40 Năm: Quốc Sách Tham Nhũng

Posted: April 23, 2015 in Uncategorized
Tags:

Vũ Thạch (Việt Báo) -Vào khoảng thời gian này 40 năm trước, phải công nhận rằng đại đa số cán bộ, đảng viên CSVN trung và cao cấp đều khá lý tưởng và tin rằng mình đang “cứu nước”. Ý đồ dùng máu người Việt để “đánh cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” được giữ kín trong đầu của chỉ khoảng 10 người chung quanh các ông Lê Duẫn, Lê Đức Thọ, Nguyễn Chí Thanh. Từ căn bản lý tưởng đó, hầu hết cán bộ đều sống trong sạch, sống trong nghèo nàn, đói khát như dân.

� Xem thêm: Tham nhũng bóp méo chính sách kinh tế.


Trong bảng chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) của Transparency International Việt Nam
luôn bị xếp vào nhóm các quốc gia “tham nhũng nghiêm trọng” trên thế giới.

Nhưng ngày 30/4/1975 có thể nói đã đánh dấu lằn mức khởi đầu của cuộc chạy đua “kiếm ăn” của toàn bộ guồng máy cán bộ đảng. Họ bắt đầu giành nhau từng căn hộ lớn của các gia đình miền Nam bỏ chạy ra nước ngoài hoặc bị đẩy đi vùng Kinh tế mới. Có những cán bộ phường, quận tranh cãi kịch liệt để giành nhau từng chiếc tivi, tủ lạnh trong các nhà bỏ trống. Sau chừng một năm, khi các món lặt vặt đó đã cạn, cán bộ địa phương bắt đầu nhìn và học cách lừa đảo, cướp trắng tài sản của dân từ Trung ương, qua các thủ thuật đổi tiền, đánh “tư sản mại bản”, rồi đánh luôn “tư sản dân tộc”, rồi “xây, xóa, chuyển tiểu thương”,… Và chỉ vài năm sau, cán bộ nhiều tỉnh, thành đã biết tự tổ chức bán “bãi vượt biên” kiếm vàng, lập các trại tù kín để bắt những người vượt biên lén lút hoặc vượt biên từ các “bãi” khác để lột cho hết vàng rồi thả về, khỏi báo cáo. Tay nghề của cán bộ lúc đó đã tiến khá xa nhưng nhìn chung họ vẫn còn tự xem tham nhũng là chuyện xấu, phải làm lén lút, phải giấu giếm Trung ương. Và ít là tại thời điểm bắt đầu chính sách “Mở cửa” năm 1986 vì Liên Xô cắt hết viện trợ, lãnh đạo đảng CSVN vẫn còn xem tham nhũng là quốc nạn.

Nhưng từ điểm đó đến nay, tham nhũng đã tiến từ quốc nạn lên quốc sách. Nghĩa là hiện nay tham nhũng đang được chủ động xử dụng để duy trì guồng máy vận hành và bảo vệ chế độ, duy trì sự trung thành của toàn bộ hàng ngũ cán bộ đang nắm quyền. Sau 4 thập niên với mấy chục chiến dịch toàn quốc chống tham nhũng, hàng ngàn các ủy ban bài trừ tham nhũng ở mọi cấp, hàng trăm lời thề độc “nếu không diệt được tham nhũng thì từ chức” của các quan chức ở thượng đỉnh, nay lãnh đạo đảng không những hoàn toàn chịu thua mà còn chuyển qua khâu vận động cả nước chấp nhận tham nhũng như một phần của cuộc sống. Lời hứa không đánh chuột nữa vì chuột đang nằm cả trong bình quí đã được chính Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng tuyên bố và được các cán bộ tuyên giáo lập lại trên cả nước.

Tại sao lại như thế khi giới lãnh đạo đều biết và đã cảnh báo tham nhũng đang làm nguy hại đến khả năng lãnh đạo của đảng?

