Việt Nam ‘dẫn đầu’ và ‘nhất thế giới’?

Posted: April 10, 2015 in Uncategorized
Tags:

Gs. TsKh. Đặng Hùng Võ (VNN) – Năm 2013, Ngân hàng Thế giới chỉ ra: Việt Nam thuộc nhóm nước dẫn đầu thế giới về xây dựng pháp luật nhưng lại thuộc nhóm nước yếu kém nhất thế giới về thực thi pháp luật.

� Xem thêm: Quốc hội có vô can? + Việt Nam nhất thế giới: Quảng cáo và uống rượu, bia thỏa thích.


Ảnh minh họa. Nguồn: duthaoonline.quochoi.vn

Năm 2013, Ngân hàng Thế giới đã phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường triển khai chương trình đánh giá chỉ số quản trị đất đai của Việt Nam. Một kết luận không mới nhưng đủ cơ sở thực tiễn để chứng minh: Việt Nam thuộc nhóm nước dẫn đầu thế giới về xây dựng pháp luật nhưng lại thuộc nhóm nước yếu kém nhất thế giới về thực thi pháp luật (Khảo sát đã công bố năm 2013 của WB và Bộ TN&MT – Xem tại đây).

Mới đây nhất, chuyện sửa Luật BHXH ngay khi vừa được QH thông qua, và hàng loạt văn bản pháp luật… trên trời khác buộc phải điều chỉnh đã cho thấy, rất nhiều chính sách được xây dựng xa cách đời thực, thiếu ý kiến khách quan từ người dân.

Chúng ta rất cố gắng đưa pháp luật vào cuộc sống nhưng còn rất nhiều khó khăn vì chưa đưa được cuộc sống vào pháp luật trong quá trình xây dựng.

Ngay trong Luật Đất đai, có những điều không bao giờ được thực hiện, ví dụ như quy định “giá đất của Nhà nước phải phù hợp với giá đất trên thị trường”.

Quy định này không được thực hiện theo đúng nghĩa vì Luật giao cho cơ quan hành chính nhiệm vụ định giá đất, vừa khó khăn và vừa lạ lẫm. Người dân biết nhưng các cơ quan hành chính ở địa phương vẫn muốn nắm giữ thẩm quyền này…

Cho đến nay, Chính phủ và Quốc hội cũng đã có nhiều lần quyết định lấy ý kiến của dân đối với một số Luật quan trọng. Chi phí lấy ý kiến của dân cũng được quyết định ở mức khá cao, triển khai rộng khắp, bố trí đủ nhân lực để thực hiện. Ví dụ như vừa qua thực hiện việc lấy ý kiến của dân đối với Hiến pháp và Luật Đất đai sửa đổi, hay như Bộ luật Dân sự hiện nay.

Thứ nhất, việc lấy ý kiến của dân chưa được thực hiện đối với tất cả các văn bản quy phạm pháp luật, việc này chỉ được thực hiện đối với một số Luật khi lãnh đạo đất nước thấy cần thiết. Thứ hai, cách lấy ý kiến vẫn chủ yếu dựa vào hội thảo với chuyên gia và giao cho chính quyền cấp xã tổ chức họp dân.

Trên thực tế, không phải chuyên gia nào cũng sát với đời thực và không phải chính quyền cấp xã nào cũng biết thực nghe nguyện vọng của dân. Nghe rồi song tiếp thu ra sao, có khách quan hay vẫn chủ quan.

Cảm giác của nhiều người vẫn là văn bản pháp luật tiếp tục được phát hành từ các văn phòng có máy lạnh theo tư duy chủ quan của người quản lý, kể cả các văn bản đã được lấy ý kiến “cẩn thận” của dân.

Đây là lý do chính làm cho các văn bản quy phạm pháp luật có đời sống không dài, phải sửa đổi liên tục. Luật Đất đai trước năm 2003 cứ 2,5 năm phải sửa một lần, sau đó Luật Đất đai 2003 cũng phải sửa 2 lần mới tới được Luật Đất đai 2013, nay Luật Đất đai 2013 vừa có hiệu lực thi hành hơn nửa năm thì đã có quy định vênh với Luật Nhà ở 2014.

