Việt Nam là công xưởng mới của châu Á: mừng hay lo?

Posted: April 29, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Quang A (TBKTSG) – Việt Nam đang trở thành một công xưởng mới của châu Á, báo chí trong và ngoài nước đang bàn luận. Nhiều người nghĩ đấy là điều tốt, những người khác lại lo là chúng ta chỉ làm thuê cho tư bản nước ngoài, đến cái đinh vít cũng chẳng làm nổi.

� Xem thêm: Nguy cơ nằm ở chính chúng ta? + Nông dân Việt điêu đứng vì nông sản ế.


Nhiều công ty đa quốc gia khác cũng rục rịch chuyển cơ sở sản xuất
từ Trung Quốc sang Việt Nam. Ảnh chỉ mang tính minh họa

Việt Nam đã trở thành công xưởng đáng kể của Samsung, Intel, Microsoft (Nokia) và một số nhà sản xuất quần áo và giày dép. Nhiều công ty đa quốc gia khác cũng rục rịch chuyển cơ sở sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam. Liệu Việt Nam có nên đi theo hướng này khi việc trở thành công xưởng của khu vực hay thế giới cũng đầy những hậu quả xấu như đã từng xảy ra ở nơi khác?

Mừng hay lo khi Việt Nam trở thành công xưởng của khu vực là hoàn toàn ở chúng ta, ở sự lựa chọn của chúng ta, chứ không phải ở đâu khác.

Đầu tiên hãy nhìn lại chính mình (chứ không phải ước muốn của mình) để có câu trả lời thỏa đáng. Xét ở tầm khu vực và quốc tế, từ xưa đến nay, Việt Nam chưa chế tạo được bất cứ thứ gì có tiếng cả. Từ xuất phát điểm như vậy, mong muốn chúng ta phải làm được cái này cái nọ cho ra hồn là rất chính đáng nhưng phải khiêm tốn và thực tế. Việc chế tạo ra các sản phẩm như vậy cần nhiều điều kiện mà chúng ta phải rất tốn công, tốn sức để tạo dựng một cách bền bỉ, liên tục. Chê chúng ta chưa làm được mấy là đúng nếu nó kích thích chúng ta phải nỗ lực hơn nữa, nhưng chê mà không đưa ra giải pháp gì khả thi để cải thiện tình hình thì chỉ là “chém gió” cho sướng mồm mà thôi.

Chính vì thế nếu các công ty nước ngoài đưa cơ sở chế tác sang Việt Nam là điều đáng mừng. Đầu tiên nó giải quyết công ăn việc làm cho nhiều người Việt Nam. Dẫu công việc đầu tiên đó có thể là đơn giản, lắp ráp, giá trị gia tăng chưa nhiều trong tổng giá trị của sản phẩm. Làm sao mà có thể đòi hỏi lao động mới từ nông thôn ra các khu công nghiệp làm được những công việc có giá trị cao? Đấy là mong muốn phi thực tế. Khi họ có công ăn việc làm, gia đình họ khá giả hơn thì con em họ mới có khả năng học hành, đào tạo để dần dần làm được những công việc có giá trị cao hơn.

Phải nhìn nhận là bức tranh kinh tế Việt Nam không quá xám, nhất là khi so sánh với vài nước láng giềng như Philippines, Myanmar, và ngay cả Thái Lan. Và đúng là một số công ty ngoại quốc (Nhật, Hàn,…) chuyển đầu tư từ Trung Quốc sang Việt Nam, phần lớn là vì giá lao động ở Trung Quốc ngày càng cao và Trung Quốc ngày càng làm khó dễ các công ty nước ngoài (mà họ nghĩ là họ không cần như trước).

Việt Nam cần làm gì? Một là cần những luật lệ đầu tư thông thoáng, hợp lý hơn. Hai là phải giải quyết những bất ổn lao động mà có vẻ đang xảy ra càng ngày càng nhiều.

GS. Trần Hữu Dũng

Khi trở thành công xưởng thì cần đến nhiều dịch vụ đi kèm, từ cung cấp linh, phụ kiện đến dịch vụ hậu cần, tài chính. Việc này lại tạo thêm công ăn việc làm, tăng cơ hội kinh doanh của các tổ chức khác, tăng kỹ năng và trình độ của người lao động để bước lên những bậc thang cao hơn của chuỗi giá trị. Và rất có thể từ môi trường này sẽ nảy sinh các nhà tư bản nội địa có sản phẩm, dịch vụ có giá trị cao và có ảnh hưởng ở khu vực và thậm chí thế giới, nhưng việc này cần rất nhiều nỗ lực của doanh nhân, người lao động và Nhà nước.

