Mỹ muốn VN có những bước tiến đáng kể về nhân quyền

Posted: March 26, 2015 in Uncategorized
Tags:

Hải Ninh (RFA) – Việt Nam muốn Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, trong khi đó, đổi lại Washington muốn Việt Nam có những bước tiến đáng kể về nhân quyền, một vấn đề mà Mỹ coi là mấu chốt trong việc thúc đẩy quan hệ hai bên đi xa hơn nữa.

� Xem thêm: Nhân quyền vẫn là mảng ‘gai góc’ + Việt Nam: Đáp án cho bài toán nhân quyền + Quyền con người dưới chế độ một đảng và công an trị.

IMG_1610-622.jpgÔng Ted Osius đại sứ Mỹ ở Việt Nam (bìa phải) và ông Phạm Quang Vinh đại sứ Việt Nam tại Mỹ (bìa trái) tại buổi gặp gỡ ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS, Washington DC, ngày 24/3/2015. RFA

Chiều 24/3 tại Washington DC, Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS đã tổ chức một cuộc gặp giữa hai vị đại sứ: ông Ted Osius đại sứ Mỹ ở Việt Nam và ông Phạm Quang Vinh đại sứ Việt Nam tại Mỹ. Sự kiện này có sự tham gia đông đảo của báo giới, các tổ chức chính trị, xã hội ở Washington quan tâm tới mối quan hệ Việt – Mỹ.

Trong buổi nói chuyện này, hai ông đề cập tới một loạt tiến triển trong hợp tác giữa hai bên cũng như giải đáp những quan ngại được những người tới dự nêu ra.

Nhân quyền

    Tôi nghĩ rằng quan hệ Việt – Mỹ sẽ không thể đạt được tới mức cao nhất nếu vấn đề nhân quyền không được giải quyết. Hiện tại, chúng tôi tập trung vào việc khuyến khích Việt Nam sửa đổi một số đạo luật về dân sự và hình sự để cho nhất quán với hiến pháp.
– Ông Ted Osius   

Vấn đề được đại sứ Mỹ tại Việt Nam Ted Osius coi là thách thức nhất và gây trở lại lớn nhất đối với quan hệ hai nước đó là nhân quyền. Ông Ted Osius thừa nhận Việt Nam đã có nhiều tiến triển trong vấn đề này song Việt Nam vẫn cần có những thay đổi nữa để giúp quan hệ hai nước đạt tới mức cao nhất có thể. Ông Ted Osius nói:

“Tôi nghĩ rằng quan hệ Việt – Mỹ sẽ không thể đạt được tới mức cao nhất nếu vấn đề nhân quyền không được giải quyết. Hiện tại, chúng tôi tập trung vào việc khuyến khích Việt Nam sửa đổi một số đạo luật về dân sự và hình sự để cho nhất quán với hiến pháp bởi vì không phải tất cả các đạo luật và điều lệ bổ sung đều phù hợp với hiến pháp. Tôi không nghĩ nhân quyền là vấn đề dễ giải quyết. Tôi không nói rằng hai nước có chung quan điểm trên mọi khía cạnh. Cái quan trọng giờ đây là tiếp tục trao đổi và xem xét những điều ta có thể mở rộng hợp tác.”

Đại sứ Osius đưa ra ví dụ về những tiến triển trong vấn đề nhân quyền, chẳng hạn như việc Hà Nội đã thả nhiều tù nhân lương tâm trong 18 tháng trở lại đây hay quyền tự do tôn giáo và bày tỏ ý kiến chính trị đã được mở rộng một phần nào. Tuy nhiên, ông cho biết Hà Nội vẫn cần có nhiều thay đổi và hai bên vẫn bàn thảo hàng năm về vấn đề này.

Vấn đề nhân quyền từ lâu đã là khúc mắc trong quan hệ Việt – Mỹ. Trong cuộc họp mặt kéo dài một tiếng đồng hồ chiều 24/3 vừa rồi, ông Ted Osius nhắc đến nó không dưới ba lần, cho thấy Mỹ coi trọng vấn đề này như thế nào.

