tế mà ai cũng nhìn thấy là, trước một vấn đề nào đó (nhất là vấn đề liên quan đến đời tư của các lãnh đạo cấp cao hay thông tin về những vấn đề liên quan đến chủ quyền quốc gia về biển đảo…) thì về phía các cơ quan truyền thông chính thống, đa phần chỉ cung cấp cho người dân ở mức độ “vừa phải” hay chủ yếu là “nói tránh”, “nói giảm” đi cái bản chất thật của những sự việc (ví như đồng chí X, Y, Z hay ngư dân của ta bị “tàu lạ” đâm chìm…). Ở chiều ngược lại, các cơ quan truyền thông phi chính thống lại có khuynh hướng đưa tin theo kiểu nói quá, nói phóng đại hay thổi phồng lên. Đây là gì nếu không phải là thái độ và tâm thế của những bên cung cấp thông tin đến với người dân?

Nghiêm túc mà nói thì cả hai cách cung cấp thông tin đến người dân như trên đều là cố tình bóp méo và xuyên tạc bản chất thật của những sự việc. Thế nhưng, phía nào cũng khư khư cho rằng mình đang nói thật về một sự việc, sự kiện ấy. Và như thế tất cả người dân vô tình trở thành nạn nhân của những thông tin trái chiều ấy. Hay nói cách khác, mọi sự phân tâm và hoang mang của người dân đều bắt nguồn từ chỗ này. Vì một bên chỉ nói một nửa sự thật còn một bên có khi lại nói quá, nói vượt ra ngoài những sự thật ấy.

Rõ ràng, trong chuyện này cả hai phía chính thống và phi chính thống đều có lỗi trong cách cung cấp thông tin đến người dân, tuy nhiên công tâm mà nói thì lỗi của phía cơ quan truyền thông chính thống có phần nặng và đáng trách hơn. Bởi lẽ:

Thứ nhất, phía các cơ quan truyền thông chính thống được sự bảo hộ về cơ chế tiếp cận và khai thác thông tin thuận lợi hơn.

Thứ hai, những người đưa tin từ phía các cơ quan truyền thông chính thống được nuôi dưỡng bằng tiền thuế của người dân góp vào vậy mà họ chỉ cung cấp thông tin cho người dân không kịp thời và không đầy đủ.

Như vậy, nói theo ngôn ngữ bóng đá là với lợi thế “sân nhà” và “trọng tài nhà” nhưng nhìn chung đa phần các cơ quan truyền thông chính thống vì lsy do nào đó có khi chỉ im lặng không hề cung cấp thông tin cho người dân hoặc có cung cấp nhưng thông tin đến người dân vừa chậm lại thêm “nói giảm”, “nói tránh” hay chỉ nói có 50% sự thật xung quanh những những sự kiện mà họ biết rất rõ 100% thì khó mà trách sự xuyên tạc hay bóp méo của bên cung cấp thông tin không chính thống bằng cách nói quá nó lên. (Ở đây cũng mở ngoặc nói thêm là nếu xét trong từng trường hợp cụ thể thì không phải người làm báo nào trong cơ quan truyền thông chính thống cũng đáng trách, vẫn có không ít người rất có ý thức về chuyện này nhưng có khi vì cuộc sống nên trong từng vấn đề cũng nên thông cảm cho họ – những người chưa đến mức phải “bẻ cong ngòi bút” để tồn tại).

4. Dù sao cũng phải thừa nhận quan điểm chỉ đạo của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi yêu cầu xây dựng cơ chế hợp lý nhằm giúp các cơ quan truyền thông chính thống “đưa thông tin chính xác, kịp thời và minh bạch” đến mọi người dân là một cái nhìn đúng đắn, kịp thời của người đứng đầu chính phủ trong hoàn cảnh bát nháo và nhiễu loạn thông tin hiện nay ở Việt Nam; là dấu hiệu cho thấy sự chuyển biến tích cực trong tư duy và nhận thức của những người lãnh đạo trong vấn đề minh bạch thông tin trước nhân dân. Tuy vậy, có lẽ các cấp lãnh đạo cùng những người làm báo chính thống cũng không nên ảo tưởng rằng, nhân dân sẽ tin tưởng chính quyền khi họ được cung cấp những thông tin kịp thời, chính xác và minh bạch. Vì như người xưa đã nói: “một lần bất tín vạn lần bất tin”.

