Làm luật như ‘vá săm xe đạp’

Posted: April 14, 2015 in Uncategorized
Tags:

TS. Trần Văn Biên (Viện Nhà nước và Pháp luật) (VNN) – Mong rằng, sau lần ban hành mới Bộ luật Dân sự lần này, từ lần sau khi sửa đổi Bộ luật Dân sự chúng ta sẽ thực hiện theo phương thức “vá săm xe đạp”.

� Xem thêm: Khi công an đi kêu oan: Giá trả cho điều tàn độc + Báo động đỏ về sự dối trá.


Theo chu kỳ cứ sau 10 năm nước ta lại ban hành một Bộ luật Dân sự. Ảnh minh họa

Theo Chương trình xây dựng luật và pháp lệnh của Quốc hội, nếu không có gì thay đổi thì trong năm 2015, Việt Nam sẽ có Bộ luật Dân sự mới. Như vậy, theo chu kỳ cứ sau 10 năm nước ta lại ban hành một Bộ luật Dân sự (1995, 2005 và 2015). Hiếm có nước nào như Việt Nam chỉ trong 1 thời gian ngắn mà sắp có tới 3 Bộ luật Dân sự.

Có một luật gia từng ví: “Làm luật ở Việt Nam giống như vá săm xe đạp, thủng chỗ nào vá chỗ đó”. Câu ví này ý nói, việc xây dựng và ban hành luật ở Việt Nam mang tính chắp vá, không có tính chất dài hơi. Tuy nhiên, theo quan điểm của tôi, riêng với việc xây dựng Bộ luật Dân sự ở Việt Nam, nếu được thực hiện theo phương thức “vá săm xe đạp” thì lại có nhiều ý nghĩa tích cực.

Nghĩa là, sau khi ban hành và đưa vào thực hiện trong cuộc sống, nếu phát hiện những quy định, chế định nào của Bộ luật Dân sự bất cập cần sửa đổi, bổ sung thì chúng ta ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Dân sự. Để bảo đảm cho hệ thống pháp luật dân sự đơn giản, rõ ràng, dễ sử dụng, nâng cao hiệu quả thi hành, thì chúng ta hợp nhất, đưa nội dung sửa đổi, bổ sung trong văn bản sửa đổi, bổ sung một số điều của văn bản đã được ban hành trước đó vào văn bản được sửa đổi, bổ sung. Chúng ta đã có hẳn một pháp lệnh quy định về quy trình và kỹ thuật thực hiện việc này, đó là Pháp lệnh Hợp nhất văn bản quy phạm pháp luật năm 2012.

Nói một cách hình ảnh, sau một thời gian chạy trên đường nếu “chiếc bánh xe Bộ luật Dân sự” bị xuống hơi hay bị thủng thì chúng ta “bơm, vá” để nó có thể chạy bình thường trở lại. Cứ như thế chúng ta tiếp tục bơm, vá cho đến khi nào không còn bơm, vá được thì thôi; tức là lúc này các quy định của Bộ luật Dân sự đã trở nên tương đối ổn định và hoàn thiện, thì mới tính đến chuyện ban hành Bộ luật Dân sự mới (thay săm mới).

Làm như thế chúng ta sẽ tránh được tình trạng ban hành quá nhiều Bộ luật Dân sự trong một thời gian ngắn. Các luật gia vẫn thường ca ngợi Bộ luật Dân sự Pháp năm 1804 có tuổi đời trên 200 năm. Tuy nhiên, để có được sức sống lâu bên và trở thành công trình pháp luật khắc ghi lịch sử nước Pháp như vậy, Bộ luật này cũng đã trải qua một số lần sửa đổi, bổ sung.

Thực tiễn làm luật ở nước ta trong thời gian qua cho thấy, các đạo luật được thông qua đa phần đều có dung lượng khá lớn các quy phạm và đối tượng điều chỉnh, phạm vi điều chỉnh rộng. Chính sự đầu tư nhân, tài, vật lực cho các đạo luật có quy mô lớn đã làm cho công việc soạn thảo các dự thảo văn bản bị kéo dài, tính chất đồng bộ và thống nhất của dự thảo trong mối quan hệ với các đạo luật khác nhiều khi không được đảm bảo.