Trong sự kiện của CSIS, một người tham dự là tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, cựu tù nhân chính trị của Việt Nam và đang sống lưu vong ở Mỹ. Ông này đã lên tiếng chỉ trích việc chính phủ Việt Nam xử lý vấn đề nhân quyền. Ông này đặt câu hỏi trong tương lai liệu chính phủ Việt Nam có thể chấm dứt việc bắt những người bất đồng chính kiến hoặc việc trao đổi tù nhân lương tâm lấy lợi ích về ngoại giao hay không.

Trái với đại sứ Ted Osius, đại sứ Phạm Quang Vinh tránh không nhắc tới vấn đề nhân quyền quá nhiều, ngoại trừ tái khẳng định việc Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Ông nói rằng không có một nước nào giống nhau hoàn toàn, chính vì thế việc hai bên tiếp tục đối thoại về nhân quyền là cần thiết.

IMG_1611-400.jpgTiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (đứng) phát biểu tại buổi gặp gỡ giữa hai đại sứ Việt – Mỹ ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế CSIS, Washington DC, ngày 24/3/2015. RFA photo

Vịnh Cam Ranh

Một trong những vấn đề các bên cùng quan tâm trong những ngày qua là việc Mỹ đề nghị Việt Nam không cho Nga sử dụng cảng Cam Ranh để tiếp nhiên liệu cho máy bay ném bom. Washington cho rằng Nga máy bay Nga tiếp nhiên liệu ở đây đã có những hành động khiêu khích gần Guam, nơi mà Mỹ đặt căn cứ không quân.

Trả lời về vấn đề này, đại sứ Phạm Quang Vinh tái khẳng định chính sách độc lập của Việt Nam trong quan hệ ngoại giao. Ông nói:

“Chúng tôi không cho phép mối quan hệ của chúng tôi với một quốc gia làm phương hại tới một nước thứ ba. Chúng tôi mở cảng này cho tất cả các nước về vấn đề hậu cần và nó không phải để làm phương hại tới một nước khác. Về máy bay Nga, chúng tôi không có thông tin về vấn đề này.”

Đại sứ Mỹ cũng khẳng định Washington tôn trọng những thoả thuận của Việt Nam với các nước khác và đổ lỗi cho Nga đã lợi dụng việc được sử dụng cảng Cam Ranh để có hành động khiêu khích. Ông nói:

“Chúng tôi nghĩ Nga đặt Việt Nam vào tình thế khó xử bằng việc lợi dụng những sự sắp xếp này mà thực hiện những hành vi khiêu khích. Vì thế chúng tôi nghĩ rằng lỗi ở đây là ở nước đã lợi dụng những sắp xếp từ trước này để thực hiện những hành vi khiêu khích trên.”

Cảng Cam Ranh có một địa thế quan trọng và từng là căn cứ quân sự của Pháp thời Pháp thuộc và của Mỹ thời chiến tranh Việt Nam. Sau khi Mỹ rời khỏi Việt Nam năm 1975, Liên Xô đã sử dụng cảng này và biến nó trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của liên bang này ở nước ngoài. Hợp đồng này kết thúc năm 2002 song từ đó Nga vẫn được phép sử dụng cảng Cam Ranh.

Dỡ bỏ lệnh cấm vận vũ khí

    Việt Nam tất nhiên là muốn Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí. Nó cũng có một ý nghĩa biểu tượng về mặt chính trị. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ, vì thế tất cả mọi vấn đề đều nên được bình thường hoá, bao gồm cả vấn đề cấm vận vũ khí.
– Ông Phạm Quang Vinh   

Cũng trong cuộc trò chuyện này, đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh cho rằng đã đến lúc Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí đối với Việt Nam, và cho rằng đây là một “biểu tượng chính trị”. Ông nói:

“Việt Nam tất nhiên là muốn Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí. Nó cũng có một ý nghĩa biểu tượng về mặt chính trị. Năm nay, chúng ta kỷ niệm 20 năm bình thường hoá quan hệ, vì thế tất cả mọi vấn đề đều nên được bình thường hoá, bao gồm cả vấn đề cấm vận vũ khí.”

