Mơ hồ khái niệm tập đoàn kinh tế nhà nước

Posted: February 11, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Hoàng (TBKTSG Online) – Khái niệm về tập đoàn kinh tế nhà nước (TĐKT) rất mơ hồ đang dẫn tới nhiều hệ lụy sau khi các doanh nghiệp nhà nước lớn đã phát triển trở thành các tập đoàn thời gian qua.

� Xem thêm: WB tiết lộ 8 dự án thuộc “danh sách đen” + 12 con dê quyết làm to – hàng trăm tỉ đồng thất thu lại rơi vào “im lặng”?


Các nhà kinh tế lo ngại về khái niệm TĐKT còn mù mờ. Ảnh TG.

Đây là nhận định của các chuyên gia kinh tế tại hội thảo “Thực trạng và giải pháp phát triển bền vững tập đoàn kinh tế ở Việt Nam” do Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) tổ chức ngày 10-2.

Ông Bùi Văn Dũng, Trưởng ban cải cách và phát triển doanh nghiệp thuộc CIEM, nhận xét rằng theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, TĐKT được hiểu là một nhóm doanh nghiệp và không có tư cách pháp nhân. Điều này là một bước tiến và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Theo ông Dũng, vẫn theo Luật Doanh nghiệp, khái niệm TĐKT là nhóm công ty có quy mô lớn. Điều này đã dẫn đến hai cách hiểu ở các văn bản hướng dẫn luật.

Theo Nghị định 39, TĐKT là một nhóm công ty có số lượng lớn, dù có thể quy mô các công ty không lớn.

Bên cạnh đó, Nghị định 102 hướng dẫn Luật Doanh nghiệp quy định TĐKT là nhóm công ty chỉ gồm các công ty có quy mô lớn, có tư cách pháp nhân độc lập.

Trong khi đó, chuẩn mực kế toán 25 xác định TĐKT bao gồm công ty mẹ và các công ty con, dẫn đến cách hiểu TĐKT chỉ có hai cấp doanh nghiệp.

“Rõ ràng, chưa có sự thống nhất trong nhận thức, trong khung pháp luật về khái nhiệm TĐKT,” ông Dũng nói.

“Như vậy, câu hỏi hiện tại Việt Nam có bao nhiêu TĐKT cũng không trả lời được. nếu không rõ khái niệm thì khó đề ra cơ chế giám sát, đánh giá hoạt động cũng như bảo vệ lợi ích các bên có liên quan,” ông nói.

Ông Trần Tiến Cường, một chuyên gia hàng đầu về DNNN, bổ sung thêm: “Hơn 10 năm nay chúng ta vẫn cứ luẩn quẩn và rất rối về khái niệm, về nhận thức về TĐKT, nên tái cơ cấu cũng chỉ đến thế.”

“Có gỡ được lý luận về tập đoàn mới có cơ may giải quyết được mớ rối về TĐKT, tổng công ty Nhà nước,” ông Cường nói.

Theo báo cáo của CIEM, quy mô của các TĐKT nhà nước vẫn tăng khá nhanh và chiếm tỷ lệ áp đảo trong nhóm doanh nghiệp có quy mô lớn nhất. Trong top 20 doanh nghiệp lớn nhất Việt Nam thì 15 là TĐKT nhà nước.

Các TĐKT vẫn giữ vị trí thống lĩnh theo ngành, lĩnh vực then chốt của nền kinh tế: chiếm 99% trong sản xuất phân bón, 97% khai thác than, 94% trong sản xuất điện-gas, 91% trong truyền thông và 88% trong lĩnh vực bảo hiểm.

Ông Dũng của CIEM nhận xét, Luật Cạnh tranh quy định nhóm bốn doanh nghiệp có thị phần từ 75% trở lên trên thị trường sẽ đươc coi là có vị trí thống lĩnh thị trường. Như vậy, luật này chưa bao quát được thực tế là phần lớn các TĐKT đều có trên 4 doanh nghiệp thành viên, và chiếm lĩnh thị trường; gây khó khăn cho việc đề ra các biện pháp kiểm soát độc quyền ở các TĐKT.

Tiến sỹ Đinh Quang Ty, Hội đồng Lý luận Trung ương, nhận xét: “Đã có hội chứng TĐKT mà chúng ta đã biết như Vinashin, Vinalines. Nhiều người nói nếu sờ đến các TĐKT thì tất cả đều có vấn đề. Tại sao 10 năm gần đây nền kinh tế có những trục trặc lớn như vậy và những trục trặc lớn liên quan gì với các TĐKT. Chúng ta chưa có câu trả lời.”

Ông Ty nói: “Câu chuyện lợi ích nhóm, sân sau có hay không? CIEM phải chỉ ra được những bất cập lớn nhất của các TĐKT liên quan đến bất lợi cho phát triển kinh tế – xã hội.”