Ngoài ra, trong tình hình xã hội và đất nước Việt Nam hiện nay, muốn có được hay lấy lại niềm tin của nhân dân thì như đã nói, tâm thế và thái độ của những người cung cấp thông tin mới là nhân tố quan trọng và quyết định nhất. Trước một sự kiện nào đó, người dân tuy được cung cấp một cách kịp thời và minh bạch nhưng nếu thông tin về những sự kiện ấy đã được “định hướng” và “dàn xếp” trước sao cho chỉ có lợi cho một số người, một nhóm người nào đó thì có khi chỉ làm nhân dân thêm mất niềm tin hơn mà thôi. Bởi lẽ, những thông tin như vậy thật ra chỉ mới đáp ứng được một nửa của sự thật. Mà một nửa sự thật thì như mọi người đã biết đó không phải là sự thật. Vậy nên, sắp tới đây, muốn người dân thật sự tin tưởng thì nhất định phải tuân thủ một nguyên tắc mà Giáo sư Lê Ngọc Trà đã nói cách đây gần 30 năm: “nói thật và nói sự thật bao giờ cũng kèm theo một điều kiện: quyền được nói thật và nói sự thật”[3] của mỗi người dân.

Nói cách khác, muốn người dân thật sự tin tưởng thì trước hết, Nhà nước và chính quyền phải tuyệt đối tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tư tưởng, tự do suy nghĩ, tự do ngôn luận của người dân trước mọi sự kiện, mọi vấn đề của xã hội và đất nước mà họ được những cơ quan truyền thông cung cấp. Nhà nước và chính quyền phải dũng cảm để sẵn sàng đón nhận và lắng nghe những những lời nói thật cho dù đó là những lời chỉ trích, “quở mắng” của người dân về những quyết sách sai lầm hay những vấn đề có màu sắc tiêu cực khác. Lắng nghe là để nhận lỗi và sửa đổi chứ không phải lắng nghe để trù dập hay thậm chí trấn áp, đàn áp tinh thần họ. Có vậy may ra mới lấy lại niềm tin của nhân dân; mới thực sự là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”; thực sự là một xã hội tiến bộ, dân chủ và văn minh.

Cần Thơ, 18/1/2015

Qua chuyện Nguyễn Bá Thanh đến lời ông Thủ tướng

J.B Nguyễn Hữu Vinh – Đột nhiên, ông Nguyễn Tấn Dũng lên phán một câu được truyền thông nhà nước đưa lên mà dân mạng “hả lòng, hả dạ” chỉ vì thấy nó… không sai. Đó là khi chỉ đạo Hội nghị tổng kết công tác 2014 và triển khai nhiệm vụ 2015 của Văn phòng Chính phủ sáng 15.1, lần đầu tiên ông yêu cầu văn phòng phải làm sao để tổ chức, định hướng thông tin trên mạng xã hội như facebook một cách nhanh chóng, chính xác vì “không thể ngăn cấm người dân”.

Những trận đấu âm thầm và quyết liệt?

Điều này xảy đến làm người ta khá ngạc nhiên và tự hỏi: Phải chăng ông ta đã rút ra được cho  mình một bài học, khi chỉ mới cách đây vài năm, ông đã ra lệnh cho các bộ phận “điều tra và trừng trị” các trang mạng như Quan làm báo, Dân làm báo, Biển Đông… vì đã “đưa tin phản động”. Ông còn có “chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ yêu cầu ‘cán bộ, công chức, viên chức không xem, không sử dụng, loan truyền và phổ biến các thông tin đăng tải trên các mạng phản động”. Hay bây giờ, các trang mạng không nhận “sự lãnh đạo tuyệt đối của đảng” đã không còn là “phản động” nữa?