Mỹ dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí sát thương đối với Việt Nam năm ngoái. Ông Ted Osius cho biết nhờ vào đó mà Mỹ đã có thể cung cấp cho Việt Nam một số tàu tuần tra tốc độ nhanh nhằm giúp cho công tác an ninh hàng hải. Tuy nhiên, phía Mỹ và Việt Nam chưa có một thoả thuận mua bán vũ khí nào do Mỹ còn là một đối tác mới và Việt Nam chưa hiểu rõ tiến trình thông qua việc mua bán vũ khí của Mỹ. Ông Ted Osius cũng khẳng định việc dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí hay không cho Việt Nam còn phụ thuộc vào việc Việt Nam có tiến triển gì trong giải quyết vấn đề nhân quyền hay không.

TPP, thương mại, giáo dục và các mặt hợp tác khác

Trong cuộc thảo luận chiều 24/3, hai đại sứ cũng nhắc tới Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (TPP). Cả hai ông đều bày tỏ hy vọng sẽ hoàn tất các vòng đàm phán TPP trong năm nay.

Giáo dục là một mặt hợp tác có thể coi là thành công của Việt Nam và Hoa Kỳ. Theo ông Vinh, trước năm 1995, chỉ có 800 sinh viên Việt Nam theo học ở Mỹ. Tính đến nay, con số này đã lên tới 16.500 sinh viên, đưa Việt Nam trở thành quốc gia đứng hàng nhất ở châu Á về số lượng du học sinh ở Mỹ.

Ngoài những vấn đề trên, hai đại sứ còn nhắc tới nhiều vấn đề hợp tác giữa hai bên như biến đổi khí hậu, khoa học, năng lượng, vân vân.

Hải Ninh tường trình từ Washington.

Nhân quyền vẫn là mảng ‘gai góc’

(BBC) – Đại sứ Hoa Kỳ và Việt Nam nói về hợp tác trong nhiều lĩnh vực cũng như về trở ngại chính để đạt được tối đa tiềm năng giữa hai nước.

150325150708_hoi_thao_hai_dai_su_624x351_bbc_nocredit.jpg
Đại sứ Việt Nam (ngoài cùng bên trái) và đại sứ Mỹ (ngoài cùng bên phải) thảo luận

Tại cuộc thảo luận ở Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS) tại Washington DC hôm 24/3, Đại sứ hai nước nói về tiềm năng hợp tác song phương trong bối cảnh Hà Nội và Wasington đánh dấu 20 năm bình thường hóa quan hệ.

Trong phần hỏi đáp giao lưu với khách mời, một số chủ đề được nêu ra bao gồm hợp tác an ninh quốc phòng, môi trường, kinh tế và nhân quyền.

Tuy nhiên chủ đề gây tranh cãi về việc Nga dùng Vịnh Cam Ranh dường như gây chú ‎ ý trước tiên.

Một phóng viên của Reuters đặt câu hỏi cho Đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh rằng Hà Nội phản ứng ra sao với quan ngại của Hoa Kỳ trước việc truyền thông đăng tải mới đây về việc Cam Ranh được dùng để tiếp nhiên liệu cho chiến đấu cơ của Nga.

Phóng viên này này hỏi rằng việc này có vẫn đang tiếp diễn hay không và điều này có hệ lụy ra sao với khả năng Hoa Kỳ dỡ bỏ thêm lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Việt Nam.

“Điều đầu tiên tôi muốn đề cập là chúng tôi có chính sách độc lập trong quan hệ ngoại giao, chúng tôi sẽ không để quan hệ của mình với bất kỳ nước nào gây hại đến bên thứ ba hay nước thứ ba.

“Việt Nam mở cửa cho tất cả các nước sử dụng dịch vụ hậu cần ở cảng Cam Ranh, và điều đó nên được hiểu là không gây hại đến bất kỳ nước nào. Việt Nam và Hoa Kỳ đã thảo luận vấn đề này và có sự hiểu nhau rõ ràng”, Đại sứ Phạm Quang Vinh nói.

Đại sứ Vinh cũng nói thêm rằng “Chúng tôi không có thông tin nào về việc này [tiếp nhiên liệu cho phi cơ ném bom của Nga]”.