Làm gì để các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ đi ra từ các phòng có máy lạnh mà phải tiếp nhận được sức nóng khách quan từ đời thực. Một cơ hội tuyệt vời để giải quyết tận gốc việc này đã đến: Quốc hội hiện đang xem xét để thông qua Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi trong kỳ họp sắp của tới Quốc hội. Đây là đạo luật gốc để ban hành mọi văn bản pháp luật, tầm quan trọng chỉ kém có Hiến Pháp.

Vấn đề thứ nhất được đặt ra là việc lấy ý kiến của dân đối với các văn bản quy phạm pháp luật có cần được coi như một nguyên tắc xuyên suốt trong quy trình xây dựng luật pháp hay không? Điều này dễ thấy là cần thiết. Từ năm 1945, Bác Hồ đã nói “mọi quyền lực đều thuộc về nhân dân”, có nghĩa là nhân dân có quyền tham gia quyết định luật pháp, hạ tầng trụ cột của Nhà nước pháp quyền. Hiến pháp 2013 đã đưa tinh thần này vào thành quy định tại Điều 28 “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước. Nhà nước tạo điều kiện để công dân tham gia quản lý nhà nước và xã hội; công khai, minh bạch trong việc tiếp nhận, phản hồi ý kiến, kiến nghị của công dân”.

Vấn đề thứ hai là việc lấy ý kiến của nhân dân cần được thực hiện như thế nào để bảo đảm người dân có cơ hội được phát biểu thực lòng, ý kiến được thành tâm lắng nghe để tiếp thu hợp lẽ và Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm kinh phí phù hợp, tạo điều kiện hợp lý để thực hiện hiệu quả nhất.

Trước hết, nội dung quy định của pháp luật phải được chuyển tải giản dị nhất tới dân. Sau đó, người dân mong được phát biểu ý với các tổ chức xã hội gần gũi với mình để ý kiến của mình được chuyển trung thực đến các cơ quan xây dựng luật pháp.  Cuối cùng, người dân muốn nhận được ý kiến phản hồi mang tính trách nhiệm giải trình từ các cơ quan xây dựng pháp luật với lý lẽ hợp lý về việc tiếp thu hay không tiếp thu ý kiến của dân. Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi cần có những quy định chi tiếp để việc lấy ý kiến của dân là thực.

Vấn đề thứ ba là trách nhiệm thẩm định dự thảo các văn bản quy phạm pháp luật nên đặt vào tay cơ quan nào? Cho đến nay ở Việt Nam, mọi việc thẩm định đều do các cơ quan nhà nước thực hiện, giữ nguyên như thời kỳ bao cấp. Như vậy, cơ quan nhà nước nghiên cứu, cơ quan nhà nước dự thảo, cơ quan nhà nước thẩm định và cơ quan nhà nước ban hành đã trở thành chuỗi quy trình thiếu vắng những ý kiến mang tính khách quan để chỉ ra các quy định sinh ra từ cách suy nghĩ mang tính lối mòn quản lý (vẫn gọi là quan liêu), và cũng để kiểm soát việc quy định thẩm quyền quản lý không hợp lý (vẫn gọi là nguy cơ tham nhũng).

Đây chính là nguồn cơn để xây ra tình trạng các Bộ xây dựng luật pháp vẫn vun vén quyền cao nhất cho mình. Để giải quyết vẫn đề chủ quan quản lý trong quy trình xây dựng pháp luật, cơ chế thẩm định nằm giữa dự thảo và quyết định là điểm chốt của vấn đề. Như vậy, có thể đổi mới cơ chế thẩm định dựa trên nguyên tắc: bên cạnh nhiệm vụ thẩm định giao cho cơ quan hay hội đồng của Nhà nước, cần giao nhiệm vụ thẩm định độc lập cho một hội đồng gồm các tổ chức xã hội ngoài nhà nước là đại diện cho lợi ích của các cộng đồng cư dân. Hội đồng thẩm định độc lập sẽ chỉ ra những bất cập trong dự thảo đối với việc bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân và của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Việc lấy ý kiến thực chất của các tổ chức xã hội, của người dân và việc tổ chức thẩm định độc lập với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật sẽ làm cho Nhà nước phải chi phí nhiều hơn, thời gian mất nhiều hơn và đòi hỏi nguồn nhân lực tham gia cũng nhiều hơn. Những tốn kém này nhằm đánh đổi lấy các văn bản pháp luật phù hợp hơn với cuộc sống, tuổi thọ pháp luật dài hơn, hiệu lực thi hành cao hơn. Hơn nữa, đây là quá trình thực thi dân chủ, mang lại bền vững xã hội cao. Tổng lại thì lợi ích vẫn lớn hơn chi phí, nên đó là việc cần làm. Nhìn sang các nước công nghiệp mới, các luật đều có đời sống tới vài chục năm; ở các nước phát triển, các luật đã được hình thành vài trăm năm mà vẫn giữ nguyên hiệu lực.

