Tại sao Thủ tướng muốn “siêu quyền lực”?

Posted: April 11, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Tranh luận sôi nổi về vấn đề mở rộng quyền hạn của Thủ tướng trong phiên họp ngày 9/4/2015 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Việt Nam.

� Xem thêm: Tượng đài khoét sâu thêm ly tán hay tượng đài hòa hợp dân tộc

Tranh luận lành mạnh?

vietnam-leadersTứ trụ triều đình: Chủ tịch Nước, Thủ tướng, TBT, Chủ tịch QH nước CHXHCN Việt Nam. Internet file

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng có thể có được điều gọi là siêu quyền lực nếu ông được tăng thêm 4 quyền mới mà Chính phủ đề xuất trong Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ sửa đổi. Những quyền này liên quan đến thẩm quyền nhân sự khá rộng, chưa kể quyết định liên quan đến thực hiện lệnh tổng động viên, thực hiện lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp. Phản biện của Ủy ban Pháp luật Quốc hội cho rằng việc mở rộng quyền hạn của Thủ tướng sẽ không phù hợp với Hiến pháp.

TS Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Phát triển IDS một tổ chức tư nhân ở Hà Nội đã tự giải thể, đưa ra nhận định trước các tranh luận ở Quốc hội.

SB: “Đây là một vấn đề rất quan trọng và thực sự nó chứng tỏ có rất nhiều nhóm lợi ích mà họ muốn thể hiện phần lợi ích mình. Phía Chính phủ tức là đại diện cho những người bên hành pháp thì họ muốn nhiều quyền hơn. Quốc hội những người không thuộc hành pháp thì họ không muốn cho nhiều. Đây là một cuộc tranh cãi mà tôi nghĩ nếu cứ tiếp tục tranh cãi như thế là một xu hướng lành mạnh. Tất nhiên ở trong chế độ một đảng thì thực sự là những cuộc tranh cãi như thế ít có ý nghĩa. Nhưng mà dẫu sao có sự tranh cãi như thế với các ý kiến khác nhau được thể hiện ra và đến được tai dân chúng thì tôi nghĩ là một dấu hiệu không phải là dở.”

  … bên hành pháp thì có ông Thủ tướng, ông Chủ tịch nước rồi đến Quốc hội…chứ để vào tay một người thì tôi nghĩ ông Nguyễn Sinh Hùng ông ấy lo như thế là phải.”
– TS. Nguyễn Quang A   

Theo VnEconomy ba quyền gây tranh cãi đó là, thứ nhất Thủ tướng có thẩm quyền giao quyền Bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang Bộ trong trường hợp khuyết Bộ trưởng hoặc thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, trong khi chờ Quốc hội phê chuẩn và Chủ tịch nước bổ nhiệm. Thứ hai là tạm thời giao quyền Chủ tịch Ủy ban Nhân dân Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương trong trường hợp chưa bầu được chức danh này. Thứ ba là quyết định và chỉ đạo thực hiện các biện pháp cụ thể cần thiết để thi hành lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, lệnh ban bố tình trạng khẩn cấp và các biện pháp cần thiết khác để bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm tính mạng, tài sản của nhân dân.

Riêng điều thứ ba này, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng bày tỏ sự quan ngại là với thẩm quyền lớn như vậy sẽ dễ vi phạm quyền con người, quyền công dân. Theo ông Hùng nếu bổ sung quyền này thì phải qui định cụ thể ngay trong luật, khi thi hành tổng động viên thì Thủ tướng được quyền gì, dùng biện pháp nào…chứ không thể nói chung chung.

two-leaders“Bó hoa quyền lực”: chia sẻ hay thâu tóm?

Cùng về vấn đề liên quan, TS Nguyễn Quang A nhận định:

“Quyền ban bố tình trạng khẩn cấp không thể giao cho một người mà phải có một sự thống nhất nào đấy ở trong một vài định chế với nhau. Thí dụ bên hành pháp thì có ông Thủ tướng, ông Chủ tịch nước rồi đến Quốc hội…chứ để vào tay một người thì tôi nghĩ ông Nguyễn Sinh Hùng ông ấy lo như thế là phải.”