Trả lời câu hỏi này, Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius nói rằng “Hoa Kỳ tôn trọng những thỏa thuận của Việt Nam với các nước và chúng tôi không ở vị trí để bảo Việt Nam cách họ tạo dựng quan hệ với nước nào và như thế nào. Chúng tôi vui mừng thấy Việt Nam có quan hệ tốt với các nước khác.”

Tuy nhiên ông Osius nói rằng “Nga đã đưa Việt Nam vào thế khó xử bằng việc sử dụng thỏa thuận hai bên có với nhau để triển khai các hoạt động có tính khiêu khích.”

Bán vũ khí

Về câu hỏi liên quan tới lệnh cấm bán vũ khí sát thương cho Hà Nội, Đại sứ Vinh nói:

“Chắc chắn Việt Nam muốn Hoa Kỳ bỏ cấm bán vũ khí hoàn toàn. Đó cũng là biểu tượng chính trị nữa vì năm nay kỷ niệm 20 năm bình thường hóa nên mọi thứ nên được bình thường, bao gồm cả việc này.”

BBCquote
Việt Nam mở cửa cho tất cả các nước sử dụng dịch vụ hậu cần ở cảng Cam Ranh, và điều đó nên được hiểu là không gây hại đến bất kỳ nước nào.
Đại sứ Việt Nam Phạm Quang Vinh

“Ngoài thủ tục mua bán thì cũng phải nói đến nhu cầu của hai phía chúng tôi cần gì và phía Mỹ có thể cung cấp gì.”

Đại sứ Hoa Kỳ Ted Osius nói rằng “Hoa Kỳ cung cấp tàu tuần tra biển có tốc độ cao cho Việt Nam có cơ hội bán và chuyển giao công nghệ nhưng chưa có hợp đồng nào cả vì cần có thời gian.

Ông Osius nói rằng “nếu câu hỏi có tính giả định là bao giờ gỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm thì câu trả lời phụ thuộc vào chủ đề đã được nêu tại buổi thảo luận hôm nay là nhân quyền”.

Nhân quyền là chủ đề mà ông gọi là “hóc búa nhất.”

Nhân quyền

Chủ đề nhân quyền được đưa ra khi luật gia Cù Huy Hà Vũ đặt câu hỏi cho Đại sứ Phạm Quang Vinh.

Ông Vũ nói “Chính phủ Việt Nam không thể tiếp tục nói rằng họ đã làm tất cả cho chính sách về nhân quyền và Việt Nam và dựa vào các chuẩn mực nhân quyền quốc tế.”

“Câu hỏi của tôi cho ông Phạm Quang Vinh là trong tương lai gần chính phủ Việt Nam có thể ngưng trấn áp giới bất đồng chính kiến ở Việt Nam và ngăn cản giới bất đồng và các tù nhân lương tâm liên lạc với các nước phương Tây trong đó có Hoa Kỳ hay không?”

Đại sứ Vinh trả lời: “Việt Nam đã tham gia vào các công ước quốc tế chính, và chúng tôi bác bỏ việc nói rằng có tù nhân lương tâm ở Việt Nam. Chúng tôi đang có các cuộc đối thoại với Hoa Kỳ và trao đổi hữu ích và có bất đồng nhưng có sự hiểu nhau thông qua đối thoại và tham vấn.”

“Chúng tôi có luật pháp và bảo đảm rằng ai cũng bình đẳng trước pháp luật,” ông Vinh nói.

Trong khi đó Đại sứ Osius nói rằng “Tôi không nghĩ rằng quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam đạt được tiềm năng tối đa cho tới khi có những tiến bộ đáng kể và có thể chứng minh được về nhân quyền.”

“Trong lúc này có nỗ lực chung của hai phía. Phía Việt Nam là sửa đổi bộ luật hình sự cho phù hợp với hiến pháp để có sự nhất quán.”

BBCquote
Tôi không nghĩ rằng quan hệ Hoa Kỳ Việt Nam đạt được tiềm năng tối đa cho tới khi có những tiến bộ đáng kể và có thể chứng minh được về nhân quyền.
Đại sứ Mỹ Ted Osius

“Đối thoại để xem các điều khoản có thể được thay đổi ra sao vì không phải điều nào trong bộ luật hình sự cũng phù hợp với hiến pháp và chúng tôi làm như vậy thông qua đối thoại và tham vấn với cố vấn pháp lý của Hoa Kỳ đóng tại Hà Nội với Bộ Tư pháp Việt Nam.”