– Lý do thứ nhất rất đơn giản: Vì những người được chỉ thị đi diệt tham nhũng ngày nay đều có khối tài sản lớn hơn nhiều những kẻ mà họ có trách nhiệm điều tra hay trừng phạt. Càng mở thêm các chiến dịch phòng chống tham nhũng họ càng giàu nhanh nhờ các món quà chạy án.

– Lý do thứ nhì cũng đơn giản không kém: Vì các quan chức ở thượng đỉnh, những người có thẩm quyền đề xuất các chiến dịch phòng chống tham nhũng, đều biết “chúng ta cùng giàu như nhau cả”. Cấp bậc càng cao mức giàu càng vĩ đại vì mạng lưới đàn em bên dưới “cư xử đúng phép tắc” càng rộng. Và khi đã như thế, ai lại nỡ tước đoạt chính mình, vợ mình, con mình?

– Lý do thứ ba: Vì tham nhũng đã tràn ngập như nước lụt và quá hiển nhiên trước mắt mọi người hàng ngày. Làm sao giải thích được những quan chức đã và đang “cống hiến mọi thời giờ, năng lực và cả cuộc đời cho cách mạng” và chỉ dùng những giây phút hiếm hoi còn lại cuối ngày đã đủ để quấy lên những núi tài sản ở cấp hàng tỉ mỹ kim? Hiện tượng thiên tài đó lại không hiếm, từ các cố quan chức như Phạm Quý Ngọ, Nguyễn Hữu Thắng,…; đến các cựu quan chức như Lê Khả Phiêu, Nông Đức Mạnh,…; đến các quan chức đương thời như Nguyễn Tấn Dũng, Phùng Quang Thanh, Nguyễn Xuân Phúc, v.v…

– Lý do thứ tư cũng hiển nhiên không kém: Vì tất cả mọi người, từ lãnh đạo đến các cán bộ trong đảng và những đối tượng đang phấn đấu vào đảng đều biết hiện nay chỉ còn một qui luật vận hành duy nhất trong cả guồng máy, bất kể ở ban ngành nào. Đó là, cấp trên ghi tâm: “Phải cho ăn mới nuôi được sự trung thành”; và cấp dưới vững tin: “Cứ trung thành là còn có ăn”. Qui luật trên hiển nhiên đến độ nó được viết ra công khai trong bài bản huấn luyện tư tưởng cho đảng viên và được dùng để thu hút đảng viên mới, dưới tiêu đề “Chỉ biết còn đảng còn mình”.

Tuy nhiên, quốc sách tận dụng tham nhũng này vẫn chưa phải là giải pháp hữu hiệu cho lãnh đạo đảng vì 2 khó khăn sau đây:

Hệ thống cán bộ ngày càng phình lớn quá nhanh. Mỗi ghế mới được đẻ ra, từ địa phương đến trung ương, đều lập tức trở thành món hàng bán được giá, và giá ngày càng cao. Từng cán bộ đã bỏ tiền mua ghế, do đó, phải kiếm ăn ngay để lấy lại vốn và sinh lời, kể cả việc đẻ thêm các ghế mới bên dưới mình để bán. Áp suất kiếm ăn của mỗi cán bộ mới lên nắm quyền càng nặng nề, thúc bách khi đương sự biết cái ghế mình đang ngồi, dù được mua với giá đắt, vẫn có thể mất vì người bán trở mặt, vì có người khác cũng muốn chen vào và đang trả giá cao hơn, hoặc vì ô dù lớn hơn ở phía trên bị thay thế. Tóm tắt là số miệng đòi ăn trong hệ thống cán bộ đang gia tăng liên tục theo cấp số nhân.