Riêng quyền thứ tư theo đề xuất thì đã bị Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng cho là không cần thiết. Nội dung quyền này bao gồm việc Thủ tướng có thẩm quyền phê duyệt danh sách nhân sự giới thiệu phó chủ tịch tỉnh; phê chuẩn phê duyệt danh sách nhân sự trước khi giới thiệu bầu vào chức danh chủ tịch, phó chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

Ý nguyện khó thành

   “… sẽ rất khó có thể tạo ra một lực lượng hùng hậu để hỗ trợ cho ông, nếu ông muốn vươn tới chức vụ Tổng bí thư Đảng và hơn nữa là nhất thể hóa chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước.”
– TS Phạm Chí Dũng  

Nhận định về khuynh hướng không tán đồng đề xuất tăng thêm quyền lực cho chức vụ Thủ tướng nhân dịp sửa đổi Luật Tổ chức Chính phủ, TS Phạm Chí Dũng, Chủ tịch Hội Nhà báo Độc lập từ Saigon phát biểu:

“Việc Ủy ban Thường vụ Quốc hội lần này có nhiều ý kiến đưa ra vẫn không thông qua việc tăng quyền cho Thủ tướng, tôi cho đó là một bất lợi lớn đối với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, cho dù ông được phiếu tín nhiệm có thể nói là cao nhất tại Hội nghị Trung ương 10. Vì muốn điều động sắp xếp những vị trí then chốt thì đương nhiên phải “làm nhân sự” và nếu như Thủ tướng không có quyền sắp xếp nhân sự các trưởng ngành các lãnh đạo tỉnh thì sẽ rất khó có thể tạo ra một lực lượng hùng hậu để hỗ trợ cho ông, nếu ông muốn vươn tới chức vụ Tổng bí thư Đảng và hơn nữa là nhất thể hóa chức Tổng Bí thư kiêm Chủ tịch nước.”

Theo VnExpress dù Đại biểu Quốc hội đề nghị không bổ sung thẩm quyền mới của Thủ tướng, nhưng trong báo cáo tiếp thu giải trình, Chính phủ vẫn xin được giữ nguyên đề xuất bốn thẩm quyền mới như dự thảo.

Bộ trưởng Bộ Nội vụ Nguyễn Thái Bình được VnExpress trích lời cho biết, một số ý kiến đại biểu đề nghị thiết kế nội dung quy định về nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ tướng theo hướng cụ thể hóa các qui định của Hiến pháp, kế thừa quy định còn phù hợp của Luật tổ chức Chính phủ năm 2001 và không bổ sung thẩm quyền mới.

  “… bên trong là Đảng lãnh đạo hết chứ không có cái việc ông Thủ tướng muốn bổ nhiệm ai thì bổ nhiệm. Ở Việt Nam không bao giờ có câu chuyện này.”
– LS. Trần Quốc Thuận

Đại diện cho Chính phủ, Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình biện giải, các qui định thẩm quyền bổ sung là phù hợp với nội dung và tinh thần Hiến pháp về việc đề cao trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan hành pháp. Ông Nguyễn Thái Bình giải thích nguyên nhân việc bổ sung một số quyền hạn của Thủ tướng xuất phát từ thực tiễn lãnh đạo, điều hành, đảm bảo nền hành chính hoạt động thông suốt, hiệu quả. Tuy vậy đọc bài tường thuật, người đọc báo không thấy Bộ trưởng Nguyễn Thái Bình trực tiếp phản biện điều gì, đối với quan điểm của Ủy ban Pháp luật Quốc hội, theo đó “Thẩm quyền của các thiết chế trong bộ máy nhà nước, bao gồm cả Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đều đã được Hiến định cụ thể. Nếu mở rộng bổ sung mới một số thẩm quyền sẽ không bảo đảm phù hợp với Hiến pháp.