“Và tôi hy vọng rằng sẽ là điều tốt đẹp nếu trong quá trình sửa đổi đó, Việt Nam ngưng việc bắt người thông qua việc áp dụng các điều luật gây tranh cãi.”

“Tôi không biết liệu chúng tôi và Việt Nam có đi tới đồng thuận về điều đó hay không nhưng chúng tôi có đối thoại hữu ích nên hãy kiên nhẫn và chúng ta sẽ có tiến bộ về vấn đề này.”

“Tôi không nghĩ là chủ đề nhân quyền dễ giải quyết chút nào. Có một số tiến bộ là rất tuyệt, nhưng tôi không nghĩ rằng chúng ta đồng thuận với nhau về tất cả các vấn đề.”

Tại sự kiện này, Giáo sư Nguyễn Mạnh Hùng từ Đại học George Mason đã hỏi Đại sứ Mỹ về l‎ý do khiến Hoa Kỳ không công nhận Việt Nam là nền kinh tế thị trường.

Ông Osius nói ông tin tưởng là có thể hoàn tất đàm phán TPP trong năm nay và nếu thông qua được đàm phán thì đó có thể xem là giải quyết cơ bản khúc mắc trong khái niệm về quy chế kinh tế thị trường.

Đại sứ hai nước cũng đã cập nhật khán giả và đại biểu tham gia sự kiện này về một loạt các lĩnh vực như hợp tác an ninh biển và quốc phòng, môi trường, giáo dục, y tế, hạt nhân dân sự.

Đại sứ Vinh nhấn mạnh về mục tiêu tăng “gấp đôi” mậu dịch song phương trong khi Đại sứ Osius nói ông đặt nhiều hy vọng có thể mở đường bay trực tiếp giữa hai nước trong năm nay.

Việt Nam: Đáp án cho bài toán nhân quyền

Jonathan D. London – Chuyến công du Washington sắp tới của Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam, sẽ diễn ra vào một thời điểm hết sức quan trọng đối với Việt Nam. Là một thời điểm mà các yếu tố địa-chính trị, khu vực, và nội-địa đang kết hợp để nâng cao tầm quan trọng của việc phát triển và bảo vệ nhân quyền ở trong nước. Việc cần kíp là làm sao thuyết phục giới lãnh đạo cho họ hiểu rằng mở rộng quyền công dân sẽ mang đến nhiều lợi ích đáng kể cho Việt Nam, trong nước cũng như trên trường quốc tế.

Việt Nam đang tự hại mình bởi các quy chế bảo vệ nhân quyền còn quá yếu. Ở trong nước, nó bào mòn hiệu năng của nền kinh tế và làm suy yếu tính chính danh của Đảng cầm quyền. Chà đạp lên dân quyền cũng làm xấu hình ảnh của Việt Nam trên thế giới và làm tổn hại uy tín của nhà nước, ngay lúc Việt Nam đang hết sức cần sự trợ giúp của quốc tế.

Pháp trị, trước hết, có nghĩa là sự tuyệt đối thượng tôn luật pháp chứ không phải là ảnh hưởng của quyền lực chuyên chế, và loại bỏ hẳn tính độc đoán, các đặc quyền, và sự tùy tiện của nhà cầm quyền.— Albert Venn Dicey

Dẫu biết thổi phồng những thành tựu cũng chẳng ích gì, nhưng phải công nhận trong những năm gần đây quyền tự do chính trị và dân sự ở Việt Nam đã được cải thiện một cách đáng kể. Sự cải tiến này đến từ những quyết định và tính toán của thành phần cao cấp trong Đảng, cộng với các nỗ lực đầy quyết tâm của tập hợp đa dạng nhiều người trong cũng như ngoài Đảng để thay đổi tình hình. Hiện nay, Đảng đang quản lý một mảnh đất nơi các quyền tự do chính trị và dân sự đang được bàn thảo và tranh luận công khai, tuy rằng các cuộc thảo luận này thường vẫn còn diễn ra trên mạng chứ chưa phải ở nơi công cộng. Dù gì chăng nữa, phải công nhận đời sống chính trị của Việt Nam ngày càng đa nguyên và cởi mở hơn: rõ ràng có một sức mạnh đáng kể đang trỗi dậy và rất khác với chế độ toàn trị kiểu Trung Quốc.