Nếu trở thành công xưởng và nếu có chính sách khéo thì các công ty đa quốc gia có thể chuyển cả những khâu có giá trị cao (tiếp thị, thiết kế, nghiên cứu phát triển…) sang Việt Nam. Nghe nói Samsung đang xây dựng một trung tâm như vậy ở Hà Nội với gần 4.000 người làm việc (nếu được 50% nhà nghiên cứu phát triển là người Việt Nam thì quả là một bước rất quan trọng, liệu chúng ta có đáp ứng được số kỹ sư, nhà nghiên cứu đó không?).

Nếu Nhà nước trung ương và địa phương có chính sách khéo về nhân lực, đào tạo, về tạo dựng môi trường thông thoáng, thì việc trở thành công xưởng là điều rất đáng mừng.

Ngược lại, nếu chỉ chạy theo con số và có tầm nhìn thiển cận, thì biết đâu chúng ta lại tạo điều kiện cho việc chế tác các sản phẩm mà có thể tốn năng lượng (vì các công ty ấy có thể đòi điện giá rẻ) hay gây ô nhiễm môi trường… Nếu thế thì quả rất đáng lo vì khi hết ưu đãi, khi giá nhân công tăng lên thì các công ty nước ngoài lại bỏ đi ngay và để lại các khu công nghiệp tiêu điều. Đó là việc nên tránh, nên tạo điều kiện để họ ở lại, mang các khâu có giá trị gia tăng cao vào Việt Nam.

Nguy cơ nằm ở chính chúng ta?

Mỹ Lệ (TBKTSG) – Bàn tròn với các chuyên gia kinh tế TS. Nguyễn Đức Thành, TS. Nguyễn Quang A, TS. Trần Ngọc Thơ về những bước thăng trầm của giới doanh nhân Việt Nam.


Trong khi nhiều doanh nghiệp nước ngoài vào Việt Nam mở cơ sở sản xuất thì nhiều doanh nghiệp
trong nước chỉ lo đầu cơ đất đai, hoặc dựa vào các mối quan hệ để tồn tại. Ảnh: TUỆ DOANH

TBKTSG: Thưa các ông, vì sao trước đây ta có những doanh nhân, những nhà tư sản dân tộc nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Trương Văn Bền… nhưng nay, tuy không thiếu người giàu, nhưng lại không có những người như vậy – những người mà tên tuổi gắn với những thành tựu, sản phẩm – dịch vụ sản xuất, kinh doanh đặc trưng, mang thương hiệu quốc gia?

TS. Nguyễn Đức Thành: Với nhãn quan của một nhà kinh tế, tôi cho rằng người Pháp đã mang tới cho Việt Nam một môi trường kinh doanh hoàn toàn mới. Người kinh doanh của Việt Nam, dù có nhiều điểm thua kém và yếu thế hơn so với người Pháp, nhưng về cơ hội là tương đối tự do. Người Pháp đã nhất quán với phương thức sản xuất kinh tế thị trường, tức là dựa trên quan hệ hợp đồng, cạnh tranh, chứ không phải quan hệ cưỡng bức, lao dịch hay tiến cống. Để duy trì được quan hệ hợp đồng, thì cần nhiều yếu tố hợp thành, như là thừa nhận quyền kinh doanh, quyền sở hữu. Trường hợp Cô Tư Hồng, đã được văn học hóa, là khá tiêu biểu. Đó là người đã nhận thầu để phá thành Hà Nội, một hoạt động được chính quyền đặt hàng.

Quá trình tích lũy ban đầu này rất quan trọng. Với điều kiện nó cần được tích lũy vào tay một số tư nhân, và những tư nhân đó lại có quyền hoạt động kinh doanh một cách chủ động.

Việc chính quyền khi muốn có công trình lớn nào đều thuê tư nhân làm, vô hình trung, đã thực hiện một chức năng rất chính xác của Nhà nước là mang tính kiến tạo.