Đảng vẫn trên luật

Đối với các tranh luận về việc đề xuất tăng quyền lực cho Thủ tướng qua Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ, Luật sư Trần Quốc Thuận nguyên Chủ nhiệm văn phòng Quốc hội từ Saigon phát biểu:

“Trong luật Việt Nam, Chủ tịch nước là Tổng Tư lệnh Lực lượng Vũ trang, nhưng thực sự Tổng Tư lệnh Lực lượng Vũ trang là ông Tổng Bí thư và Bộ Chính trị đâu phải là ông Chủ tịch nước. Hiều luật Việt Nam là phải hiểu thế nào là thể hiện nhà nước danh nghĩa nhà nước. Khi một người ở vị trí danh nghĩa nhà nước nhưng ở phía sau là Đảng quyết tất cả. Cho nên tăng quyền hay không tăng quyền thực sự đó cũng chỉ là để phân công điều hành thôi cũng không phải là cái gì ghê gớm.”

promoting-generalsChủ tịch Nước Trương Tấn Sang trao quân hàm Thượng tướng cho 9 tướng lãnh VN

Theo ông Trần Quốc Thuận khó có chuyện tăng quyền lực cho Thủ tướng để có thể tự quyết mọi vấn đề nhân sự như hình thức ở các nước dân chủ đa đảng. Ông Trần Quốc Thuận tiếp lời:

“ Bí thư, Chủ tịch các Thành phố trực thuộc Trung ương là do Bộ Chính trị Ban Bí thư quản lý, phân công người nào làm là quyết định tập thể, chứ không phải là quyền ông Thủ tướng. Còn về mặt hành chánh nhà nước, người ta có thể hiện như thế nhưng bên trong là Đảng lãnh đạo hết chứ không có cái việc ông Thủ tướng muốn bổ nhiệm ai thì bổ nhiệm. Ở Việt Nam không bao giờ có câu chuyện này.”

Vấn đề tăng quyền lực cho Thủ tướng được đề xuất từ tháng 9/2014 khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ sửa đổi. Lúc đó cũng đã có nhiều bất đồng quan điểm và ông Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nêu ý kiến: “Có thẩm quyền thì phải đi liền với trách nhiệm. Dự thảo Luật Tổ chức Chính phủ nói rất rõ về quyền nhưng trách nhiệm không thấy nói. Chính phủ có trách nhiệm thi hành Hiến pháp, mà thi hành không tốt thì ai chịu trách nhiệm và chịu trách nhiệm trước ai? Điều này cần phải làm rõ.” Phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng có thể tìm thấy ở bản tin trên mạng ngày 30/9/2014 của VnExpress

Dự kiến tại kỳ họp thứ 9 từ ngày 20/5/2015 tới đây, Quốc hội sẽ tiếp tục cho ý kiến và thảo luận để thông qua Luật Tổ chức Chính phủ sửa đổi.

Tượng đài khoét sâu thêm ly tán hay tượng đài hòa hợp dân tộc

Phạm Đình Trọng (Basam) – Những ngày này tất cả điện thoại di động mạng Vinaphone đều nhận được tin nhắn từ tổng đài Vinaphone: Soạn tin GM gửi 1407 de ung ho 14 000d cho chuong trinh “Gop vien gach xay dung khu tuong niem chien si Gac Ma do Tong LDLDVN, Quy Tam Long Vang bao Lao Dong phat dong tu ngay 12/3/2015 den 11/5/2015”.

Dựng tượng đài khắc ghi vào thời gian, khắc ghi vào tâm linh Việt Nam những dòng máu thiêng Việt Nam đã đổ ra để giữ biển Đông, mảnh thềm không thể tách rời của ngôi nhà hương hỏa Việt Nam là đòi hỏi khẩn thiết của mọi trái tim Việt Nam hôm nay và mãi mãi mai sau. Nhưng nếu chỉ dựng tượng đài Chiến sĩ Gạc Ma 1988 thì vừa bất công, vừa hẹp hòi, nhỏ nhen, chật chội quá! Một hành xử chính trị nhưng dường như phản chính trị! Chỉ là thứ chính trị thô thiển, bè phái, cục bộ! Một việc làm khoét sâu thêm nỗi đau li tán dân tộc cũng là làm suy yếu dân tộc.