Theo Viện trưởng CIEM Nguyễn Đình Cung, cách Bộ Công thương đang bảo vệ EVN cho thấy Bộ này đang toàn đứng ở vai chủ sở hữu để ứng xử chứ không phải là cơ quan quản lý nhà nước. Vì thế, trật tự thị trường không được quản lý, không cạnh tranh lành mạnh, tạo ra dư địa cho địa tô, cho lợi ích nhóm.

Hội thảo này nhằm giúp CIEM hoàn thiện một báo cáo về TĐTK do Hội đồng Lý luận Kinh tế Trung ương đặt hàng để làm cơ sở báo cáo cho Đại hội Đảng 12 năm 2016.

WB tiết lộ 8 dự án thuộc “danh sách đen”

Tư Giang (TBKTSG Online) – Một danh sách 8 dự án ODA do Ngân hàng Thế giới (WB) tài trợ tại Việt Nam đã được công bố là “danh sách đen”, tức các dự án chậm trễ về tiến độ thực hiện và giải ngân.


Dự án Giao thông đô thị Hà Nội bị điểm danh vào danh sách đen của WB. Ảnh minh họa TL.

Trong số các dự án này, điển hình nhất là dự án Giao thông đô thị TP Hà Nội với thời gian lọt vào danh sách đen là 60 tháng, số năm thực hiện là 7 năm và tỷ lệ giải ngân là 30%.

Tiếp theo là dự án Hiện đại hóa quản lý thuế với các chỉ tiêu lần lượt là 34 tháng, 6,8 năm và 2%.

Dự án Phát triển năng lượng tái tạo có các chỉ tiêu là 27 tháng, 5,2 năm, và 29%. Các dự án còn lại được kể tên là Hệ thống hiện đại hóa khu vực tài chính và quản lý thông tin, Đại học Việt Đức; Hỗ trợ quản lý rác thải, Quản lý rác thải công nghiệp, và Hỗ trợ kỹ thuật chuẩn bị dự án.

“Số lượng các dự án trong danh sách đen tăng lên, và các dự án này càng ngày càng chậm có chuyển biến”, Giám đốc quản lý danh mục đầu tư và thực hiện dự án của WB, ông Keiko Sato, nhận xét tại một buổi họp nội bộ của Ngân hàng này tổ chức ngày 9-2 tại Hà Nội.

Những vấn đề chung của các dự án trong danh sách đen, theo ông Sato là giai đoạn thực hiện dự án chưa chuẩn bị sẵn sàng, Báo cáo khả thi chưa hoàn thiện khi bắt đầu thực hiện, Sổ tay hoạt động chưa hoàn chỉnh, công tác thu hồi đất chưa sẵn sàng.

Ngoài ra còn nhiều nguyên nhân khác làm cho các dự án bị chậm tiến độ, chẳng hạn như Các dự án chưa đạt được thống nhất về thiết kế và kết quả dự kiến; thiếu vốn hoặc chậm trễ phân bổ vốn đối ứng, đặc biệt là cho công tác thu hồi đất và tái định cư.

Thẩm quyền ra quyết định không rõ ràng cũng dẫn đến chậm đưa ra giải pháp khi dự án có vấn đề. “Những thay đổi rất nhỏ cũng đòi hỏi phải có lãnh đạo cấp cao phê duyệt”, ông Sato nhận xét.

Theo ông Sato, Việt Nam là đối tác vay lớn thứ 4 trên thế giới của WB sau Trung Quốc, Ấn Độ và châu Phi. Đến năm 2015, WB đang có 52 dự án triển khai tại Việt Nam với tổng mức cam kết 9,7 tỉ đô la Mỹ, và tỷ lệ giải ngân chung khoảng 18,6%.

Ngoài 8 dự án trong danh sách đen kể trên, trong số 52 dự án do WB tài trợ có tới 15,3% số dự án có rủi ro cao, 12,1% giá trị cam kết có rủi ro cao trong năm 2015. Tuy nhiên, WB không nêu tên các dự án này.

Tỷ lệ này đã giảm mạnh từ 19,6% trong năm 2012, theo WB.

Tuy nhiên, theo ông Sato, một số chỉ số về hiệu quả triển khai vốn ODA ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể trong mấy năm gần đây. Ví dụ, tỷ lệ chủ động quản lý danh mục đầu tư nhằm đạt kết quả tốt hơn (Proactivity) ở Việt Nam tăng từ 25% năm 2012 lên tới 80% năm 2015.

Thời gian từ khi trình lên Ban giám đốc WB cho đến khi dự án có hiệu lực rút ngắn từ 6 tháng năm 2012 xuống còn 3 tháng năm 2015.