banvathucongsan Cũng có câu trả lời ngay rằng: Chuyện đấu đá nội bộ, nó “tồn tại khách quan” đến mức nhiều người cố tình không tin rồi vẫn phải tin vì những chứng cứ tự nó phơi bày sự thật. Nhưng giai đoạn đó nó khác với giai đoạn này và những thông tin trên mạng lúc đó khác những thông tin trên các trang hiện nay. Lúc đó, những Quan Làm Báo, Dân Làm Báo… chuyện đời tư, chuyện phê phán thì nhiều nhưng đối tượng chính lại là… thủ tướng. Còn bây giờ những trang như Chân dung Quyền lực và một số trang khác thì đối tượng của nó lại là “đối tượng của thủ tướng”.

Thực ra, nếu ông Thủ tướng, cần thông tin trên mạng nhanh chóng chính xác thật sự, thì chắc cũng không đến nỗi khó khăn. Chỉ cần bám vào “Sự Thật” thì mọi thông tin chẳng cần định hướng vẫn cứ chính xác như thường. Vấn đề là ông muốn “định hướng thông tin” theo cách “đảng lãnh đạo tuyệt đối cho dân làm chủ” thì e khó khăn không thể có.

Thử lấy một sự kiện gần đây nhất để chứng minh.

Sự kiện Nguyễn Bá Thanh và thông tin

Ông Nguyễn  Bá Thanh kể từ khi ra Hà Nội như thế nào với mục đích gì, và kết quả ra sao, thì hẳn những người quan tâm đều đã biết. Ở đây, ta chỉ nói về thông tin nhà nước trong vụ việc ông Nguyễn Bá Thanh chữa bệnh và trở về nước gần đây.

Nbathanh1 Khi ông Nguyễn Bá Thanh đi nước ngoài chữa bệnh, những thông tin ít ỏi, úp mở của báo chí nhà nước đã đặt cho người dân những câu hỏi không lời đáp như: Ông ta bị bệnh gì mà phải đi nước ngoài chữa bệnh? Chẳng lẽ có hẳn một Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương mà đến tận khi bệnh tật nguy cấp vậy mới biết sao? Nếu biết trước, thì mới mấy tháng trước điều ông ta ra Hà Nội làm gì cho thêm rối việc?

Rồi thì việc ông chữa bênh kéo dài hết tháng này sang tháng kia nhưng những hình ảnh và thông tin về ông ta thì… tịt mít. Thậm chí, cả cơ quan có trách nhiệm cũng chỉ nhận được thông tin qua gia đình với nội dung thì chẳng có thông tin gì ngoài việc ông ta đang chữa bệnh. Nguyên nhân là ở đâu?

Có phải vì sự xa xôi, vì phương tiện thông tin khó khăn hay một lý do kỹ thuật nào đó? Hẳn nhiên là không phải vậy. Thời buổi này, khi mà công nghệ thông tin vào mọi ngõ ngách cuộc sống, chỉ cần chiếc điện thoại vài  chục dola thì mọi thông tin đều được cả thế giới biết đến nếu cần. Huống chi ông ta chữa bệnh ở những nơi mà mỗi ngày riêng tiền viện đã vài chục ngàn đola.

CDQLThế rồi ông Thanh cũng về Việt Nam. Một thời gian ngắn trước khi ông về, một số trang mạng đã cập nhật tình hình sức khỏe của ông rất chi tiết và chính xác hơn cả 800 tờ báo nhà nước được đầu tư đầy đủ cả pháp lý và tiền bạc. Kèm theo các thông tin về bệnh tật, sức khỏe Nguyễn Bá Thanh là thông tin rằng ông “đã bị đầu độc” mà oái oăm thay lại bị chính “đồng chí” của mình đầu độc, hãm hại(?).