Trường Sa và Hoàng Sa, tuy là hai quần đảo tách biệt nhưng những núm cát san hô thuộc hai quần đảo đó đều là những hàng cọc giậu trước thềm ngôi nhà Việt Nam. Những người lính Việt Nam dù ở miền Bắc hay miền Nam, dù là người lính của chính quyền Hà Nội hay Sài Gòn đều là người Việt Nam, đều sống và chết để giữ hàng cọc giậu gắn liền với lịch sử mở cõi của dân tộc Việt Nam, sống và chết vì đất Mẹ Việt Nam, vì Tổ quốc Việt Nam. Tổ quốc Việt Nam rộng lớn từ mỏm cực Bắc Lũng Cú, Hà Giang đến hòn đảo chót cùng cực Nam Thổ Chu, Kiên Giang, từ dằng dặc núi cao Trường Sơn đến mịt mù sóng gió Hoàng Sa, Trường Sa. Mẹ Việt Nam bao dung ôm trọn mọi con dân Việt Nam vào lòng. Mẹ Việt Nam dựng tượng đài ghi công những đứa con đã chết cho đất Mẹ Việt Nam toàn vẹn, cho Tổ quốc Việt Nam sống mãi, không phân biệt sắc áo, màu cờ, không phân biệt nhận thức chính trị của những đứa con đó.

Những người lính của chính quyền Sài Gòn chết ở Hoàng Sa năm 1974 trong cuộc chiến chống quân Tàu Cộng xâm lược. Những người lính của chính quyền Hà Nội cũng chết trong cuộc chiến chống quân Tàu Cộng xâm lược Gạc Ma, Trường Sa năm 1988. Họ đều chết cho Tổ quốc Việt Nam, chết trên những doi cát ngay thềm ngôi nhà Việt Nam mang hồn thiêng cha ông. Nay chỉ dựng tượng đài ghi công Chiến sĩ Gac Ma 1988 thì tượng đài chật chội, nhỏ nhen, hẹp hòi đó không thể mang tấm lòng bao dung của Mẹ Việt Nam, không thể bền vững cùng non nước Việt Nam mà chỉ là tượng đài của một thế lực phe nhóm và chỉ tồn tại cùng thế lực phe nhóm đó mà thôi.


Phối cảnh khu tưởng niệm Gạc Ma – Ảnh: Tổng Liên đoàn lao động VN

Không mang tấm lòng bao dung, ấm áp của Mẹ Tổ quốc, tượng đài Gạc Ma 1988 cũng không mang đầy đủ đạo lí uống nước nhớ nguồn, không mang tấm lòng thương yêu đùm bọc dân tộc là lẽ sống còn của dân tộc Việt Nam đã tạo nên sức mạnh trường tồn Việt Nam. Hẹp hòi, lạnh lùng chối bỏ sự hi sinh cho Đất Mẹ Việt Nam của những người lính Việt Nam Cộng hòa ở Hoàng Sa năm 1974, tượng đài Gac Ma 1988 còn là tượng đài của nỗi đau chia rẽ li tán dân tộc.

Có ý kiến lí giải:

“Trước 2014 việc tưởng niệm này đối với Nhà nước ta luôn là việc nhạy cảm, không dám công khai, sợ mất lòng Bắc Kinh vì đã có thỏa thuân mật Thành Đô với chiêu bài “Gác quá khứ, hướng tới tương lai”.

Đối với con bệnh khi bệnh nặng thì phải dùng thuốc cho phù hợp, đang bất tỉnh thì cho thuốc dần dần để con bệnh dễ dàng tiếp thu mà tỉnh lại đã, sau đó mới tăng liều để con bệnh phục hồi như người bình thường. Việc xây đài tưởng niệm Gạc Ma cũng vậy. Từ chỗ Nhà nước chối bỏ tưởng niệm, trước đây ai hô và cầm khẩu hiệu Hoàng Sa – Trường Sa – Việt Nam là bị đàn áp, thậm chí viết tắt HS – TS – VN cũng phải lén lút dán gốc cây. Việc xây đài tưởng niệm Gạc Ma chính là liều thuốc để con bệnh dần dần tỉnh lại. Sau khi đã tỉnh thì sẽ có nhiều liều thuốc khác như Hoàng Sa 1974, Biên giới 1979, Vị Xuyên 1984… bồi bổ để hồi phục hoàn toàn.

Việc xây đài Gạc Ma không có nghĩa là chối bỏ Hoàng Sa 1974, mà chỉ là Nhà nước VN chưa đủ sức khỏe để làm mà thôi. Chúng ta nên thấy được sự tiến bộ trong nhận thức của Nhà nước, để một tổ chức quần chúng danh nghĩa đứng ra xây tượng đài. Từ tựơng đài Gạc Ma rồi sẽ có tượng đài Hoàng Sa và các tượng đài khác mà trong tâm linh Đảng và nhà nước đang nợ”.