Có tới 80% các dự án đã hoàn thành đạt kết quả tương đối tốt, cao hơn nhiều so với tỷ lệ ở các quốc gia khác như Trung Quốc, Indonesia, Philippines, Ấn Độ, Pakistan.

12 con dê quyết làm to
– hàng trăm tỉ đồng thất thu lại rơi vào “im lặng”?

(VNTB) Theo Tamnhin.net – Thời gian gần đây, trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa xảy ra 2 sự kiện được xem là gây chấn động khi báo chí đồng loạt vào cuộc phanh phui, làm rõ những sai phạm tại các dự án bất động động sản – “đất vàng giá bèo” gây thất thu cho ngân sách hàng trăm tỉ đồng và vụ 12 con dê “lạc” vào trang trại nhà Bí thư huyện ủy huyện Thạch Thành. Với vụ “12 con dê…” thì lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa quyết tâm chỉ đạo làm rõ. Ngược lại, vụ ngân sách thất thu hàng trăm tỉ đồng lại không hề được đả động đến.


Bí thư Huyện uỷ Thạch Thành đã trả lại 12 con dê “đi lạc” cho các hộ nghèo.

12 con dê quyết làm to ?

Ngày 26-1-2015, Chánh Văn phòng Tỉnh ủy Thanh Hóa Võ Duy Sang ký công văn số 1119-CV/TƯ gửi: Ủy ban Kiểm tra, Ban Nội Chính, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng ủy UBND tỉnh Thanh Hóa truyền đạt ý kiến của Thường trực Tỉnh ủy về tiếp tục xác minh, làm rõ 12 con dê trợ giúp hộ nghèo “lọt vào trang trại” của gia đình Bí thư Huyện ủy Thạch Thành.

Nội dung công văn nêu rõ, trong những ngày qua, một số báo đã đưa thông tin phản ánh về việc cán bộ khuyến nông huyện Thạch Thành cấp không đúng đối tượng 12 con dê của thị xã Bỉm Sơn hỗ trợ huyện Thạch Thành theo chương trình kết nghĩa giữa hai đơn vị trong thực hiện Nghị quyết 09 của Tỉnh ủy về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác giảm nghèo nhanh, bền vững ở các huyện miền núi Thanh Hóa đến năm 2020, cho gia đình đồng chí Bí thư Huyện ủy Thạch Thành.

Thường trực Tỉnh ủy đã chỉ đạo Ban cán sự Đảng ủy UBND tỉnh chỉ đạo UBND tỉnh kiểm tra, làm rõ nội dung thông tin các báo phản ánh.

Để có cơ sở giải quyết, xử lý, Thường trực Tỉnh ủy tiếp tục giao Ủy ban Kiểm tra, Ban Nội Chính, Ban Dân vận Tỉnh ủy, Ban cán sự Đảng ủy UBND tỉnh Thanh Hóa xác minh, làm rõ nội dung vụ việc báo nêu; đề xuất hướng xử lý và báo cáo Thường trực Tỉnh ủy Thanh Hóa trước ngày 5-2-2015.

Cũng liên quan đến “12 con dê..” trước đó, ngày 22/1/2015, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có công văn yêu cầu huyện Thạch Thành làm rõ nội dung dê giống ủng hộ người nghèo “đi nhầm” vào nhà bí thư huyện ủy. Công văn nêu rõ, yêu cầu UBND huyện Thạch Thành phối hợp với các đơn vị liên quan xác minh nội dung báo nêu, làm rõ trách nhiệm của tập thể, cá nhân có liên quan, đề xuất ý kiến, báo cáo chủ tịch UBND tỉnh trước ngày 29/1/2015.

Sự im lặng …đáng sợ!

Trước vụ 12 con dê lạc vào trang trại nhà bí thư huyện ủy huyện Thạch Thành, tại tỉnh Thanh Hóa còn “rúng động” với việc báo chí phanh phui hàng loạt sai phạm liên quan đến các dự án bất động sản trên địa bàn tỉnh này, gây thất thu ngân sách hàng trăm tỉ đồng.


Một góc dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư tại lô B-TM 1
Khu đô thị mới Đông Hương – Khu “đất vàng” tại TP Thanh Hóa

Cụ thể là tại dự án Khu biệt thự cao cấp Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn. Theo đúng kế hoạch, dự án này phải được hoàn thiện vào năm 2013 (không quá 3 năm theo như QĐ 3338/QĐ-UBND ban hành tháng 9/2010) và số tiền nhà đầu tư phải nộp ngân sách Nhà nước khi thực hiện dự án này là gần 111 tỉ đồng.

Tuy nhiên, sau 4 năm trì trệ, kéo dài dự án này cuối cùng cũng được UBND tỉnh Thanh Hóa điều chỉnh lại hợp đồng bằng Quyết định số 3147/QĐ-UBND do ông Nguyễn Đình Xứng-Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ký ngày 25/9/2014.