Những tin tức này đáng tin đến mức làm chấn động không chỉ ở hạ tầng cơ sở mà cả thượng tầng kiến trúc của thể chế Cộng sản, thậm chí tác động đến những người xưa nay vốn kín tiếng trong bộ máy nhà nước như ông Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh. Sở dĩ nói ông kín tiếng là bởi ít khi thấy ông lên tiếng về những vấn đề an nguy của đất nước, mất mát của lãnh thổ hoặc nguy cơ bị xâm lược. Nếu có, cũng chỉ vài câu về sự sợ hãi, khiếp nhược trước kẻ thù là anh bạn vàng của Đảng. Hoặc ông ta nói lên nỗi lo lắng sợ hãi khi dân ta lại ghét bọn Trung Cộng xâm lược(!)

PhungQThanh Vậy mà lần này, ông đã phải lên tiếng rằng thì là “cần phải siết chặt quản lý việc truy cập khai thác thông tin trên Internet, ngăn chặn những thông tin xuyên tạc gây chia rẽ phân tâm”. Nhưng, ngay sau hành động mở miệng của ông, ông trở thành đối tượng để có thông tin về “những khối tài sản khổng lồ đến mức kinh ngạc” của bố con ông với đầy đủ chứng cứ, địa chỉ xác thực và đề nghị ông trả lời. Thế rồi cư dân mạng căn cứ vào đó để tìm hiểu vì sao ông ngại nói đến chiến tranh với kẻ thù dân tộc mà chỉ muốn “hòa bình”, vì sao ông sợ và lo lắng khi dân ta chống Tàu… với lời giải thích rằng: “Vì nếu có chiến chinh, ai giữ cho ông đống tài sản đó”?

Và đến đó thì ông im hẳn.

Thế rồi, báo chí đưa tin ông Nguyễn Bá Thanh đã về Việt Nam, hàng loạt báo chí đón chờ, rồi tin tức chuyến bay, tình hình sức khỏe được Ban bảo vệ sức khỏe Trung ương thông báo… Thậm chí nhiều nhân vật được đưa tin đến thăm ông Nguyễn Bá Thanh và phát biểu về sức khỏe ông Nguyễn Bá Thanh còn rõ hơn cả ông ấy.

NguyenQuocTrieuthamBaThanh Nhưng, tuyệt nhiên không có bất cứ một tấm hình, một đoạn video, hay audio nào của ông Nguyễn Bá Thanh? Chẳng lẽ không báo nào có cái máy chụp hình? Những thông tin về sức khỏe của ông ta, thì lại từ ông Nguyễn Quốc Triệu, Trưởng ban Bảo vệ sức khỏe Trung ương.

Oái oăm thay, với ông Triệu, người ta nhớ ngay đến lời tuyên bố: “Hai năm nữa, không có bệnh nhân nằm chung giường” ngay khi ông nhậm chức Bộ trưởng Y tế. Hơn một năm sau, chính ông phủ nhận lời nói của mình. Và đến giờ, sau 6 năm lời hứa của ông ta, thì bệnh nhân không chỉ nằm chung giường mà còn nằm chung… gầm giường.

Do vậy, những thông tin do ông đưa ra, đáng tin được bao nhiêu phần trăm?

Đến ông Thủ tướng

Chính khi một số trang mạng đang tung hoành các thông tin về ông Nguyễn Bá Thanh bị đầu độc và trình trạng sức khỏe, thông tin về các nhân vật trong bộ máy chính phủ và Đảng CSVN một cách tưng bừng và ồn ào nhất. Đặc biệt, là những nội dung họp hành của Bộ Chính trị, các chứng từ tài sản của một số quan chức Cộng sản quan trọng… được tiết lộ với màu sắc đấu tố, đâm chém. Một số nhân vật đòi “ngăn chặn, siết chặt, quản lý…” thì Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ra đòn “không thể ngăn cấm người dân”.

Xaovoi Báo Thanh Niên đưa lời Thủ tướng như sau: “Người đứng đầu Chính phủ đặc biệt lưu ý, hiện nay hơn 30 triệu người đang sử dụng các mạng xã hội, đó là nhu cầu thiết yếu không thể ngăn cấm. Điều quan trọng phải thông tin cho chính xác, định hướng cho tốt dư luận trên mạng xã hội… Phải đưa thông tin chính xác, kịp thời để định hướng”.