Ý kiến trên đã xác nhận tình trạng bệnh tật nặng đến mức bất tỉnh, hèn yếu đến không còn tư thế độc lập, tự chủ của nhà nước Việt Nam cộng sản hiện nay và cho rằng tượng đài Chiến sĩ Gạc Ma là liều thuốc vừa phải với con bệnh nặng đã bất tỉnh. Sau liều thuốc tượng đài Gạc Ma 1988 sẽ là liều thuốc tượng đài Hoàng Sa 1974, tượng đài Biên giới 1979… Nhưng đó là cách chữa bệnh bằng nuôi bệnh, ủ bệnh chứ không phải bằng trị bệnh.

Bốn mươi năm làm chủ cả nước, bốn mươi năm nhân danh cả dân tộc Việt Nam, nhà nước đó vẫn không dám nhìn nhận, ghi công những người con yêu của dân tộc Việt Nam đã bỏ mạng trong cuộc chiến giữ nước ở Hoàng Sa năm 1974 thì nhà nước đó không bao giờ dám làm điều mà nhà nước thực sự của toàn dân phải làm và nhà nước đó cũng không bao giờ có đủ lòng bao dung, không bao giờ có đủ tư cách người Mẹ Việt Nam để làm điều đó!

Nhà nước Việt Nam hôm nay bệnh tật, hèn yếu vì nhà nước đó đã từ bỏ đoàn kết dân tộc làm nên sức mạnh Việt Nam để chạy theo đấu tranh giai cấp, lấy giai cấp đánh phá dân tộc, lấy giai cấp thống trị dân tộc làm suy yếu dân tộc. Theo đuổi ý thức hệ vô sản hão huyền, cam tâm cắt đôi dải đất đã thấm đẫm máu cha ông gìn giữ, mở mang mới có được thành hai trận tuyến đối đầu, chia đôi dân tộc Việt Nam có cội nguồn từ bọc trăm trứng thành hai lực lượng thù địch bắn giết nhau. Dùng súng đạn của ý thức hệ vô sản thế giới bắn giết chính dân tộc mình. Vì ý thức hệ giai cấp, cắt đôi đất nước rồi lại lấy máu của chính dân tộc mình để thống nhất đất nước, thống trị cả nước. Làm chủ cả nước rồi vẫn say máu đấu tranh giai cấp, lại lùa hàng trăm ngàn người dân Việt Nam không cùng ý thức hệ với nhà nước cộng sản vào trại tập trung hà khắc, mịt mù không thời hạn, xua đuổi hàng triệu người dân miền Nam phải rời bỏ nhà cửa, rời bỏ cuộc sống ổn định, bình yên đến vùng đất hoang sơ heo hút, sống cuộc sống hồng hoang nguyên thủy, bất định. Chính sự say máu đấu tranh giai cấp với phần dân tộc Việt Nam khác ý thức hệ đã tạo nên dòng người Việt Nam ào ạt bỏ nước ra đi, tạo nên vực thẳm li tán dân tộc đau đớn nhất, tệ hại nhất trong lịch sử Việt Nam kéo dài đến tận hôm nay.

Thời đất nước bị những người cộng sản kí hiệp định Geneve chia cắt thành hai trận tuyến, tất cả nguồn lực đất nước, tất cả sức mạnh của hai nửa dân tộc đều dồn vào cuộc nội chiến Bắc – Nam . Cuộc nội chiến Bắc – Nam đến hồi sát ván, một còn một mất cũng là thời cơ vàng cho quân xâm lược Tàu Cộng đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa của lịch sử, của cha ông người Việt.

Thời li tán, lòng dân hướng ngoại. Tình cảm yêu nước thiêng liêng của người dân cũng bị những người cộng sản độc quyền chiếm đoạt. Yêu nước phải yêu chủ nghĩa xã hội. Đất nước yêu thương không còn của 90 triệu người dân Việt Nam nữa mà đã trở thành tài sản riêng của những người cộng sản cầm quyền. Yêu nước cháy bỏng mà người dân phải gạt nước mắt lũ lượt bỏ nước ra đi. Dân tộc tan tác. Đất nước kiệt quệ. Thời cơ vàng lại đến với bọn Tàu Cộng để chúng đánh chiếm Gạc Ma.