Cùng lúc đó các nguồn “lương thực” đang cạn dần. Hầu hết các viện trợ quốc tế, các khoản cho vay của các ngân hàng phát triển để xây những dự án lớn đều đã biến mất, vì tình trạng rút ruột công trình quá trầm trọng trong lúc thi công và tình trạng bỏ mặc công trình hư hại sau khi xây xong. Các hãng xưởng quốc tế cũng rút hầu hết các ý định đầu tư ra khỏi Việt Nam (và Trung Quốc) để chuyển qua Thái Lan, Indonesia vì hệ thống luật pháp tại đó bảo đảm hơn, cũng như các chi phí “bôi trơn” thấp hơn nhiều. Hiện nay cũng không còn hiện tượng các tập đoàn kinh tế và tổng công ty dưới quyền Thủ tướng Nguyền Tấn Dũng tha hồ xài tiền vay quốc tế mua hàng phế thải rồi chia nhau “khoản lời”. Các vụ mua sắm tàu ngầm, hỏa tiễn cũ với giá hàng mới cũng không còn ngân quĩ để tiếp tục. Những nỗ lực hốt tiền lẻ như các lệ phí mới tại trường học, tại nhà thương, tại công sở, đặc biệt các trò “đẻ luật tại chỗ” để đòi tiền của CSGT,… dù gia tăng nhiều nhưng vẫn không đủ ở cấp hệ thống để chia chác.

Chính tình trạng “cám ít, lợn nhiều” đó đã dẫn đến hiện tượng nở rộ các sáng kiến kiếm ăn mới ngày càng táo bạo: Các đường dây dẫn người, bán người, cho thuê nô lệ Việt tại nước ngoài đang lan từ Đông Á, Đông Nam Á, sang các nước Trung Đông, Đông Âu, Tây Âu, và đến tận Phi Châu; Tài nguyên quốc gia từ dầu hỏa đến than đá đến cát trắng đến cao su được bán gấp với giá càng lúc càng rẻ; Khắp nơi khởi công xây cất các công trình vô lợi vô ích nhưng vô cùng mắc tiền: tượng đài vĩ đại nơi này, tháp cao nhất thế giới nơi kia; Thành phố nào cũng lên kế hoạch “chỉnh trang đô thị” với trọng tâm cắt hàng ngàn cây cổ thụ đem bán; Tỉnh nào cũng nghiên cứu cách “bảo trì sông ngòi” với trọng tâm lấp bớt lòng sông để bán mặt bằng cao cấp. Và nay đã bắt đầu ló dạng những đường dây cung cấp nội tạng con người với giá phải chăng.

Nhưng có lẽ áp suất mạnh nhất đang thúc đẩy guồng máy cán bộ kiếm ăn càng lúc càng man dại là điều mà chính họ đã nhận ra rất rõ: không một chế độ nào với tầm vóc và tốc độ nạo khoét quốc gia như hiện nay có thể tồn tại được. Sụp đổ là hậu quả chắc chắn, chỉ không biết ngày nào thôi. Chính vì vậy mà họ càng phải ăn gấp rút hơn nữa và càng phải chuyển tài sản nhanh chóng hơn nữa ra khỏi Việt Nam. Dịch xâu xé đất nước đã lên tới mức gần như điên loạn, không khác gì bầy cá mập xông vào một con mồi đang tuông máu.

Còn ai thấy 40 năm vẫn chưa đủ?

Tham nhũng bóp méo chính sách kinh tế

Đức Ngọc (NLĐ) – Tham nhũng, bất cập về thể chế là lực cản lớn đối với sự phát triển kinh tế của Việt Nam

Đó là ý kiến chung của nhiều đại biểu tham dự Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2015 với chủ đề “Cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh: Biến lời nói thành hành động” do Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Tỉnh ủy Nghệ An và dự án Hỗ trợ tái cơ cấu kinh tế nâng cao năng lực cạnh tranh Việt Nam (RCV) phối hợp tổ chức diễn ra trong 2 ngày 21 và 22-4 tại TP Vinh, Nghệ An.

Chỉ số cạnh tranh thấp

Theo TS Lê Đăng Doanh, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam được xếp hạng dưới trung bình và chậm được cải thiện, trong khi một số nước trong khu vực có tiến bộ đáng kể như Malaysia, Thái Lan… Xếp hạng của Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) năm qua cũng đánh giá Việt Nam chỉ đạt vị trí 119/175 nền kinh tế.


