Nông dân Việt Nam làm gì cũng ‘mạt’

Posted: March 31, 2015 in Uncategorized
Tags:

(NV) – Nhiều nông dân từng vay mượn để mua bò sữa nhằm thay đổi sinh kế nay đang rao bán bò sữa theo giá bò thịt vì sữa bò không có chỗ tiêu thụ.

� Xem thêm: Mong đợi của nông dân + Nhà nông Việt và những “quả đắng” với tư thương Trung Quốc.


Nông dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng lọc sữa bò để mang đi bán dạo. (Hình: Tuổi Trẻ)

Đó là thông tin do ông Trần Trường Sơn, phó chủ tịch Hội Nông Dân Sài Gòn cung cấp. Ông Sơn cho biết thêm, riêng tại Củ Chi đã có 322 gia đình nông dân không ký được hợp đồng bán sữa cho các công ty mua sữa như Vinamilk và Friesland Campina. Cũng vì vậy sữa bò tươi do họ vắt ra phải đổ bò.

Điều tương tự đã từng xảy ra ở Lâm Đồng. Do thấy nuôi bò sữa có thu nhập ổn định, ít rủi ro hơn trồng trọt. Nhiều gia đình nông dân ở Đà Lạt đã vay tiền mua bò để nuôi lấy sữa bán cho công ty Dalat Milk. Cuối cùng, vì mỗi ngày, công ty Dalat Milk chỉ có khả năng tiêu thụ khoảng 6.5 tấn sữa bò tươi, trong khi lượng sữa mà nông dân tỉnh Lâm Đồng vắt được lên tới 9 tấn/ngày nên hồi trung tuần tháng giêng năm nay, mỗi ngày, nông dân tỉnh Lâm Đồng phải đổ bỏ vài tấn sữa.

Vào thời điểm đó, đại diện Sở Nông Nghiệp-Phát Triển Nông Thôn tỉnh Lâm Đồng thừa nhận đã không “kiểm soát số lượng bò sữa, khiến số lượng đàn bò tăng quá nhanh, lượng sữa tươi thu được vượt qua khả năng thu mua của các công ty chế biến sữa” và làm nông dân điêu đứng.

Cuối tuần qua, khoảng 30 gia đình nuôi bò sữa ở huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng đã kéo đến công ty Dalat Milk đòi công ty này thanh toán tiền mua sữa. công ty Dalat Milk xác nhận họ đang thiếu nông dân nuôi bò sữa ở huyện Đơn Dương khoảng 4 tỉ đồng. Tổng giám đốc công ty Dalat Milk phân trần, họ đang bị các đại lý phân phối sữa thiếu khoảng 10 tỷ đồng nên chưa có khả năng trả tiền sữa cho nông dân.

Nếu những công ty như Dalat Milk phá sản, sẽ có hàng trăm gia đình nông dân nuôi bò sữa ở Lâm Đồng phá sản theo. Ngày 22 tháng 1, 2015, nhiều báo trong đó có tờ Kiến Thức đưa tin một số nông dân ở Lâm Đồng đã đổ sữa bò ra đường và ngay trước cửa công ty thu mua sữa vì bán không được.

Tuy trẻ em Việt Nam suy dinh dưỡng, số lượng trẻ không được uống đủ lượng sữa cần thiết để phát triển thể lực rất lớn nhưng chế độ Hà Nội không bận tâm đến điều đó. Họ cũng chẳng để ý đến việc phát triển các nhà máy chế biến sữa hoặc hỗ trợ những nhà máy này nhằm tạo thêm việc làm, mở thêm sinh kế cho nông dân. Trong khi đó, theo các thống kê về xuất nhập cảng, mỗi năm, Việt Nam phải chi hàng tỷ Mỹ kim để nhập cảng nông sản.

Với một chính quyền vận hành theo kiểu như vậy, nông dân Việt Nam càng ngày càng mạt trong việc loay hoay tìm sinh kế để tồn tại và không có con đường này dẫn đến thịnh vượng.