Phải dành vài dòng nhắc lại điều này để thấy rằng dù năm 1974 Hoàng Sa thuộc vùng lãnh thổ do chính quyền Sài Gòn quản lí, gìn giữ nhưng để mất Hoàng Sa năm 1974, để mất Gạc Ma năm 1988 trách nhiệm đích thực thuộc về những người gây nên nỗi đau chia cắt đất nước, gây nên thảm cảnh li tán dân tộc. Máu tham nô dịch thiên hạ và bành trướng xâm lược lãnh thổ luôn khát khao nung nấu trong đầu óc, trong tim gan từ ngàn đời tổ tiên Đại Hán và lịch sử bốn ngàn năm giữ nước của dân tộc Việt Nam đã đóng đinh vào lịch sử bài học sống còn của dân tộc Việt Nam là máu tham bành trướng xâm lược của Đại Hán chỉ thực hiện được với Việt Nam khi dân tộc Việt Nam suy yếu vì chia rẽ, li tán.

Đấu tranh giai cấp bằng bạo lực chuyên chính vô sản mà những người cộng sản hăm hở, quyết liệt thực thi suốt từ 1930 đến nay đã đánh vào khối đoàn kết dân tộc Việt Nam những đòn chí mạng. Chưa bao giờ dân tộc Việt bị chính đảng và nhà cầm quyền vẫn xưng là của dân tộc Việt Nam đánh những đòn độc địa, khủng khiếp, tàn bạo như cuộc chém giết của hận thù trong Xô Viết Nghệ Tĩnh. Như cuộc đấu tố, bắn bỏ những người Việt Nam có của trong cải cách ruộng đất. Như cuộc thanh trừng trí thức trong vụ Nhân văn Giai phẩm và trong vụ Xét lại. Như đợt tập trung tù đày hàng trăm ngàn người Việt Nam khác ý thức hệ cộng sản… Không phải chỉ những đối tượng mà những đòn đó nhằm vào, bị đánh. Cả dân tộc Việt Nam bị đòn bạo lực chuyên chính vô sản của đấu tranh giai cấp đánh nhừ tử.

Trong cuộc cách mạng và chiến tranh tàn khốc vừa qua do đảng Cộng sản Việt Nam phát động, đảng Cộng sản đã thắng lớn, thắng hả hê. Thắng chính dân tộc Việt Nam. Dân tộc Việt Nam đã bị thua thảm hại. Người hốt hoảng bỏ chạy tứ tán khắp thế giới thấy ngay cái thua đau đớn, tức tưởi. Người còn ở lại đất nước thân yêu nhưng đất nước không còn của mình nữa mới dần dần ngậm ngùi nhận ra cái thua trắng tay. Chưa bao giờ dân tộc Việt Nam bị thua đau, bị chia rẽ, li tán, tan tác, yếu hèn như hôm nay. Chia rẽ, li tán giữa nhà nước cộng sản với người dân. Chia rẽ, li tán, tan tác ngay trong cộng đồng dân tộc.

Yếu hèn vì chia rẽ li tán dân tộc, lại thêm cái yếu hèn vì nhỏ nhen, hẹp hòi, cục bộ chỉ biết có lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền đã dẫn đến mất Hoàng Sa, Gạc Ma.

Yếu hèn vì chia rẽ li tán dân tộc, lại thêm cái yếu hèn vì nhỏ nhen, hẹp hòi, cục bộ chỉ biết có lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền, nhà nước cộng sản Việt Nam đã cắm mặt kí hiệp định biên giới nhục nhã năm 1999 chấp nhận dâng cho kẻ cướp Tàu Cộng dải đất của lịch sử Việt Nam ở Lạng Sơn, nơi nước mắt cha con Nguyễn Trãi lã chã nhỏ ra còn làm cay mắt mọi thế hệ con cháu người Việt. Chấp nhận dâng cho kẻ cướp Tàu Cộng dải đất gấm vóc ở Bản Giốc, Trùng Khánh, Cao Bằng. Chấp nhận dâng cho kẻ cướp Tàu Cộng dải núi rừng hiểm yếu 1509 ở Hà Giang để Tàu Cộng san bằng hàng ngàn nấm mộ người lính Việt Nam đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu chống quân Tàu Cộng bảo vệ cương vực lãnh thổ Việt Nam.