Điều này rất khác với trường hợp Nhà nước sử dụng quyền lực của mình yêu cầu người dân thực hiện một dịch vụ công ích cưỡng bức. Hay như trong mô hình xã hội chủ nghĩa sau này, Nhà nước tự đứng ra thực hiện thông qua chính các tổ chức kinh tế do mình sáng lập ra.

Trong cả hai trường hợp nêu trên, khu vực tư nhân đều không có điều kiện phát triển. Như vậy, khách quan mà nói, thì việc xuất hiện các nhà tư sản Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 20 là do môi trường khi đó cho phép tạo ra họ.

Nếu đối chiếu với hiện tại, chưa chắc chúng ta đã đạt được điều này. Tôi vẫn thấy Nhà nước giữ tư duy cho rằng các dịch vụ công, các công trình công, đều phải do các doanh nghiệp thuộc khu vực Nhà nước hoặc gần với Nhà nước, cung cấp hoặc tự phát triển.

TS. Nguyễn Quang A: Thứ nhất, theo tôi nhìn suốt lịch sử nước nhà, chúng ta chưa có nhiều nhà tư sản dân tộc thật nổi trội, tuy đã có những người nổi tiếng như Bạch Thái Bưởi, Trịnh Văn Bô, Trương Văn Bền trong thời Pháp thuộc. Nay cũng vậy. Tâm lý khinh dân kinh doanh, khinh buôn bán, khinh thương mại, trọng làm quan còn hằn rất sâu trong đầu óc người Việt, dù đã có thay đổi đáng kể trong thời gian gần đây. Đó là một đặc điểm lịch sử cần phải thay đổi một cách triệt để nếu muốn phát triển đất nước thực sự.

Thứ hai, vì lý do ý thức hệ, trong nhiều chục năm qua, khu vực tư nhân không được khuyến khích, thậm chí triệt tiêu sự phát triển của tầng lớp tư sản dân tộc. Vài chục năm trở lại đây tình hình đã có chút thay đổi, song người ta vẫn chưa coi tư sản dân tộc là động lực phát triển kinh tế quốc dân mà vẫn coi kinh tế nhà nước là chủ đạo. Tài sản, quyền tài sản, cơ nghiệp của họ không thực sự được bảo vệ dẫn đến việc có người bán cơ nghiệp để ra nước ngoài làm ăn (tư bản tháo chạy) do cảm thấy không an toàn. Chính cái môi trường pháp lý và cách quản trị vĩ mô ấy tạo ra các (phản) khuyến khích khiến các doanh nghiệp chỉ nhìn ngắn hạn, không có động lực xây dựng “đế chế” kinh doanh, chạy theo lợi nhuận nhanh, tìm kiếm đặc lợi và chỉ xây dựng mối quan hệ “thân hữu” để có sự đỡ đầu làm ăn theo kiểu cánh hẩu tràn lan như hiện nay.

TS. Trần Ngọc Thơ: Nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng này là do lỗ hổng của kiểu cách kinh tế thị trường mà chúng ta đang đi.

Mấy chục năm nay chúng ta cứ đi tìm một định nghĩa mới về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Câu chữ để mà làm gì trong khi nội hàm của chúng không thể che giấu được khuyết tật quá lớn. Một mặt, trong khi nền sản xuất hàng hóa hiện đã vượt tầm mức ở quy mô toàn cầu, thì mặt khác, não trạng của chúng ta không bao giờ có điều quan trọng nhất là hai chữ “tự do” trong thuộc tính của kinh tế thị trường. Đây là mâu thuẫn dễ dẫn đến đổ vỡ và thực tế đang cho thấy vẫn còn một khoảng cách xa diệu vợi giữa mọi chính sách và hành động.

Chẳng hạn nói là cạnh tranh bình đẳng nhưng thực tế có những doanh nghiệp bỗng nhiên từ đâu rớt xuống nổi như cồn, hết đầu tư vào địa ốc, khu nghỉ dưỡng, lại đến cảng biển, sân bay… Không ít trong số các dự án này là chỉ định thầu hay những cơ chế trao đổi mà không ai kiểm soát được. Chỉ có chủ nghĩa tư bản thân hữu chứ chưa có chủ nghĩa tư bản dân tộc tử tế ở Việt Nam!