Năm ngoái, nông dân Việt Nam nhiều nơi khóc ròng vì cao su không có đầu ra nên phải chặt bỏ cao su để chuyển sang trồng cà phê, hạt tiêu. Trước đó bảy năm, họ đã từng đốn bó cà phê, điều để trồng cao su vì trồng cà phê và điều mà bị lỗ nặng.

Tuy nhiên năm ngoái không chỉ có chuyện đốn bỏ cao su. Vào tháng 3 năm ngoái, hàng trăm ngàn tấn dưa hấu của nông dân miền Tây trở thành rác vì thương nhân Trung Quốc không còn mua dưa hấu với số lượng lớn như năm trước đó.

Đến tháng 8 năm 2014, nông dân trồng thanh long ở Bình Thuận phải đem thanh long cho bò ăn vì việc xuất cảng thanh long gặp trở ngại. Tháng 12 năm ngoái, cà chua ở Lâm Đồng, bí đỏ ở Khánh Hòa cũng rơi vào tình trạng tương tự… (G.Đ)

Mong đợi của nông dân

Hữu Nguyên (ĐĐK) – Một thực tế đáng quan ngại ở nông thôn đã và đang diễn ra là hầu hết con em nông dân đều muốn thoát ly khỏi nghề nông. Lên thành phố, học trường nào cũng được, làm việc gì cũng xong miễn là không phải trở lại với quê nhà. Vậy thử hỏi, lực lượng lao động còn tồn tại ở nông thôn ngày nay họ là những ai? Liệu họ có phải là thế hệ kế thừa sáng giá các kinh nghiệm nông nghiệp cổ truyền, cũng như khả năng tiếp thu tri thức hiện đại cho nền nông nghiệp công nghệ cao hay không?


Một nắng hai sương – Ảnh: Hoàng Long

Chiều dài lịch sử của người Việt cho thấy nông dân luôn chiếm vai trò và vị trí then chốt trong mọi sự kiện gắn liền với sự hưng vong của đất nước. Họ luôn là lực lượng chủ lực trong tất cả các mặt trận, thời chiến cũng như thời bình. Năm 2014 vừa qua, xuất khẩu nông sản của Việt Nam đạt trên 30 tỷ USD, chiếm 1/3 tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, cho thấy vai trò và sự đóng góp của khu vực này vào nền kinh tế quốc dân. Chưa hết, chính trong lĩnh vực nông nghiệp người Việt Nam đã cho thế giới nhận thấy một Việt Nam đầy tiềm năng, thành viên có nhiều đóng góp tích cực vào an ninh lương thực toàn cầu, nhiều mặt hàng nông sản xuất khẩu chiếm vị trí quan trọng trên thị trường quốc tế.

Thế nhưng, 70% dân số Việt Nam sống tại nông thôn hiện đang phải chịu nhiều thiệt thòi về an sinh xã hội, thiên tai, môi trường, cơ sở hạ tầng… Họ luôn bị đẩy về phía nhóm yếu thế trong quan hệ với các thành phần khác khi tham gia vào các chuỗi sản xuất – tiêu thụ và xuất khẩu nông sản. Từ lâu Chính phủ cũng đã nhận ra sự bất cập này nên cũng từng ban hành nhiều chính sách hỗ trợ nông dân. Tuy nhiên, đáng tiếc là phần lớn các sự hỗ trợ này lại thông qua các tầng lớp trung gian, hoặc các điều kiện hỗ trợ chưa sát thực tế nên người nông dân thực sự hưởng lợi từ các nguồn lực quốc gia nói trên chưa đáng kể.