Đặc biệt các đạo luật lớn thường phải tranh luận, thảo luận kéo dài vì phức tạp mới mong đạt được sự thống nhất các quan điểm và cách thức thể hiện. Do vậy, thời gian chuẩn bị xây dựng dự thảo tại các ban soạn thảo, thẩm định, thảo luận, chỉnh lý và thông qua tại Quốc hội thường kéo dài: Khoảng cách giữa nhu cầu cấp bách phải điều chỉnh và khả năng điều chỉnh của đạo luật ngày càng xa đã dẫn đến tình trạng, đợi được luật ra đời, thì cuộc sống đã biến chuyển sang một mức độ phát triển khác.

Để khắc phục tình trạng này, thay vì xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô lớn, chúng ta nên tập trung xây dựng và thông qua các đạo luật có quy mô điều chỉnh hẹp. Một đạo luật với ít các điều khoản sẽ được nhanh chóng xây dựng, kịp thời đáp ứng các nhu cầu điều chỉnh pháp luật, dễ dàng tương thích với các không gian pháp lý quốc tế. Tính hữu ích của một đạo luật ít điều khoản, không chỉ thể hiện ở sự gọn nhẹ về nội dung, dễ xây dựng, mà còn ở chỗ dễ kiểm soát tính đồng bộ và thống nhất, dễ sửa đổi khi có nhu cầu và dễ áp dụng trên thực tế.

Sau một thời gian xây dựng và thảo luận, dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) đang được đưa ra [gọi là] lấy ý kiến nhân dân. Tuy nhiên, do tính chất và quy mô của Bộ luật Dân sự, hiện nay vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau đối với kết cấu cũng như nội dung của dự thảo.

Mong rằng, sau lần ban hành mới Bộ luật Dân sự lần này, từ lần sau khi sửa đổi Bộ luật Dân sự chúng ta sẽ thực hiện theo phương thức “vá săm xe đạp”. Biết đâu đấy, sau hơn 200 năm nữa Việt Nam cũng có một Bộ luật Dân sự có sức sống lâu bền và trở thành khuôn mẫu cho việc xây dựng và ban hành Bộ luật Dân sự của nhiều quốc gia trên thế giới như của nước Pháp.

Khi công an đi kêu oan:Giá trả cho điều tàn độc

Huỳnh Bá Hải (eTL)“…Hết thẩm phán đi kếu oan ( vụ ông Nguyễn Thanh Chấn – Bắc Giang) thì bây giờ đến lượt công an cũng đi kêu oan. Công an Nguyễn Thân Thành Thảo ở Phú Yên đang bị xét xử chưa xong thì đến lượt an ninh tên Triệu Tuấn Hưng ở Sóc Trăng đi kêu oan…”

Quốc hội Việt Nam đang đau đầu vì vấn nạn án oan. Tỉnh Sóc Trăng bị xem là nơi có nhiều vụ án oan nhất. Khi vụ án 7 thanh niên bị oan sai khiến Viện kiểm sát bồi thường trên 500 triệu VND và khởi tố hai cảnh sát điều tra và một kiểm sát viên vì tội dùng nhục hình tra tấn các nạn nhân vô tội.

Hài kịch chưa hạ màn khi một trong hai công an điều tra bị khởi tố lại đi kêu oan. Lần này thì một công an đi… kêu oan. Công an điều tra tên Triêu Tuấn Hưng sinh năm 1981 ở PC45 Công an Sóc Trăng đang kêu oan khắp nơi. Nhục là chạy vạy đến các luật sư nhân quyền nhằm can thiệp thì các luật sư nhân quyền đều từ chối. Dù rằng công an cũng là con người, cũng là nạn nhân nhưng dường như làn sóng ghét công an khiến cho cac luật sư ngại khi can thiệp. Và hơn ai hết các luật sư hiểu rằng những con chốt thí này cũng là quân cờ tế thần nên càng ngại sự trả thù của công an. Chẳng hạn công an Nguyễn Thân Thành Thảo ở Tuy Hòa – Phú Yên cũng là nạn nhân kiểu này.