Một mặt chúng ta có tự do hóa kinh tế quá nhanh và tự phát, trong khi chính sách chậm hoặc không thay đổi nên đã dẫn đến các hệ lụy như trên. Chúng ta nói là kiên trì theo kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhưng thực tế chỉ thấy sự dư thừa tư bản hiện đang lấn át xã hội chủ nghĩa. Các chỉ dấu cho thấy sự lấn át này mà người dân ai cũng có khả năng nhận biết: một mặt là sự tiêu dùng xa xỉ của tầng lớp thượng lưu hay hoạt động sân sau của quan chức ngày càng tăng và khó kiểm soát; mặt khác là hố sâu giàu nghèo ngày càng gia tăng đáng ngại, với việc các hệ thống lừa đảo kiểu ponzi, cho vay nặng lãi ngày càng phổ biến để tước đoạt chút thu nhập ít ỏi của những người tuyệt vọng.

TBKTSG: Liệu có là mối nguy hay không, nhìn từ thực tế và xu hướng các doanh nghiệp nước ngoài lấn lướt các doanh nghiệp trong nước thời gian gần đây về mọi phương diện, kể cả thâu tóm, sáp nhập. Bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập ngày càng sâu rộng sẽ giảm thiểu hay khuếch đại mối nguy này?

TS. Nguyễn Đức Thành: Mối nguy là rất lớn! Theo tôi quan sát, có vẻ như đa số người cho rằng hội nhập sẽ mang lại nhiều điều tốt đẹp hơn vì họ đã quá thấu hiểu sự đau khổ của một đất nước đóng kín cửa. Đa số đều tin rằng hội nhập, mở cửa, sẽ giúp chúng ta tìm thấy nhiều hình mẫu và động lực để thay đổi hơn. Điều đó là đúng nhưng chưa đủ sâu sắc.

Theo tôi, có hai tầng nấc của sự mở cửa. Tầng thứ nhất, chúng ta phấn khởi chứng kiến sự đa dạng và dễ thở hơn, nhưng nền kinh tế ngày càng bị bào mòn đi, đất nước bị lệ thuộc hơn vào các ông chủ ngoại quốc. Tầng nấc thứ hai là đất nước ngày càng vững chắc hơn nhờ mở cửa. Doanh nghiệp trong nước lớn mạnh hơn, người dân có đời sống ngày càng vững vàng hơn. Tầng lớp tư sản và trung lưu trong nước ngày càng dày dặn, cạnh tranh và đối trọng với những ông chủ đến từ bên ngoài.

Con đường để đi tới tầng nấc thứ hai thực ra không dễ dàng. Chính xác thì đó là những thành công hiếm hoi. Ta nên đặt câu hỏi: Hội nhập quốc tế đi liền với sự gia tăng cạnh tranh từ bên ngoài, vậy ai là người cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế? Rõ ràng chỉ có thể là các doanh nhân.

Ở đây, khi nói doanh nhân, tôi hàm ý là các doanh nhân trong khu vực tư nhân. Chỉ có doanh nghiệp tư nhân mới là doanh nghiệp đích thực, có thể hứa hẹn sự sáng tạo liên tục và tạo dựng một thương hiệu lâu dài. Và theo nghĩa đó, họ là những nhà tư sản theo cách chúng ta vừa nói về Việt Nam trong nửa đầu thế kỷ 20.

Những doanh nhân làm giàu dựa dẫm vào nhà nước, điển hình là các doanh nghiệp nhà nước (vẫn luôn tiếp nhận các loại hỗ trợ từ Nhà nước) hoặc các doanh nghiệp thân hữu với khu vực nhà nước (để lẩn tránh cạnh tranh) đều chỉ làm giàu dựa trên việc dịch chuyển tài sản và cơ hội tạo ra của cải, chứ không tự sáng tạo ra các cơ hội và tài sản mới.

TS. Nguyễn Quang A: Toàn cầu hóa tạo ra rất nhiều cơ hội và cũng lắm thách thức. Việc thâu tóm doanh nghiệp là một nét đặc trưng càng ngày càng nổi bật hơn so với quá khứ. Tuy vậy tôi không coi đây chỉ là nguy cơ mà cũng là cơ hội. Hãy xem các công ty Trung Quốc họ thâu tóm các doanh nghiệp nước ngoài ra sao để lấy thị trường, công nghệ và có thể cả know-how. Vấn đề vẫn chủ yếu là các chính sách vĩ mô có tạo cho các doanh nghiệp tư nhân, các tư sản dân tộc những bảo đảm pháp lý được hiến định và được thực thi trên thực tế, những khuyến khích để các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam yên tâm xây dựng “đế chế” của mình hay không? Thực tế hình sự hóa các tranh chấp kinh tế đã làm hại vô cùng cho sự phát triển của tư sản dân tộc và dẫn đến việc vốn tháo chạy theo nhiều cách mà bán doanh nghiệp cho các công ty nước ngoài chỉ là một biểu hiện.