Yếu hèn vì chia rẽ li tán dân tộc, lại thêm cái yều hèn vì nhỏ nhen, hẹp hòi, cục bộ chỉ biết có lợi ích của đảng cộng sản cầm quyền, đất nước đang mất từng mảng, mất cục bộ. Mất tư thế độc lập, tự chủ. Mất quyền làm chủ trên thực tế ở biển Đông. Mất quyền làm chủ ở những dải rừng rộng lớn biên giới đã cho Tàu Cộng thuê dài hạn. Mất quyền làm chủ ngay trên những mảnh đất nằm sâu trong lãnh thổ Việt Nam: công trường khai tác bô xít Tây Nguyên, công trường cảng biển Formosa Vũng Áng, Hà Tĩnh… Bóng đêm nước mất dân nô lệ đã u ám sầm sập trước mặt. Dân tộc tiếp tục bị chia rẽ, li tán, những người cầm quyền vẫn nhỏ nhen, hẹp hòi thì mất cả dải đất Việt Nam gấm vóc là hiển nhiên.

Tượng đài chiến sĩ Gạc Ma không phải chỉ là việc tri ân liệt sĩ mà là một phép thử với một nhà nước. Nhà nước đó có phải của đất nước, của dân tộc hay chỉ của một phe nhóm, đảng phái. Đánh phá, chia rẽ, li tán dân tộc nhưng nhà nước cộng sản Việt Nam cũng lại ra rả nói nhiều nhất, nói ráo hoảnh nhất về hòa giải, hòa hợp dân tộc. Hòa giải, hòa hợp không phải là lời nói mà phải bằng việc làm. Và việc làm đầu tiên để hòa giải, hòa hợp dân tộc, xóa dần đi nỗi đau lí tán dân tộc, xóa đi cả sự nhỏ nhen, hẹp hòi, chật chội trong trái tim, trong tình cảm những người cầm quyền chính là tượng đài Hoàng Sa – Gạc Ma này.

Cuộc chiến chống Tàu Cộng dùng sức mạnh quân sự xâm lược Việt Nam thời đương đại này dù diễn ra trong thời gian dài, 1974; 1979; 1988 và trong không gian rộng, biên giới phía Bắc; Hoàng Sa; Trường Sa nhưng thực sự chỉ ở hai mặt trận, mặt trận đất liền biên giới và mặt trận ngoài biển Đông. Hoàng Sa 1974 và Gạc Ma 1988, hai trận đánh, hai sự kiện, hai sắc cờ, hai chủ thể đánh giặc: quân đội Việt Nam Cộng hòa và quân đội Nhân dân Việt Nam nhưng chỉ một ý chí, một hình ảnh: những người lính Việt Nam ôm ghì những mỏn cát san hô của ông cha để lại ngoài biển Đông.

Một nhà nước thực sự của đất nước, của dân tộc phải có tầm vóc, khí phách của đất nước, phải có tấm lòng bao dung cả dân tộc. Không có tầm vóc, khí phách đó, không có tấm lòng bao dung đó, nhà nước không xứng đáng với đất nước, với dân tộc.

Dù tổ chức nào khởi xướng, vận động xây dựng tượng đài những người lính đền nợ nước thì tượng đài cũng phải mang tấm lòng bao dung của Mẹ hiền Việt Nam, là nơi hồn thiêng những đứa con đã chết cho đất nước trở về với Mẹ hiền Tổ quốc Việt Nam, nơi linh hồn những người chết cho đất nước Việt Nam bất tử cùng Tổ quốc Việt Nam.

Tượng đài đón linh hồn những người lính quân đội Việt Nam Cộng hòa bỏ mình ở Hoàng Sa năm 1974, đón linh hồn những người lính quân đội Nhân dân Việt Nam bỏ mình ở Gạc Ma năm 1988 còn là tượng đài hòa hợp dân tộc, thống nhất đất nước từ trong tâm linh. Tượng đài như vậy là sự rưng rưng xúc động của mọi trái tim Việt Nam sẽ nhận được sự hưởng ứng, đóng góp to lớn vô tận của mọi người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.