Chúng tôi xin tóm tắt sự việc vụ án và nguyên do vì sao Triệu Tuần Hưng đi kêu oan :

Vào đêm 4/7/2013 tại ấp Lâm Dồ, xã Đại Ân 2, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, nạn nhân Lý Văn Dũng (SN 1970, trú tại huyện Trần Đề), làm nghề xe ôm, bị sát hại và bị cướp tài sản. Công an Sóc Trăng khởi tố vụ án bắt 7 thanh niên vô tội, dùng nhục hình ép cung, tra tấn đến nỗi 7 thanh niên vô tội phải nhận tội. Nhưng bất ngờ một cô gái tên Lê Mỹ Duyên (ngụ Thành phố Rạch Giá, Kiên Giang) đã đến Công an Thành phố Hồ Chí Minh ra đầu thú, thừa nhận Duyên và Phan Thị Kim nhận tội giết ông Lý Văn Dũng cướp xe. Thế là công an Sóc Trăng đình chỉ vụ án và trả tự do cho 7 thanh niên vô tội, gồm các anh Trần Hol, Thạch Mươl, Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Khâu Sóc, Thạch Sô Phách (cùng huyện Trần Đề) và Nguyễn Thị Bé Diễm (nhân viên phục vụ quán nhậu).


Thạch Sô Phách, một trong 7 thanh niên bị bắt oan sai. Ảnh: Ngọc Thạch.

Ngày 31/3/2015 thì Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao đã kết luận điều tra vụ án “dùng nhục hình” và “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” xảy ra tại tỉnh Sóc Trăng, đồng thời đề nghị truy tố ba bị can về hai tội danh nêu trên. Viện Kiểm sát tối cao đã khởi tố vụ án.

Theo đó, ba bị can là Nguyễn Hoàng Quân (SN 1977) và Triệu Tuấn Hưng (SN 1981) nguyên cán bộ công an tỉnh Sóc Trăng, về tội “dùng nhục hình” ; Phạm Văn Núi (SN 1958), nguyên kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng, về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”.

Thế nhưng công an Triệu Tuấn Hưng kêu oan vì, theo anh ta, hoàn toàn không can thiệp gì vụ án kia. Nguyên do là một điều tra viên, cháu của Giám đốc công an tỉnh Sóc Trăng tham gia điều tra, dùng nhục hình ép cung 7 thanh niên vô tội. Nhưng khốn nỗi là khi công an điều tra thì hay dùng tên giả. Các nạn nhân bị tra tấn chỉ nhớ người treo cổ mình lên nhằm bức cung nói anh ta tên Hưng. Nhưng thực ra lúc này Triệu Tuấn Hưng đang công tác ở PC 45. Viện kiểm sát tối cao dựa vào lời Khai của các nạn nhân thì khởi tố công an Triệu Tuấn Hưng chứ không đi xác minh rõ là lúc đó anh tham gia vụ án gây oan sai hay không.

Thế là gia đình của Triệu Tuấn Hưng vào cuộc đi kêu oan. Hiện nay chưa có luật sư nào dám can thiệp. Họ tìm kiếm đến các luật sư nhân quyền ủng hộ dân chủ nhờ can thiệp cũng chưa có ai muốn tham gia bào chữa cho một công an làm vật tế thần.

Các công an mật chuyên làm việc mờ ám và điều tàn độc hãy xem đây là bài học cho mình khi đi tra tấn, hành hung, giết hại người. Bước đường cuối cùng khi sa cơ chẳng có ai thương tiếc mà còn bị người đời nguyền rủa.

Trở lại cuộc họp của Quốc hội Việt Nam cộng sản cho biết trong ba năm qua đã có 71 vụ án oan được đưa ra ánh sáng. Họ dựa vào tỷ lệ 0,02 %, một tỷ lệ rất nhỏ, nhằm ngụy biện. Căn cứ này hoàn toàn sai bởi các lý do sau :

1. Thống kê 71 vụ án oan trong ba năm, trung bình mỗi tháng có hai vụ án oan. Con số này nếu được xem xét thấu đáo rất là kinh khủng. Như vụ án ở Sóc Trăng có 7 thanh niên vô tội thì số con người, số gia đình bị thiệt hại về nhân mạng, tài sản, danh giá nhân phẩm là rất lớn và vô cùng nghiêm trọng.

2. Quốc hội và ủy Ban tư pháp chưa đề cập đến con số trong ba năm qua có 226 người chết trong các đồn công an. Trung bình mỗi tháng có 6 người bị chết trong tay công an.

3. Quốc hội cũng chưa đề cập đến trường hợp hàng nghìn dân oan bị thu hồi đất đai mà chưa viên chức nào bị đưa ra tòa. Trong thực tế con số dân oan ở 63 tỉnh thành rất là nhiều.