Các nhà lãnh đạo của Việt Nam hiện có một cơ hội lịch sử để vừa gia tăng hiệu quả kinh tế của đất nước, vừa củng cố tính chính danh của họ đồng thời nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Nhưng muốn làm được điều này họ phải thiết lập những quy chế mới để cân bằng hai điều kiện mà nhà nước nào cũng phải bảo đảm: quyền công dân và trật tự xã hội. Có ba lĩnh vực cần phải đặc biệt quan tâm.

Tự do ngôn luận

Người Việt Nam, cả trong lẫn ngoài Đảng, đã tìm được tiếng nói chính trị của mình và không ai muốn đánh mất nó. Internet đã trở thành một diễn đàn sống động cho việc công khai phân tích các nguồn tin chính thống, khôi phục những truyền thống phong phú của người Việt như tranh luận, phê phán xã hội và khảo sát trí tuệ. Mặc dù giới chóp bu không ưa gì những kẻ lợi dụng Internet để vạch trần các tệ nạn trong nội bộ Đảng và căm ghét các thành phần chống Đảng, nhưng thực tế cho thấy Internet là một phương tiện cực tốt cho phép người dân góp tiếng nói trong một môi trường mở. Những biện pháp thất nhân tâm – như bắt bớ và giam cầm các bloggers hoặc những người bất đồng chính kiến – sẽ không giúp Việt Nam gầy dựng một xã hội văn minh đặt trên nền tảng trí năng như các nhà lãnh đạo mong muốn, và dĩ nhiên sẽ không được cộng đồng thế giới tôn trọng. Để đạt được mục đích đó nhà nước cần phải thả các tù nhân chính trị cũng như đảm bảo quyền tự do ngôn luận và tư tưởng của người dân.

Tự do lập hội

Bản thân Đảng ra đời dưới hình thức một tổ chức bất hợp pháp gắn liền với mục tiêu công bằng xã hội và độc lập dân tộc. Vì vậy không nên xem việc bảo vệ quyền tự do lập hội là một mối đe dọa đối với sự sống còn của Đảng. Hình thành từ những nỗ lực như công cuộc đấu tranh chống lại sự bóc lột tàn bạo ở những đồn điền cao su của Pháp chắc chắn Đảng hiểu rằng việc tin cậy vào những công đoàn do chủ nhân lao động điều khiển sẽ đặt lợi ích của các chủ nhân ông và nhà đầu tư lên trên quyền lợi của người lao động. Dân lao động chân tay không phải là những nhà cách mạng. Họ chỉ muốn một mức lương đủ sống và những quyền cơ bản của mình được tôn trọng mà thôi.

Nếu thỏa thuận giữa 12 quốc gia về Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) thành công thì cả người lao động lẫn người sử dụng lao động Việt Nam sẽ được lợi. Bằng cách tăng cường và bảo vệ quyền lợi cho công nhân, Việt Nam có thể thu hút những khoản đầu tư mới, tạo uy tín về trách nhiệm xã hội, và tách biệt mình với các đối thủ cạnh tranh. Vấn đề quyền tự do cho các công đoàn có thể sẽ được đặt ra trước Quốc hội Mỹ khi họ phê chuẩn hiệp định TPP mà trong đó bao gồm cả Việt Nam. Nhưng lý do chính đáng hơn để Việt Nam gia tăng quyền lợi cho công nhân là để nâng cao mức sống của người lao động, đồng thời tăng sức hấp dẫn của Việt Nam như một điểm đến cho các nhà đầu tư nước ngoài khi khách hàng của họ không còn muốn mua sản phẩm của những công nhân bị bóc lột.