Từ chỗ số tiền sử dụng đất mà nhà đầu tư phải nộp ngân sách gần 111 tỉ đồng (năm 2010), đến năm 2014 số tiền ngân sách thu được chỉ còn lại là 12,475 tỉ đồng theo QĐ 3147.

Dự án thứ hai là Khu thương mại dịch vụ và dân cư B-TM1 thuộc Khu đô thị mới Đông Hương, TP Thanh Hóa có diện tích lên đến trên 2,9 héc ta.

Đây là khu đất nằm ở vị trí đắc địa, trung tâm của TP Thanh Hóa và được ví như khu “đất vàng”. Tuy nhiên, với QĐ 3013: “Về việc phê duyệt kết quả lựa chọn nhà đầu tư thực hiện đầu tư dự án…” do ông Nguyễn Đình Xứng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa ký ngày 27/8/2013 thì chỉ tính riêng với số diện tích hơn 10.000m2 đất dành cho cho nhà phân lô, bán nền thì nhà đầu tư chỉ phải nộp vào ngân sách gần 29 tỉ đồng.

Tuy nhiên đây là số tiền nộp vào ngân sách được xem là “quá bèo” cho một khu “đất vàng”. Trong khi giá đất khu vực này năm 2013 được chính UBND tỉnh Thanh Hóa áp khung giá từ 11 đến 28 triệu/m2 (tùy từng vị trí) theo QĐ 4194/2012 ngày 13/12/2012. QĐ 3013 lại biến mỗi m2 đất tại dự án “đất vàng” chỉ có “giá bèo” là hơn 2,8 triệu đồng/m2.

Như vậy số tiền 29 tỉ đồng mà ngân sách thu được tại khu “đất vàng” là “quá bèo” so với giá trị thực tế. Chỉ cần so với khung giá đất năm 2013 mà UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành, rõ ràng ngân sách đã bị thất thu một con số “khủng”, lên đến cả trăm tỉ đồng.

Còn nhiều vấn đề khác mà dự luận cần phải được cơ quan chức năng vào cuộc làm sáng tỏ tại dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư tại lô B-TM 1 Khu đô thị mới Đông Hương, TP Thanh Hóa.

Đó là việc, ngày 3/9/2013 UBND tỉnh Thanh Hóa mới ban hành QĐ số 3089/QĐ-UBND “về việc thu hồi đất và giao đất cho Trung tâm phát triển quỹ đất để bồi thường giải phóng mặt bằng, mời thầu lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án… Tuy nhiên, trước đó 6 ngày (ngày 27/8/2013), Phó Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Đình Xứng đã ký QĐ 3013 công nhận lựa chọn nhà đầu tư như đã nêu.

Tại sao lại có chuyện “động trời” này? Ở đây có hay sự “bắt tay” và “thỏa thuận” từ trước giữa UBND tỉnh Thanh Hóa và nhà đầu tư? Tại sao UBND tỉnh Thanh Hóa lại bán đất dưới khung giá đã ban hành? Hàng trăm tỉ đồng thất thu sau QĐ 3013 ai phải chịu trách nhiệm? Số tiền chênh lệch đã chảy vào túi ai?

Thứ ba là dự án Khu nhà ở thương mại số 34, Ngô Từ, phường Lam Sơn, TP Thanh Hóa. Tại dự án này cũng có nhiều dấu hiệu gây thất thoát cho ngân sách khi nhà đầu tư là Tổng công ty Đầu tư xây dựng và Thương mại Anh Phát xin điều chỉnh quy hoạch chi tiết, không cập nhật việc đấu giá và giao đất có thu tiền sử dụng đất. Hiện nay 139 lô đất của dự án đã được nhà đầu tư bán hết cho dân và thu về cho DN hàng trăm tỉ đồng. Tuy nhiên, hiện ngân sách vẫn chưa thu được bất cứ một đồng nào từ dự án này.

Dư luận đang đặt rất nhiều câu hỏi và nghi ngờ về 2 sự kiện nêu trên?

Tại sao chỉ với 12 con dê không may “lạc” vào nhà quan thì được lãnh đạo Thanh Hóa từ UBND tỉnh đến Tỉnh ủy quan tâm, đôn đốc để làm sáng tỏ đến thế. Còn việc ngân sách thất thu hàng trăm tỉ đồng tại các dự án bất động sản Khu biệt thự cao cấp Quảng Cư (thị xã Sầm Sơn); Khu nhà ở thương mại 34 Ngô Từ, phường Lam Sơn và đặc biệt là dự án Khu thương mại dịch vụ và dân cư tại lô B-TM 1 Khu đô thị mới Đông Hương (TP Thanh Hóa) lại không hề thấy đả động đến?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.