4. Những vụ phát hiện án oan đó là do thủ phạm ra đầu thú hay người nhà nạn nhân tự điều tra chứ chưa có vụ nào do chính các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện ra. Cụ thể là ba cơ quan : Công an, Viện Kiểm sát, Tòa án chưa tìm ra vụ án oan nào. Nghĩa là còn rất nhiều vụ án oan mà nạn nhân không có điều kiện tự điều tra thì chỉ… chấp nhận cái chết.

Hết thẩm phán đi kêu oan (vụ ông Nguyễn Thanh Chấn ở Bắc Giang) thì bây giờ đến lượt công an cũng đi kêu oan. Khi công an Nguyễn Thân Thành Thảo ở Phú Yên đang bị xét xử chưa xong thì đến lượt cán bộ an ninh Triệu Tuấn Hưng ở Sóc Trăng đi kêu oan. Giá trả cho điều tàn độc đang trở thành hiện thực.

Báo động đỏ về sự dối trá

Nguyễn Khắc Phê (VNTB) Theo Tia Sáng – Vấn đề đáng”báo động đỏ” trước hết của xã hội hiện nay (chứ không chỉ đối với ngành giáo dục) là phải bằng mọi biện pháp chống lại sự giả dối, gian trá, đề cao tính trung thực như là tiêu chuẩn đầu tiên để xem xét một con người.

Trách nhiệm chủ yếu của nhà trường là đào tạo nên những con người chân chính. Điều này không có gì mới lạ. Cha ông ta xưa từng nói “Tiên học lễ…” (Chữ “Lễ” cần được hiểu một cách toàn diện và thích hợp với thời đại mới). Vậy mà xã hội và nhà trường hiện nay lại đầy dẫy những hiện tượng “vô lễ”. Hãy nói trước hết đến “bệnh thành tích” đồng thời bộc lộ cùng với vô số các “cậu Tú” dự thi đại học đạt điểm cực kỳ thấp vừa qua cũng đã được dư luận báo động.

Ngay sau kỳ thi tuyển vào lớp 10 vừa qua và ngay ở một thành phố vốn có truyền thống học hành, tôi đã “chất vấn” một cán bộ có trách nhiệm ở Sở Giáo dục khi đọc thấy bảng điểm thấp một cách thảm hại: “Học sinh kém như thế, sao các ông lại cho tốt nghiệp phổ thông cơ sở gần như 100%? Vị cán bộ cười một cách đau khổ mà rằng:

“Sao anh lại trách bọn tôi? Nếu Uỷ ban và Tỉnh uỷ cho phép thì ngay kỳ thi sang năm sẽ khác ngay…” Sợ rằng câu nói của vị cán bộ không trung thực hoặc đây là trường hợp cá biệt, tôi chưa dám công bố với ai thì bỗng đọc được tiếng báo An ninh thế giới số cuối tháng 9/2003, GS, TS Nguyễn Cảnh Toàn cho biết: “cách đây 15 năm, bấy giờ tôi đang làm Thứ trưởng… có một ông Giám đốc Sở tình nguyện đi tiên phong. Ông ấy chỉ đạo việc thi phổ thông trong tỉnh rất chặt. Chỉ tốt nghiệp có 30 – 40% thôi nhưng Ủy ban không chịu, Hội đồng nhân dân không chịu…”