Người nông dân Việt Nam hiện cũng đang phải đối mặt với nhiều bất cập trong quản lý xã hội khi hàng ngày họ phải bỏ ra nhiều khoản tiền lớn hơn người thành thị để có được những tiện nghi sinh hoạt cần thiết. Chẳng hạn như người thành phố được nhà nước làm đường tới tận cửa nhà, có khi họ còn chiếm luôn vỉa hè để kinh doanh thu lợi. Trong khi người nông thôn phải tự bỏ tiền ra đóng góp vào việc làm đường giao thông thôn xã, có nơi ưu tiên lắm thì được cơ chế  “nhà nước và nhân dân cùng làm”. Tương tự, xây dựng mạng lưới điện, nước sinh hoạt cho khu vực nông thôn cũng đòi hỏi khá nhiều sự đóng góp của nông dân. Chưa kể, sản phẩm vật tư nông nghiệp, cây con giống, nông sản nhập lậu,… luôn có nguy cơ bị làm giả, làm nhái, kém chất lượng gây hậu quả nghiêm trọng cho người nông dân mà các quan chức ngành chức năng gần đây từng phát biểu là phải bó tay, không thể kiểm soát được do lực lượng quá mỏng, quá yếu.

Các chính sách về quy hoạch, sử dụng đất đai trong nhiều năm qua cũng chưa thực sự coi trọng quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người nông dân. Đặc biệt là quyền sử dụng đất đai ổn định lâu dài chưa được ghi nhận minh bạch nên vẫn chưa mang lại niềm tin thật sự cho người nông dân nhằm có thể  khuyến khích sự đầu tư quy mô lớn.  Trong khi nhiều đất rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và không ít đất đai các loại khác đang rơi vào tay hàng loạt doanh nghiệp với số lượng lớn thông qua các dự án kinh tế có vẻ rất hiệu quả trên giấy song phần lớn chỉ nhằm mục tiêu bao chiếm đất đai là chính. Hàng loạt nông dân buộc phải từ bỏ ruộng vườn, do bị mất đất từ các dự án phát triển đô thị, khu công nghiệp và hàng trăm lý do khác…. Nhiều người trong số họ không được bồi thường đầy đủ, thỏa đáng nên buộc phải khiếu kiện. Do chính sách và pháp luật bất cập, rối rắm lại thêm sự chi phối của các nhóm lợi ích ở địa phương nên việc giải quyết các khiếu kiện liên quan tới thu hồi đất đai trong nhiều năm qua hầu hết là không hiệu quả dẫn tới khiếu kiện càng kéo dài, bức xúc, gây phức tạp và bất ổn xã hội. Theo Thanh tra Chính phủ, không dưới  70% số vụ khiếu kiện kéo dài, khó giải quyết trong những năm gần đây có nội dung liên quan tới đất đai. Người nông dân thắc mắc, tại sao khi đất đai đã cho nhà đầu tư thuê làm khu công nghiệp, dự án phát triển đô thị hay làm sân golf, nếu Nhà nước muốn thu hồi lại để làm đường sá hay công trình khác thì phải thương lượng với nhà đầu tư để mua lại quyền sử dụng đất theo giá thị trường. Trong khi với nông dân thì lại thu hồi đất nông nghiệp và áp đặt giá đền bù  “theo quy định của nhà nước”.

Trong điều kiện kinh tế thị trường, khi mà các ngành nghề khác đều được “cởi trói”, mạnh mẽ thay đổi thế chế quản lý để bắt kịp đà phát triển chung của kinh tế thế giới thì người nông dân không chỉ lao động cần cù, chăm chỉ là đủ mà còn phải trở thành người lao động có tri thức và sáng tạo. Muốn vậy, về mặt chính sách, trước hết Nhà nước phải tạo điều kiện để giữ chân những người con tinh hoa của nông dân trở về với nông thôn, nông nghiệp. Họ phải có cơ sở để thực hiện các ước mơ, các kế hoạch làm giàu bằng tri thức và khoa học nông nghiệp hiện đại trong nền kinh tế hội nhập toàn cầu. Thực tế đòi hỏi cần có sự thay đổi quyết liệt về tư duy đầu tư cho tam nông, đổi mới cơ bản các chính sách hỗ trợ cho nông dân gắn liền với quyền và lợi ích hợp pháp, thiết thân của họ. Cần chấm dứt các chính sách tình thế, đối phó, lắt nhắt, theo đuôi… Và nhất là sử dụng nguồn lực quốc gia hỗ trợ nông dân nhưng lại thông qua các nhóm lợi ích trung gian mà nhà chức trách khó có thể kiểm soát.