Diễn đàn Kinh tế Mùa xuân 2015 đã nhận được nhiều ý kiến
đóng góp tâm huyết từ các đại biểu trong và ngoài nước

Trong khi đó, báo cáo năm 2014-2015 của Diễn đàn Kinh tế thế giới cho thấy chỉ số về “đút lót” trong xuất nhập khẩu tại Việt Nam xếp thứ 121, “đút lót” trong quyết định tư pháp ở vị trí 117, chỉ tiêu về công khai trong xây dựng chính sách của Chính phủ cũng chỉ đạt mức 116, chi ngoài pháp luật và “đút lót” trong thu thuế hằng năm xếp thứ 104… Đây là thứ tự xếp hạng rất thấp trong tổng số 144 nước tham gia xếp hạng. “Tham nhũng đang bóp méo phân bố nguồn lực, chính sách kinh tế và thể chế, làm xấu đi môi trường kinh doanh của Việt Nam” – ông Doanh lo lắng.

Cùng quan điểm, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng tham nhũng, lợi ích nhóm, tư duy nhiệm kỳ còn tồn tại đang là lực cản lớn đối với hội nhập và phát triển. Bà Lan phân tích 20 năm Việt Nam tham gia ASEAN nhưng hiện đứng trong nhóm 4 nước kém phát triển. Đây là thực tế đáng lo ngại đối với nền kinh tế Việt Nam khi chúng ta hội nhập rộng ra ngoài khu vực.

Theo TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế trung ương, Việt Nam hiện đang đi theo con đường phát triển kinh tế thị trường có sự định hướng của nhà nước, các doanh nghiệp (DN) đã được tự do thỏa thuận thị trường. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều điểm nghẽn và nút thắt về thể chế làm chậm tiến trình cải cách kinh tế. Trong giao dịch tuy đã tự do nhưng chưa thật sự công bằng, chưa thuận lợi, chi phí cao, rủi ro cao, chưa có cạnh tranh công bằng và minh bạch, làm méo mó thị trường. Nguyên nhân chủ yếu do nhà nước đang lấn át tư nhân.

“So với các nước trong khu vực, môi trường thu hút đầu tư, cạnh tranh của chúng ta giảm, gánh nặng hành chính lại cao nhất, tính minh bạch của hệ thống pháp luật thấp. Đây là những trở ngại lớn đối với sự hội nhập và phát triển của đất nước” – diễn giả Phạm Văn Quang nhận xét.

Tự chủ, đổi mới tư duy để tồn tại

Nhiều ý kiến cho rằng ngoài việc chờ đợi những cải cách, thay đổi của nhà nước thì các DN cần chủ động, phát huy tinh thần sáng tạo để khẳng định mình trong quá trình hội nhập. Bà Trần Thị Vân Hoa, Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Kinh tế Quốc dân, khuyến cáo trong lúc chờ cơ chế chính sách thay đổi, DN phải đổi mới tư duy, phát huy khả năng tự chủ của mình để tìm ra cơ hội phát triển và khẳng định mình.

Đồng tình với quan điểm trên, TS Nguyễn Đình Cung cho rằng nhà nước đã có những thay đổi về chính sách theo hướng tích cực, DN cần chủ động tiếp cận với những thay đổi, phải tìm hướng tồn tại và phát triển cho mình khi hội nhập.

Ông Nguyễn Văn Giàu, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, khẳng định trong quá trình hội nhập quốc tế sẽ có rất nhiều thách thức đặt ra cho các hiệp hội ngành nghề, các DN. Để phát triển, từng DN phải phát huy tính chủ động, tự chủ, không thể cứ ngồi chờ những thay đổi về cơ chế và chính sách.


Nói như thế là suy thoái chứ còn gì nữa!

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.