Bên ngoài công xưởng, chính phủ cần phải khuyến khích thay vì đàn áp các tổ chức nghiên cứu độc lập. Cấm người khác chỉ trích hay bất đồng ý kiến với mình là tự chuốc lấy thất bại. Tương tự như vậy, thay vì đe doạ hay bắt bớ bằng vũ lực, chính phủ phải cho người dân quyền biểu tình ôn hòa. Hệ thống công an phải được cải tổ để trở nên trong sach và trong sáng hơn, và những hành vi phạm pháp phải được xét xử nghiêm nhặt. Các nhóm cực đoan hay quá khích sẽ không đủ sức hấp dẫn để bành trướng khi người dân có các quyền tự do căn bản như biểu tình trong ôn hoà, hoặc đưa kiến nghị lên chính phủ mà không sợ bị trù ếm.

Quyền tự do báo chí

Không có một nền báo chí thực sự độc lập thì trách nhiệm giải trình và tính minh bạch của chính phủ sẽ bị mai một. Chẳng hạn như khi một tờ báo nọ (có lượng phát hành rất nhỏ) đăng tin một nhân vật trong Ủy Ban Phòng Chống Tham Nhũng của Đảng đã thu gom tài sản bằng những phương cách bất hợp pháp, tổng biên tập bị ép phải từ chức. Lẽ ra điều cần hơn hết trong lúc này là một ngành báo chí độc lập, nếu Việt Nam thật sự muốn phòng chống tệ nạn tham nhũng cũng như cải thiện tinh thần trách nhiệm của nhà nước. Cần phải có những chính sách để thúc đẩy thay vì ngăn chặn quyền tự do báo chí. Những người có tinh thần cải cách trong bộ máy lãnh đạo chính trị ở Việt Nam phải tìm mọi cách thuyết phục những đồng nghiệp bảo thủ của mình dẹp bỏ những đề xuất độc hại nhằm hạn chế quyền độc lập của nhà báo.

Năm 2015 đánh dấu 20 năm sự kiện bình thường hóa quan hệ Mỹ-Việt, và 40 năm kết thúc cuộc chiến tranh bi thảm của hai nước. 2015 còn là kỷ niệm 70 năm bản Tuyên-Ngôn Độc-Lập của Việt Nam, trong đó Hồ Chí Minh đã hùng hồn tuyên bố sự ra đời của một nước Việt Nam “Tự do và độc lập”. Không lâu sau đó Hiến pháp 1946 đã hứa hẹn “tự do ngôn luận”, “tự do lập hội” và “tự do báo chí”. Kể từ năm 1945 đến nay Việt Nam đã trải qua một đoạn đường chông gai đầy khó khăn. Nếu các nhà lãnh đạo Việt Nam thành tâm cam kết thực hiện và đảm bảo nhân quyền cho người dân thì một nước Việt Nam hùng mạnh, độc lập và phú cường sẽ không còn xa tầm tay với.

Dr. Jonathan D. London  là một giáo sư khoa Nghiên cứu châu Á và quốc tế và là thành viên quan trọng của Trung tâm nghiên cứu châu Á của Đại học Hồng Công (City University of Hong Kong). Ông đã xuất bản một số tác phẩm, trong đó có Politics in Contemporary Vietnam (2014 Palgrave Macmillan) và một cuốn sắp xuất bản có tựa đề Routledge Handbook of Contemporary Vietnam. Bài gốc nguyên được viết cho Học Viện Chiến Lược và Quốc tế học (Hoa Kỳ).

[:-/] Cấm xuất cảnh thu hộ chiếu vì sợ sự thật? (RFA) – Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh người Điều hành Ban Truyền thông Dòng Chúa Cứu Thế, thành viên Hội đồng Liên Tôn Việt Nam, đã bị Công an Tân Sơn Nhất thu hộ chiếu cấm xuất cảnh vào trưa ngày 22/3/2015 khi ông làm thủ tục đi Philippines. Linh mục An tôn Lê Ngọc Thanh là một trong ba người Việt Nam nằm trong danh sách 100 anh hùng thông tin thế giới được Tổ chức Phóng viên Không Biên giới (RSF) vinh danh năm 2014. Vì sao Chính quyền Việt Nam lại có hành động vi phạm quyền cơ bản của công dân đối với Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh?