Câu nói này của Thủ tướng, đã làm bao người hớn hở và hy vọng. Họ hy vọng rằng, hẳn là ông Thủ tướng đã nghĩ lại, đã hiểu, đã biết và đã… thay đổi tư duy về mạng xã hội?

Hỡi ôi, đó cũng chỉ mới là một lời nói của ông Thủ tướng. Mà người dân Việt Nam thì đã nghe được rất nhiều những lời nói có cánh từ những ông Thủ tướng và Phó thủ tướng, từ ông Tổng bí thư đến Chủ tịch nước Việt Nam. Và họ đã rất có kinh nghiệm. Tiếc rằng, thực tế nghiệt ngã đã chứng minh ngược lại 180 độ những điều đó.

Bởi, với những ai tin vào các phát biểu của các ông trước quốc dân đồng bào, thì đến giờ tồn tại được là điều may mắn.

Vì, nếu ông cho rằng cần phải thông tin chính xác, kịp thời, cần định hướng tốt… thì tiêu chí đầu tiên phải là Sự thật.

Mà Sự thật, là điều xa lạ với hệ thống tuyên truyền, định hướng và lãnh đạo tuyệt đối của Cộng sản.

Cho nên câu nói: “Đừng nghe lời Cộng sản nói.Hãy xem việc Cộng sản làm” vẫn còn nguyên giá trị.

Hà Nội, Ngày kỷ niệm máu nhuộm Hoàng Sa 19/1/2015

Lạm bàn cuộc chiến về thông tin

Thiện Tùng (BVN) – Sau một tháng Chân dung Quyền lực “xung trận” gây chấn động dư luận, ngày 16/01/2015, ở trang BBC có bài “Việt Nam đối mặt với chiến tranh thông tin”. Đằng sau tựa bài không có dấu hỏi, có nghĩa là tác giả khẳng định VN đang nổ ra chiến tranh thông tin. Người viết bài này không phủ định điều đó, chỉ nói thêm rằng VN không phải chỉ đang mà đã có cuộc chiến về thông tin.

Do bất đồng quan điểm và thông tin sai sự thật của giới cầm quyền, từ lâu ở VN đã nổ ra cuộc chiến về thông tin bất chấp nhà cầm quyền có công nhận hay không. Cũng chính từ đó người ta gọi cho phân biệt giữa 2 phía “lề phải” và “lề trái” hay còn gọi “lền Đảng”và “lề Dân”, khiến giáo sư toán học Ngô Bảo Châu không ưng ý thốt lên “Lề dành cho những đàn cừu”.

– Về phía nhà cầm quyền: có khoảng 800 cơ quan báo chí, 18.000 nhà báo, hàng trăm đài phát thanh truyền hình và hàng ngàn dư luận viên… chịu sự điều khiển duy nhất một Ban biên tập đó là Ban Tuyên Giáo Trung ương Đảng. Đội ngũ hùng hậu này luôn mang “tính Đảng” trong người – chỉ nói những gì có lợi cho Đảng. Hàng ngày dàn đồng ca này hợp xướng như giàn nhạc Giao hưởng, nghe riết cũng nhàm tai.

– Về phía tạm gọi là đối lập với nhà cầm quyền: nếu nhìn kỹ thấy rõ có 3 nhóm trang mạng, mang 3 khuynh hướng khác nhau, đến giờ nầy, hầu hết đều dựa vào lợi thế mạng Internet:

1/ Nhóm trang bất đồng chính kiến: Chiếm đa số, chủ trang công khai danh tánh, phần lớn họ là đảng viên, nếu không tham gia kháng chiến cũng là cán bộ, công chức Nhà nước. Họ không vụ lợi, xả thân vì lợi ích quốc gia và dân tộc, dùng lý lẽ êm dịu phản biện những chủ trương, chính sách, đường lối… không thích hợp của Đảng và Nhà nước, nhằm thực hiện mục tiêu “Dân chủ, đa nguyên…”.