Việc giải quyết tất cả mọi vấn đề nêu trên đều trông chờ vào Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi. Việc cần làm ngay là phải lấy ý kiến thật đầy đủ, chi tiết, thành tâm của các tổ chức xã hội, của mọi công dân về dự thảo Luật này để cùng nhau có được một quy trình xây dựng pháp luật đạt hiệu suất, hiệu quả và hiệu lực cao. Đây là nền tảng để tạo dựng một Nhà nước pháp quyền bền vững, của dân, do dân và vì dân.

Quốc hội có vô can?

Trí Đan (TBKTSG) – Đến hết tháng 2-2015, Chính phủ, bộ và các cơ quan ngang bộ vẫn còn nợ 85 văn bản quy định chi tiết 23 luật, pháp lệnh đã có hiệu lực từ ngày 1-1-2015, theo thống kê của Bộ Tư pháp. Tại sao luật của Quốc hội Việt Nam ban hành xong rồi lại phải chờ văn bản hướng dẫn; trong khi luật của nghị viện các nước đi thẳng vào cuộc sống, mà hầu như không cần tới các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, các bộ?


Quang cảnh một phiên họp của Quốc hội. Ảnh: C.T

Tại vì các điều, khoản trong các đạo luật của Quốc hội rất chung chung hoặc mâu thuẫn hoặc khó hiểu hoặc thiếu chế tài, nên cần phải hướng dẫn, giải thích. Thế tại sao Quốc hội dễ dãi bấm nút biểu quyết thông qua những đạo luật khung, luật ống, những đạo luật thiếu chất lượng trong khi nhiệm vụ “làm luật” là của Quốc hội, theo điều 70, khoản 1, Hiến pháp?

So với pháp luật hiện hành, dự thảo Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật sửa đổi (dự thảo) không đưa ra chế tài mới nào, hay chế tài cụ thể hơn để khắc phục thủ thuật làm luật “một túi chia ba” phổ biến hiện nay. Đây là thủ thuật chia tổng các quy phạm cần có để điều chỉnh một vấn đề xã hội làm ba nhóm, thể hiện trong ba dạng văn bản khác nhau (luật, nghị định, thông tư), để dành các quy định mang lại lợi ích cục bộ cho bộ, ngành trong thông tư – là loại văn bản không phải thảo luận tại Quốc hội.

Điều 10 dự thảo luật này quy định:

“1. Văn bản quy phạm pháp luật phải được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay.

Trường hợp trong văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì ngay tại điều, khoản, điểm đó có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết.

Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp.

Dự thảo văn bản quy định chi tiết phải được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh”.

Thế nhưng, toàn bộ dự thảo đã trả lời như thế nào cho hai câu hỏi sau:

Thứ nhất, nếu văn bản quy phạm pháp luật không được quy định cụ thể để khi có hiệu lực thì thi hành được ngay thì Quốc hội có bấm nút không?

Thứ hai, nếu dự thảo văn bản quy định chi tiết không được chuẩn bị và trình đồng thời với dự án luật, pháp lệnh thì sao?

Chúng ta có thể đoán được câu trả lời này khi đọc điều 53, 58 của dự thảo: hồ sơ trình hoàn toàn không kể tên tài liệu nào là “dự thảo văn bản quy định chi tiết”!

Có nghĩa rằng Quốc hội vẫn bấm nút như hàng chục năm qua, Chính phủ vẫn tiếp tục nợ đọng văn bản hướng dẫn như hàng chục năm qua.