Người nông dân thực sự cần được giải phóng khỏi gánh nặng của các chính sách bất cập, bất hợp lý và nhất là mang tính đối phó, tình thế, chỉ có lợi cho các nhóm lợi ích trung gian hơn là cho chính họ, cho đòi hỏi của sự phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tình hình hiện nay.

[:-/] Chạnh lòng khi nghĩ về người nông dân Việt Nam (VNN 22/02/2015) – Ông bà ta nói: biết người biết ta, trăm trận trăm thắng. Trong lĩnh vực nông nghiệp, suốt gần 40 năm sống trong hòa bình, nông nghiệp đã giúp ổn định xã hội, đưa đất nước Việt Nam đứng vào hàng nhất nhì thế giới về xuất khẩu gạo, cà phê, cao su, tiêu, khoai mì, thủy sản… Nhưng người nông dân làm ra sản phẩm ấy vẫn là tầng lớp có thu nhập thấp và bấp bênh. Cũng là người Đông Nam Á, người Nhật Bản chỉ cần 15 năm, và người Hàn Quốc chỉ cần 25 năm để đạt tới mức an sinh và sung túc cho nông dân. Còn phần lớn nông dân Việt Nam đến nay chỉ có thu nhập từ đủ đến thiếu ăn.

…Liên tưởng đến Việt Nam phần lớn chỉ có người không học, không có bằng cấp gì thì mới làm ruộng. Ông nông dân Đam Mạch hoặc nông dân Nhật Bản sản xuất theo đúng quy trình kỹ thuật do ngành nông nghiệp khuyến cáo, còn ông nông dân Việt Nam thì làm theo kinh nghiệm lão nông chứ ít theo đúng khuyến cáo, ngoại trừ nông dân có ký hợp dồng sản suất theo “Liên kết bốn nhà”.

Nông dân Việt Nam sản xuất như thế nên luôn có giá thành rất cao, khó cạnh tranh. Thí dụ trong sản xuất lúa, người sản xuất theo kinh nghiệm lão nông (sạ quá dày, không bón phân lót, bón quá nhiều phân đạm, quyến rũ nhiều sâu bệnh) giá sản phẩm suất xuất 1kg lúa có thể lên tới 3.800 – 4.000 đồng. trong khi người sản xuất theo quy trình GAP trong các hợp đồng ” Liên kết bốn nhà” thì giá thành một kg lúa chỉ có 2.300 – 2.500 đồng nhờ bón đúng phân cân đối, và bón lót, cùng sạ thưa, ít sâu bệnh. Hoặc trong ngành đường mía, nông dân Việt Nam trồng 1 tấn mía phải tốn từ 50 -55 đô la mỹ,trong khi đó Thái Lan mất 30 đô la, Úc 20 đô la, Brazil 16 đô la.

Một lý do khác khiến giá thành sản xuất tăng cao là áp dụng kỹ thuật làm trái thiên nhiên. Lấy trường hợp sản xuất lúa. Tại Thái Lan, đại đa số nông dân trồng lúa trúng mùa chất lượng cao, nhưng năng suất chỉ đạt 2,8 – 3,2 tấn/ha. Họ đợi có mưa mới lo cày bừa chuẩn bị cấy lúa. Khi lúa lớn lên, người ta chỉ bón vừa đủ cân đối và cứ để trời mưa nuôi lúa đến khi thu hoạch thì cũng dứt mưa. Họ ít tốn thuốc trừ sâu bệnh và không tốn nước thủy lợi. Còn nông dân Việt Nam dung kỹ thuật mới để tăng 2-3 vụ lúa cao sản, ngắn ngày. Trong mùa khô thì lấy nước thủy lợi vào cày bừa; trong mùa mưa thì bơm nước ra cho cạn ruộng để bừa trục đất. Nông dân bón phân đạm nhiều để thấy màu xanh của cây lúa, nhưng vì thế đồng ruộng quyến rũ nhiều sâu bệnh.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long là như thế, còn ở Đồng bằng sông Hồng miền Bắc, trồng lúa càng tốn kém: Quanh năm người nông dân trồng lúa như chiến đấu với bốn “Kẻ thù” là xuân, hạ, thu, đông. Mùa nào cũng phải chống rét hại mạ non mới cấy; mùa hè thì chống hạn, mùa thu thì chống úng, chống bão. Tất cả đều rất tốn kém.