2/ Nhóm trang chống Cộng sản: Tuy không nhiều, chủ trang cũng công khai danh tánh, họ chống Cộng mệt không nghỉ, đôi khi họ dùng từ ngữ chửi rủa rất khó nghe, kém thuyết phục. Chống Cộng là lập trường của họ – còn Cộng thì họ còn chống. Đành vậy, “Có sừng có mỏ thì gõ với nhau”.

3/ Nhóm trang đấu tranh cho lợi ích phe nhóm: Chủ trang không xưng danh tánh, họ xả thân vì lợi ích cá nhân cục bộ, âm thầm trinh thám tìm hiểu chủ yếu về tham nhũng, cửa quyền của đối phương, lừa thế xuất chiêu theo “thời vụ”. Họ họ là những tờ: Quan làm báo, Bộ đội làm báo, Vua làm báo, Tư Sang nham hiểm, v.v… hoặc giả mượn danh tứ trụ triều đình Sang, Trọng, Hùng, Dũng. Đáng kể là trang Quan Làm Báo trước đây và Chân dung Quyền lực gần đây. Cả 2 trang này như những người hùng, “gãi đúng chỗ ngứa” của công chúng là chống những “con sâu chúa ở trên đọt” nên nhất thời “ăn khách”.

Về trang “Quan Làm Báo”: trang nầy ra trước ngày hội nghị BCH TW Đảng lần 6, mục tiêu tấn công là Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các ngành tài chính, ngân hàng được xem là sân sau của ông Dũng. Nghe nói chẳng biết phải không, lúc đầu nghi chủ trang này là nhà báo tự do Phạm Chí Dũng, cho bắt Dũng, nhưng trang này vẫn hoạt động bình thường, thế là thả Dũng ra. Đến nay trang này vẫn tồn tại, dường như mất phương hướng, đăng búa xua những bài “giựt gân” lấy từ những trang khác. Sở dĩ người ta ít nhiều còn chấp nhận nó vì nó góp phần chống “nội xâm” – tham nhũng.

Về trang “Chân dung Quyền lực”: Khi tìm hiểu mới biết trang nầy thâm hiểm, họ theo phương châm “nuôi quân nghìn thuở, sử dụng một ngày”. Bằng chứng là nó ra đời hồi năm 2011, sau 4 năm dưỡng quân, tập trận: năm 2011= 3 bài, năm 2012 = 9 bài, năm 2013= 10 bài, năm 2914= 84 bài và chỉ trong vòng 1 tháng trước, trong và sau hội nghị 10 của Đảng, từ 15/12/2014 đến 15/01/2015, trang nầy tung chưởng= 16 bài, nhằm vào 3 đối tượng thành viên Bộ Chính Trị Đảng CSVN: Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, Bộ trưởng Quốc phòng Phùng Quang Thanh, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng. Theo dự đoán, cuộc chiến đang tiếp diễn, cường độ sẽ gia tăng, diện mở rộng thêm. Đây là trận chiến chống “nội xâm” táo tợn nhất, được công chúng tán thưởng nhất. Cáp viễn thông, máy vi tính và điện thoại thông minh sẽ phải làm việc hết công suất.

Cuộc chiến về thông tin tuy chưa ngã ngũ, nhưng phía nhà cầm quyền có vẻ núng thế, lúng túng:

Trong diễn văn bế mạc hội nghị 10 của Đảng, Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: “Đổi mới chính trị không phải là làm thay đổi chế độ chính trị, thay đổi bản chất Đảng, Nhà nước mà chỉ thay đổi cơ chế…”. Từ câu nói của tổng Bí thư Trọng cho thấy, hội nghị BCH TW Đảng lần 10 chấp nhận đổi mới chính trị? Nếu vậy, đây là tín hiệu đáng mừng?

Trong hội nghị tổng kết công tác 2014 và triển khai nhiệm vụ 2015 của Văn phòng Chính phủ sáng thứ năm 15/01/2015, do báo Thanh Niên dẫn lời, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nói: “Mạng Xã hội trở thành nhu cầu thiết yếu không thể ngăn cấm…, Các đồng chí ngồi đây đều tham gia mạng Xã hội, có điện thoại để lên Facebook xem thông tin. Vậy làm sao để thông tin đó đúng đắn. Chúng ta không ngăn, không cấm được đâu các đồng chí …, phải đưa thông tin chính xác, kịp thời để định hướng”. Vậy là Thủ tướng Dũng thừa nhận một sự thật khách quan hay chào thua làn sóng thông tin mạng Xã hội? Ông cũng ngầm phê phán dàn thông tin và truyền thông đồng ca rập khuôn, không xác thực, thiếu tính thuyết phục đối với công chúng?