TS. Trần Ngọc Thơ: Luật cơ bản nhất của kinh tế thị trường là công nhân có thu nhập ngày càng tăng đúng với kỹ năng và năng suất ngày càng cao của mình còn doanh nghiệp phải có thêm nhiều người tiêu dùng. Và chính tầng lớp tiêu dùng này, chứ không phải các ông chủ, mới là cỗ máy tạo ra công ăn việc làm thực cho nền kinh tế. Samsung thắng thế là do họ ngày càng có thêm nhiều người tiêu dùng. Còn không ít các tập đoàn của chúng ta lại đang làm điều ngược lại: công nhân thu nhập ngày càng thấp còn doanh nghiệp, thay vì có thêm nhiều người tiêu dùng, lại ngày càng có thêm nhiều dự án, các khu đất vàng, sân bay, bến cảng, thậm chí cả sông ngòi. Nguy cơ không nằm ở Samsung hay ai khác mà nằm ở chính chúng ta.

Đến đây minh họa một lần nữa sự mâu thuẫn mà tôi đã nói ở phần trên: trong khi nền sản xuất của chúng ta đang ngày càng hội nhập toàn cầu sâu rộng với việc ngày càng có nhiều Samsung hay LG hơn thì chúng ta lại thiếu vắng đi cái thuộc tính tự do của kinh tế thị trường trong não trạng, nhằm tiếp thêm năng lượng cho các doanh nghiệp nội địa có thêm động lực để cạnh tranh với những Samsung hay LG. Chỉ thấy phe cánh, lobby trong bóng tối, với việc nhóm tư bản thân hữu ngày càng thắng thế còn các doanh nghiệp chân chính chỉ sống lây lất.

TBKTSG: Theo các ông, chúng ta có cần xây dựng một một chiến lược phát triển tư sản nội địa?

TS. Nguyễn Đức Thành: Chúng ta đã quá chậm trễ trong việc này. Một chiến lược trước hết phải xuất phát từ tư tưởng. Cần phải dứt khoát thay đổi lối quan niệm lỗi thời, không có cơ sở khoa học và lịch sử, rằng một nền kinh tế có thể phát triển bền vững và cạnh tranh quốc tế dựa trên một khu vực kinh tế nhà nước làm chủ đạo. Lại càng sai lầm hơn khi cho rằng các doanh nghiệp nhà nước có thể là công cụ để điều tiết nền kinh tế. Có thể hiểu đó là một di sản đáng tiếc của lịch sử, khi những nhận thức sai lầm tiếp tục được tái tạo mà vốn khởi nguồn từ quá khứ nhập khẩu lý luận chưa bao giờ được thực tiễn chứng minh.

Trong trường hợp đã tồn tại một khu vực doanh nghiệp nhà nước lớn, cấu kết chặt chẽ về mặt lịch sử với các cơ quan quản lý và ra chính sách như hiện nay, thì việc thay đổi sẽ vấp phải những chống đối ngay từ bên trong cơ quan thực thi cải cách. Sự chống đối nhằm bảo vệ quyền lợi đang có sẵn, bao giờ cũng hăng hái và mạnh mẽ hơn sự cổ vũ cho một mối lợi chưa có sẵn, chỉ sắp được tạo ra. Sẽ không có một cú huých lịch sử nếu không xác định được đúng động lực của lịch sử vào thời điểm này.

TS. Trần Ngọc Thơ: Không nên có thành kiến phân biệt tư bản nội địa và tư bản nước ngoài mà chỉ cần đánh thuế cao hay thấp hoặc thậm chí ưu đãi trên những dòng vốn vào những ngành nghề mà chúng ta khuyến khích hoặc không khuyến khích. Tức là chúng ta chỉ cần có chiến lược kiểm soát dòng vốn quốc tế chảy vào và dòng vốn ra thích hợp chứ không nên phân biệt tư bản nội và ngoại.