Từ Saigon TS Phạm Chí Dũng nhận định: “ Họ lo sợ rằng những nhân vật bất đồng chính kiến hoặc đối lập ở trong nước nếu có điều kiện ra nước ngoài sẽ mang tiếng nói của người trong nước ra nước ngoài và cho cộng đồng Việt Nam ở nước ngoài hiểu thêm về tình hình ở Việt Nam và đặc biệt có vận động quốc tế để cho liên minh Châu âu, các nghị viện ở Hoa Kỳ, Canada ở Úc….hiểu thêm rõ về tình trạng vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Nhà nước Việt Nam luôn luôn muốn bưng bít chuyện đó thành thử việc họ cấm, tôi nghĩ cũng chẳng đặng đừng. Nhưng mà với não trạng tư duy và bản lĩnh quá tệ của họ như hiện nay thì tôi nghĩ họ không còn cách nào khác.”

Quyền con người dưới chế độ một đảng và công an trị

Câu chuyện Linh mục An Tôn Lê Ngọc Thanh của Dòng Chúa Cứu Thế bị thu giữ hộ chiếu và cấm xuất cảnh và một danh sách dài những trường hợp tương tự bao gồm các nhà báo công dân, blogger, nhà hoạt động xã hội dân sự, cho thấy một hình ảnh khác với những gì gọi là xu hướng cải cách không thể đảo ngược trong thời kỳ Việt Nam chuẩn bị hội nhập sâu hơn với thế giới.

Qua câu chuyện về chuyến đi của Bộ trưởng Công an Trần Đại Quang tại Hoa Kỳ vừa rồi, TS Phạm Chí Dũng cho biết rất ngạc nhiên khi ghi nhận báo chí Việt Nam tường thuật là, Chính phủ Hoa Kỳ đã đánh giá cao về những cải cách của Việt Nam; cho rằng Hiến pháp 2013 của Việt Nam là một trong những Hiến pháp tiến bộ trên thế giới và Việt Nam tuân thủ tôn trọng các quyền con người. Theo TS Phạm Chí Dũng đây không phải là lần đầu tiên báo chí Việt Nam tường thuật với một thái độ đầy hân hoan về vấn đề này. Ông nhớ lại trước đây có một lần Đại sứ quán Hoa Kỳ đã phản ứng cho rằng báo chí Việt Nam nói không đúng về một tuyên bố của họ.

TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh:

“Nếu nói quyền con người bị vi phạm thậm chí bị chà đạp ở Việt Nam thì có thể nói ngoài tự do đi lại, xuất cảnh, còn nhiều quyền khác. Chẵng hạn mới đây chúng ta nhìn vào cái quyền được hưởng bầu không khí trong lành, được hưởng về môi trường tự nhiên, môi trường sống đã bị chà đạp như thế nào và có ít nhất 2.000 cây xanh đã bị “hạ sát” bị “chặt đầu” như vậy thì người dân còn lại điều gì. Người dân không có quyền sở hữu tư nhân về đất đai, không có uyền tự do đi lại, không có được quyền tự do lập hội, cũng chẳng có quyền tự do tuần hành và biểu tình và cho tới giờ ngay cả việc trưng cầu dân ý đưa ra mấy chục năm rồi nhưng mà chưa có luật. Rất nhiều thứ quyền như vậy ở Việt Nam chưa có, mà như thế làm sao có thể nói là một nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.”

Theo các nhà quan sát chính trị, Việt Nam đã đi một bước dài sau thời kỳ ngăn sống cấm chợ, công dân đã được cấp hộ chiếu nhanh chóng phù hợp với thời kỳ hội nhập cuối thập niên 1990. Tuy vậy chiếc vòng kim cô dưới ảnh hưởng chế độ một Đảng và công cụ công an trị vẫn là một cản trở cho những bước tiến tới dân chủ nhân quyền thực chất. Người dân cầm hộ chiếu hợp lệ trong tay, vé máy bay đã có nhưng bước vào sảnh đợi ở phi cảng với sự hồi hộp. Nhân viên an ninh cửa khẩu có thể ngăn chặn việc xuất cảnh thậm chí thu giữ hộ chiếu mà không cần nêu lý do. Đó cũng là lý do gần đây những người bị cấm xuất cảnh đã tụ tập lại thành một tổ chức xã hội dân sự để bảo vệ quyền công dân của mình.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.