Ông Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Trương Minh Tuấn, khi bị đối phương lấn sân nổi giận, gào lên bài ca muôn thuở: “Cũng khuyên người dân phải cảnh giác, tẩy chay thông tin độc hại, không tiếp tay cho tội phạm thông tin ảo…, cũng phải tấn công những thông tin xấu, xuyên tạc, bịa đặt, nói xấu Đảng, Nhà nước, xúc phạm danh dự cán bộ lãnh đạo các cấp”. Theo tôi nghĩ, ông Tuấn khoan lên án đối phương, hãy xem lại chất lượng hàng do mình sản xuất sao không ăn khách. Và cũng xin báo với ông: trong tầm “phủ sóng” của mình, tôi thấy, nhất là lớp trẻ trung, họ ít đọc báo giấy, chơi điện thoại cảm ứng thông minh màn hình lớn, mỗi tháng nạp 70 ngàn tha hồ vuốt tìm thông tin trên mạng và nói cho nhau nghe những tin tức giựt gân. Khi thấy người “lạ” đến họ tắt máy, lấy gì làm bằng chứng la rầy họ, hơn nữa cấm họ tìm nguồn thông tin là vi Hiến. Còn truyền hình họ cũng ít xem mục thời sự mà nếu không nghe ca Vọng cổ thì xem phim Nam Hàn, Đài Loan, Nhật, Hồng Kông, Ấn Độ…, phim Trung Quốc và Việt Nam ế.

Phó Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội Nguyễn Sĩ Dũng xem mòi hơi hoang mang: “Việt Nam đang đối mặt với chiến tranh thông tin truyền thông… Nguy hại ở chỗ thông tin lan truyền nhanh với tốc độ khủng khiếp, bổ sung nhanh chóng, chỉ cần thông tin truyền qua Facebook, điện thoại di động nhân lên hàng triệu lần!… Bộ luật về tiếp cận thông tin đang được Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét…, và chính quyền phải có trách nhiệm cung cấp thông tin chính thống để tránh thông tin sai lệch lan truyền”. Chẳng lẽ ông Dũng không biết chính quyền cung cấp thông tin theo định hướng thừa mứa, “gãi không đúng chỗ ngứa”, công chúng đã chán ngấy từ lâu?! Còn mạng Xã hội đưa tin sai trái là trái sự thật hay là trái ý lãnh đạo – nếu trái sự thật mới đáng nói, mới đáng ngồi tù, còn trái với ý lãnh đạo là tất nhiên vì họ là lực lượng đối lập. Đã là thông tin, sự hơn thua nhau không phải ở “tính Đảng” mà ở “tính chân thật”? Nên nhớ “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh bại bởi lực lượng vật chất”.

Ông Mai Liêm Trực, nguyên thứ trưởng , thường trực Bộ Bưu Chính Viễn Thông nói rất chí lý: “Không nên né tránh những gì mà chúng ta thường cho là nhạy cảm. Cũng không nên né tránh các loại thông tin xấu độc, xuyên tạc, vu khống… nên đối mặt, chơi bài ngửa”. Đúng vậy: Ở lĩnh vực thông tin thì “ăn miếng trả miếng” để phân biệt ai đúng ai sai. Sai do vô ý thì phải đính chính, xin lỗi; sai cố ý thì xử lý theo pháp luật. Không thể chấp nhận ai nói trái ý lãnh đạo thì bắt. Ví dụ: Nếu trang Chân dung Quyền lực vu cáo ông Phúc, ông Thanh, ông Hùng tham nhũng thì thượng sách là các ông phản ứng – Nên nhớ, “Nguyên tắc Việt Minh, làm thinh là đồng ý” vẫn còn lưu dụng trong công chúng.