Xin lưu ý chuyện cách đây 15 năm rồi, tức thuộc thế kỷ trước, tức cái bệnh này đã mắc lâu lắm rồi! Điều đáng lưu ý nữa là ngành giáo dục muốn chữa mà không được phép! Và nghiêm trọng hơn, nguy hiểm hơn bệnh “thành tích” cần phải nói đúng sự thật, căn tiêu nguyên bệnh chủ yếu là sự dối trá. Xin được lưu ý điều nữa: bệnh dối trá đâu chi có trong giáo dục. Chúng ta có thể dẫn ra vô vàn chứng cớ ở khắp các địa hạt. Chỉ riêng vụ án Lã Thị Kim Oanh đã phơi bày biết bao sự dối trá. Tôi đã chứng kiến một kỹ sư nộp hồ sơ đấu thầu xây trường học do Nhật Bản viện trợ khai rằng trong tay có bao nhiêu là máy móc hiện đại công nhân lành nghề, nhưng thực tế chỉ là con số 0! Rồi bao nhiêu là đơn vị xí nghiệp lãi giả lỗ thật…Cả đến mồ liệt sĩ cũng dám làm giả (xảy ra ở một nghĩa trang Quảng Trị mà báo chí đã nêu) thì không cần gì nêu dẫn chứng thêm nữa! Bệnh dối trá thật sự nghiêm trọng vì có thể nói nó đã thành nếp sống của nhiều người (ít ra, theo GS, TS Nguyễn cảnh Toàn, thì nó đã kéo dài 15 năm, thành “nếp” là chuyện tất nhiên!) và nhiều khi người ta hãnh diện công khai nói to giữa chốn đông người: “Thật thà như ông làm sao sống được! Thời thế này phải biết dối trá mới làm ăn được”! Những câu nói, những dòng chữ làm chúng ta đau lòng biết bao, nhưng bưng bít một sự thật như thế chỉ dẫn đến tai hoạ.

Vì vậy vấn đề đáng “báo động đỏ, trước hết của xã hội hiện nay (chứ không chỉ đối với ngành giáo dục) là phải bằng mọi biện pháp chống lại sự giả dối, gian trá, đề cao tính trung thực như là tiêu chuẩn đầu tiên để xem xét một con người. Riêng với ngành giáo dục, bệnh thiếu trung thực là bệnh nặng, ít ra kéo dài đã hơn 15 năm. Dù đau đến mấy cũng phải chữa, để các thế hệ con em chúng ta thực sự nên người. Cuộc “đại phẫu” đau đớn này chỉ có thể được thực hiện nếu các cấp lãnh đạo và toàn xã hội ủng hộ.

Câu chuyện chưa dừng lại ở đây Hãy thử đặt câu hỏi: Vì sao bệnh “thành tích”, lối sống dối trá lại có thể bám dai dẳng trong cơ thể chúng ta như thế? Đây cũng là vấn đề thật hệ trọng.

Hẳn là sẽ có nhiều cách lý giải. Thiển ý của tôi, nguyên nhân chủ yếu là điều kiện, cơ chế xã hội đã tạo đất sống cho những thứ giả dối, kém chất lượng. Một thứ hàng hoá kém chất lượng có thể “lừa” khách hàng khi họ chưa hao giờ được dùng hàng thứ thiệt, hoặc không có biện pháp, trình độ đề kiểm tra, có khi đơn giản chỉ vì loại hàng giả ấy bày bán ở chỗ mờ mờ ảo ảo u u minh minh nên người mua không thể nhận biết! Không phải hoàn toàn giống thế, nhưng loại người “giả”, kém chất lượng vẫn “sống”, thậm chí nhiều khi chỉ huy cả người giỏi vì công việc chỉ yêu cầu trình độ thấp, hoặc là công việc có thể dựa đẫm, “hữu danh vô thực” chẳng có công cụ nào kiểm tra được, có khi họ được trọng dụng theo kiểu “cáo mượn oai hùm”, nhờ núp bóng, dựa vào một thế lực nào đó.

Như vậy, cốt lõi chính là vấn đề sử dụng con người. Khi người tài thực sự được trọng dụng và có điều kiện phát huy hết khả năng của mình, khi việc tuyển dụng và đề bạt cán bộ có cơ chế, có biện pháp kiểm tra năng lực một cách công khai, loại bỏ những thế lực ngầm tạo ra tệ nạn “chạy chúc” thì những kẻ “học giả” do bệnh “thành tích” và tệ đối trá sản sinh ra sẽ bị loại trừ. Và khi đó, tất nhiên, những “cậu Tú”, những Cử nhân, Tiến sĩ sẽ thực sự xứng đáng với danh hiệu của mình.

Cho dù lớp “học giả” và các thế lực ngầm vẫn luôn muốn duy trì lề lối cũ, xu thế thời đại và thị trường lao động ngày càng rộng mở (như thành phố Thượng Hải đã tuyển rất nhiều chuyên gia giỏi của nước ngoài vào giữ những cương vị quan trọng tại nhiều xí nghiệp) buộc chúng ta phải thay đổi cách học, cách dạy, cách chọn người, để đất nước thoát khỏi nguy cơ tụt hậu trên trường quốc tế.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.