Nhà nông Việt và những “quả đắng” với tư thương Trung Quốc

(VNN) – Gần đây, một số tỉnh ở phía Nam lại xuất hiện tình trạng thương lái Trung Quốc thu mua ồ ạt các mặt hàng phụ phẩm nông nghiệp được xem là “dị biệt” như: lá, rễ cây …

Hình thức mua bán của tư thương Trung Quốc dạng này phần lớn là theo đường tiểu ngạch, không có hợp đồng, giá cả trao tay và chỉ một người mua nên rất rủi ro. Chiêu thức quen thuộc của họ vẫn là lúc đầu đẩy giá mua lên rất cao sau đó khi người dân “ôm hàng” hoặc trồng số lượng lớn, họ bỏ giá rẻ hoặc “biến mất” không dấu vết. Dẫu biết vậy nhưng không ít người vẫn ngậm “quả đắng”.

Đầu tiên phải kể đến hình thức “mua giá cao” của thương lái Trung Quốc đối với người dân Việt Nam trong vụ mua ốc bưu vàng năm 1992 – 1995. Ốc bưu vàng là sinh vật ngoại lai gây hại cho nông nghiệp, tuy nhiên vào thời điểm những năm 1992 trở đi thương lái Trung Quốc thu mua với giá cao nên người dân các tỉnh Đồng bằng sông Hồng và Sông Cửu Long đổ xô đi nuôi ốc bưu vàng tại các ao,hồ, đầm và bất cứ đâu có thể nuôi được.

Chỉ sau một thời gian, ốc bưu vàng sinh trưởng nhanh, đẻ trứng và xâm hại khắp các cánh đồng của Việt Nam. Lúc này, các thương lái Trung Quốc mua giá rẻ rồi ngừng mua khiến bao cánh đồng của người nông dân chịu đại nạn ốc bưu vàng tàn phá mùa màng.


Nhiều thương lái Trung Quốc trong những năm qua đã khiến nông dân Việt Nam
ngậm trái đắng với những chiêu trò của thương lái Trung Quốc

Sau ốc bưu vàng, tư thương Trung Quốc lại đẩy mạnh mua móng trâu tại miền núi phía Bắc. Khi ấy, 4 móng trâu giá gần bằng 1 con trâu nên xuất hiện phong trào “giết trâu lấy móng”, “cắt móng trâu” ở nhiều vùng núi, đồng bằng khi trâu được chăn thả không người bảo vệ. Chỉ thời gian ngắn, thông tin “móng trâu” làm thuốc mà Trung Quốc mua giá cao đã đẩy bao “đầu cơ nghiệp” của người nông dân Việt Nam chết oan, số lượng trâu giảm mạnh.

Vào những năm 1997, tư thương Trung Quốc lại thúc đẩy mua mèo nhà số lượng lớn, giá cao với lý do dẹp nạn đại dịch chuột tại miền nam Trung Quốc. Theo nhiều người dân kể lại, một con mèo khi ấy giá bán bằng cả 1 chỉ vàng khiến nạn săn bắt mèo bùng phát. Người ta lùng sục khắp làng trên xóm dưới để bắt hoặc bẫy mèo nhà, mèo rừng bán sang Trung Quốc. Số lượng mèo suy giảm nghiêm trọng và rất đau lòng khi đại dịch chuột tại Việt Nam đã diễn ra chỉ sau 1 năm 1999.