Trên mặt trận thông tin, Nhà cầm quyền đang chịu sức ép của 3 nhóm giáp công, nếu hệ thống Thông tin và Truyền thông không kịp đổi mới – nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật thì không chết cũng bị thương.

Không còn cách nào khác, Đảng CS và Nhà nước VN phải có sự thay đổi nhất định về thể chế chính trị, về đường lối… để xích lại gần hơn với lực lượng bất đồng chính kiến chung lo việc nước việc dân.

Tốc độ internet VN
gần “đội sổ” châu Á – Thái Bình Dương

Vân Ly (TBKTSG Online) – Akamai, nhà cung cấp dịch vụ công nghệ thông tin của Mỹ, vừa phát hành báo cáo thực trạng Internet toàn cầu quí 3-2014, theo đó, tốc độ Internet Việt Nam gần chậm nhất khu vực châu Á – Thái Bình Dương.

Internet Việt Nam chậm thứ hai khu vực Châu á Thái Bình Dương. Ảnh: Vân Ly

Tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương, Hồng Kông là nơi có tốc độ kết nối internet cao nhất, tiếp theo đó là Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Úc, New Zealand, Malaysia, Indonesia, Philippines, Trung Quốc.

Trong khu vực, tốc độ internet của Việt Nam chỉ cao hơn Ấn Độ.

Bản đánh giá trên còn có các số liệu về tốc độ kết nối internet trung bình và tốc độ kết nối cao nhất của các quốc gia. Theo đó, tốc độ kết nối trung bình của Việt Nam trong quí 3-2014 là 2,5 Mbps (giảm 12% so với quí 2-2014), tốc độ cao nhất là 16,6 Mbps.

So với cùng kỳ năm 2013, tốc độ trung bình và cao nhất của nước ta đều tăng, lần lượt là 22% và 38%.

Trên đây là kết quả đánh giá internet của Việt Nam, với nhiều loại hình kết nối internet khác nhau gồm internet băng thông rộng di động (3G), internet cố định băng thông rộng…

Xét về kết nối internet băng rộng tốc độ cao, Phillipines và Việt Nam đứng vị trí cuối bảng vì có tỉ lệ sử dụng chưa đầy 1%. Về tốc độ kết nối internet trên di động, Việt Nam cũng đứng cuối bảng với tốc độ trung bình 1,1 Mbps và tốc độ cao nhất 7,9 Mbps.

Được biết, tiêu chuẩn chất lượng đánh giá dịch vụ internet cố định (kết nối có dây) của Việt Nam đã được Bộ Thông tin Truyền thông ban hành, áp dụng và kiểm tra từ nhiều năm nay. Còn tiêu chuẩn đánh giá chất lượng dịch vụ internet băng thông rộng di động (3G) mới được Bộ này ban hành và sẽ áp dụng vào tháng 3-2015 tới.

Trao đổi với TBKTSG Online, ông Lê Nam Thắng, Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông, cho hay, cơ quan này luôn dựa trên các tiêu chuẩn do Liên minh Viễn thông thế giới đưa ra để xây dựng các tiêu chí đánh giá chất lượng internet tại Việt Nam. Và bộ này luôn áp dụng các chỉ số kĩ thuật trên mức trung bình so với các thông số mà Liên minh Viễn thông thế giới đưa ra.

Tất nhiên, so với các nước phát triển và một số nước khác thì các chỉ số chất lượng internet này của Việt Nam có thể thấp hơn, theo ông Thắng.

Còn theo ý kiến của các chuyên gia, tốc độ kết nối internet của các quốc gia nhanh hay chậm tỉ lệ thuận với sự phát triển kinh tế của các quốc gia đó. Vì kinh tế phát triển thì các doanh nghiệp mới có nhiều tiền để đầu tư cho cơ sở hạ tầng mạng internet. Do kinh tế Việt Nam kém phát triển hơn các quốc gia trong khu vực nên tốc độ kết nối internet của Việt Nam chậm hơn các nước là điều tất yếu.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.