Để chặt đứt thủ thuật “một túi chia ba”, các quốc gia trên thế giới áp dụng kỹ thuật vô cùng đơn giản. Họ quy định: “Chỉ tại điều khoản nào mà luật của nghị viện nêu rõ Chính phủ và các cơ quan nhà nước ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết, thì Chính phủ hoặc cơ quan nhà nước tương ứng phải ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết và chỉ được ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết tại điều khoản đó”.

Để chấm dứt nợ đọng văn bản hướng dẫn và khống chế thủ thuật “một túi thành ba”, cần sửa lại điều 10 của dự thảo như sau:

“Văn bản quy phạm pháp luật phải chứa đựng các quy tắc xử sự cụ thể, để các chủ thể liên quan có thể thực hiện các quyền và nghĩa vụ mà không cần thêm văn bản hướng dẫn nào.

Trường hợp đặc biệt, trong văn bản có điều, khoản, điểm mà nội dung liên quan đến quy trình, quy chuẩn kỹ thuật, những vấn đề chưa có tính ổn định cao thì ngay tại điều, khoản, điểm đó, có thể giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định chi tiết. Chỉ cơ quan nhà nước được giao mới có quyền quy định chi tiết và chỉ đối với điều, khoản, điểm được giao. Cơ quan được giao ban hành văn bản quy định chi tiết không được ủy quyền tiếp. Trong trường hợp này, Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội chỉ tiến hành xem xét khi hồ sơ trình Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội có kèm theo dự thảo văn bản quy định chi tiết”.

[:-/] Việt Nam nhất thế giới: Quảng cáo và uống rượu, bia thỏa thích (BĐV) – Bất kể lúc nào, ở đâu kể cả ở miền núi, vùng kinh tế hàng hóa chưa phát triển…mọi người đều có thể có được rượu bia nếu có nhu cầu. Ths Vũ Minh Hạnh, Phó viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách y tế (Bộ Y tế) đã đưa ra nhận định này và chỉ thêm nhiều hệ lụy từ việc lạm dụng rượu bia.


Theo bà Hạnh, còn nhiều khoảng trống pháp lý về quản lý bia rượu cần được hoàn thiện

Ths Vũ Minh Hạnh: – Trước đây trong một thời gian dài, chúng ta chỉ cấm quảng cáo với rượu từ 30 độ trở lên, từ khi Luật Quảng cáo được ban hành thì mới cấm quảng cáo rượu từ 15 độ trở lên.

Tuy vậy trong thực tế hiện vẫn còn hiện tượng một số loại rượu mạnh có thương hiệu đang được quảng bá với các hình thức rất tinh vi như đêm nhạc Hennesy đi cùng với sự xuất hiện của các ngôi sao ca nhạc, thể thao có tên tuổi trên thế giới và ở trong nước.

Riêng bia và một số mặt hàng rượu có nồng độ cồn thấp hơn 15 độ hiện đang được quảng cáo tràn lan trong cả nước.

Hiếm có quốc gia nào lại có thể rất dễ dàng tiếp cận với rượu bia như ở Việt Nam hiện nay. Bất kể lúc nào, bất kể ở đâu kể cả ở miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế hàng hóa chưa phát triển; mọi người đều có thể có được rượu bia nếu có nhu cầu sử dụng.

Hệ lụy của tình trạng này là sự gia tăng nhanh về mức độ tiêu thụ rượu bia trong cộng đồng đặc biệt là với nhóm thanh niên vị thành niên.

Kết quả nghiên cứu ở nhiều nước trên thế giới đã cho thấy thành niên từ 16 – 29 tuổi sẽ tăng mức độ tiêu thụ rượu bia từ 2 – 2,5 lần nếu họ được xem phim có các hình ảnh quảng cáo về rượu bia hoặc được xem quảng cáo về rượu bia trước khi xem phim …

Và ở nước ta chỉ sau 5 năm (2003 đến 2008) đã tăng thêm 10% nam và 8% nữ thanh niên, vị thành niên có sử dụng rượu bia. Đặc biệt có 60,5% nam và 22% nữ vị thành niên, thanh niên thừa nhận đã từng bị say rượu bia…


Hiếm có quốc gia nào lại dễ dàng tiếp cận rượu bia như ở Việt Nam

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.