Sau đó, người dân cuống cuồng đi mua thuốc diệt chuột và những chai thuốc diệt chuột có dòng chữ “Made in China” được lưu hành rộng rãi tại các vùng nông thôn của Việt Nam. Mua mèo tận gốc, bán thuốc chuột giá cao. Dân Việt lại mắc mưu của gian thương.

Ngoài các con vật nuôi trong gia đình, gần đây một số địa phương trong cả nước phát hiện thương lái Trung Quốc mua những loại con giống nông nghiệp với số lượng lớn và giá cực cao ở một thời điểm, điển hình như cá sấu, tôm nguyên liệu hòng “phá” các doanh nghiệp chế biến trong nước không có nguyên liệu để xuất khẩu.

Vặt lá cây, đào rễ – củ

Ngoài các giống vật nuôi bị mua, gần đây, xuất hiện rất nhiều chiêu trò mới của thương lái Trung Quốc như mua lá cây, rễ, củ quả của cây trồng nông nghiệp, cây dược liệu ở nhiều nông thôn, vùng hẻo lánh. Cuối năm 2012, thương lái Trung Quốc đẩy giá mua cây kim cương 1 triệu đồng/kg. Người dân ở một số xã của huyện Kon Plông – Kon Tum đổ xô vào những cánh rừng già, rừng đặc dụng đào cây kim cương để bán khiến lượng cây này sụt giảm và trở thành thực vật thuộc nhóm quý hiếm trong sách đỏ IA cần phải bảo tồn.

Cũng năm đó, tại Hậu Giang, tư thương Trung Quốc đặt mua lá sắn non không rõ mục đích với giá từ 1 – 1,5 triệu, với số lượng lớn. Người trồng sắn thay vì lấy củ bán cho các nhà máy đã bứt lá bán cho thương lái. Chỉ sau một thời gian, vùng trồng sắn tăng diện tích, lá sắn rẻ, thương lái Trung Quốc ngừng mua, sắn bị bứt lá không có củ, nhà máy không có sắn nguyên liệu.

Năm 2013, thương lái Trung Quốc đến Tây Nguyên để thu mua gốc, rễ cây hồ tiêu – một cây công nghiệp chủ lực của các tỉnh như Gia Lai, Kim Tum… với giá 40.000 đồng/kg. Thấy quá hời, nhiều người dân đã phá bớt những cây tiêu, đào trộm rễ để bán khiến nhiều diện tích tiêu bị triệt hạ.

Cũng năm 2013 – 2014, tại vựa vải thiều Bắc Giang và 1 số tỉnh phía Bắc xuất hiện tình trạng dân tuốt lá vải xanh, lá khô bán cho thương lái Trung Quốc mà không biết lý do. Khi bị báo chí, dư luận lên tiếng, nhiều nhà khoa học và cơ quan chức năng cho biết, lá các loại cây như vải không có bất kỳ công dụng làm thuốc hoặc làm thức ăn nào. Sự cảnh báo của dư luận đã ngăn chặn tình trạng bán lá vải ồ ạt như lúc trước.

Hết cây trồng đến gỗ, tại Hà Nội và các tỉnh phía Bắc năm 2013, số lượng cây gỗ sưa đỏ ở các phố và các khu rừng phía Bắc bị chặt trộm rất nhiều. Đây là cây gỗ rất quý hiếm, sinh trưởng hàng chục thậm chí hàng trăm năm. Theo những người thạo tin, thương lái Trung Quốc mua gỗ sưa về làm hương liệu, gỗ đóng đồ quý hiếm, giá mua theo kg với hàng triệu đồng khiến các cây gỗ xưa giữa thủ đô Hà Nội luôn bị “sưa tặc” nhòm ngó.

(Theo Dân trí)

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.