Không cần một chiến lược gì cả. Ít nhất điều này cũng đúng ở Việt Nam khi mà thực tế cho thấy ở đâu có gói kích cầu hay có ưu đãi này nọ là có cơ chế xin cho, tham nhũng, và chỉ dẫn đến ngày càng mất bình đẳng trong tiếp cận cơ hội đầu tư của mọi người, kể cả nhà đầu tư nước ngoài. Cái chúng ta cần là một nền kinh tế thị trường đúng với ý nghĩa của nó nhất và một thể chế tự do, dân chủ, minh bạch và biết thượng tôn phát luật. Thử như thế xem, sẽ không thiếu những Bạch Thái Bưởi hay Trương Văn Bền như ngày xưa đâu.

TS. Nguyễn Quang A: Tôi nghĩ các doanh nhân Việt Nam cũng chẳng cần một chiến lược tổng thể trong 25-30 năm qua hay sắp tới. Những gì họ cần là: môi trường an toàn (tôi nhấn mạnh sự an toàn đầu tiên) để đảm bảo vững chắc cho quyền sở hữu tư nhân của họ; những chính sách khuyến khích để phát triển bền vững chứ không phải những (phản) khuyến khích để làm ăn ngắn hạn, chạy kiếm đặc lợi, cấu kết với những người có quyền lực hay các tổ chức có quyền lực tạo ra chủ nghĩa thân hữu cánh hẩu; sự bảo vệ họ trong các mối quan hệ quốc tế chứ không phải bỏ rơi; các dịch vụ về thông tin và xúc tiến. Xin nhấn mạnh đấy là những điểm chính, chứ không phải sự hỗ trợ bằng tiền và các ưu đãi. Nếu cần lộ trình thì là lộ trình về thay đổi chính sách như vậy, nhưng nhất thiết không cần đến một đề án riêng cho các nhà tư bản nội địa.

Nông dân Việt điêu đứng vì nông sản ế

(NV) – “Ngành nông nghiệp chỉ tập trung cho sản xuất, trong khi khối công thương chỉ lo thị trường, doanh nghiệp chỉ tính lợi nhuận… là những lý do khiến việc tiêu thụ nông sản gặp khó khăn”.


Thiếu kết hợp trong cung cấp, xử lý thông tin thị trường giữa các cơ quan quản lý
là một trong những lý do khiến tiêu thụ nông sản gặp khó. (Hình: VNExpress)

Giới nông dân Việt Nam điêu đứng hàng năm khi mùa thu hoạch đến vì “được mùa, rớt giá” thậm chí còn không có người mua, chuyện diễn đi diễn lại mãi nhưng nay mới thấy các ông cầm đầu ngành sản xuất nông nghiệp và các ông lo chuyện thương mại mậu dịch ở Bộ Công Thương ngồi họp lại với nhau nhìn nhận sự việc. Và cũng mới thấy nói.

Trong buổi tọa đàm “Tiêu thụ nông sản – Liên kết từ sản xuất đến thị trường” do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 27/4/2015, người ta thấy trong nhiều nguyên nhân được nêu để lý giải tình trạng nông sản được mùa mất giá, Phó chủ tịch Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP)- ông Nguyễn Hữu Dũng, được báo điện tử VNExpress thuật lời cho rằng “có sự lỏng lẻo giữa phối hợp điều hành của các cơ quan quản lý. Trong đó, công tác thông tin chưa đầy đủ”.

Còn ông Thứ trưởng Bộ Công Thương, Trần Tuấn Anh cũng nhìn nhận không có sự phối hợp trong cuộc tọa đàm rằng “Sự rạch ròi, lẫn thiếu sự tổng thể dẫn đến đứt đoạn thông tin giữa bộ ngành quản lý của Nhà nước với địa phương, đứt đoạn giữa chính quyền với doanh nghiệp và người dân”.

Cuộc tọa đàm được tổ chứcmột tháng sau khi tin tức hơn ngàn xe vận tải chở dưa hấu kẹt ở cửa khẩu Tân Thanh suốt nhiều ngày dẫn đến hư hỏng, hoặc đổ bỏ, hoặc bán với giá thật rẻ bên dưới giá vốn hồi cuối Tháng Ba vừa qua. Nông dân trồng dưa hấu ở một vài tỉnh miền trung vừa bỏ mặc dưa thối trên ruộng, vừa cho trâu ăn thay cỏ.

Ngày 18/4/2015, một viên chức Bộ Công Thương tiết lộ trên VNExpress rằng dưa hấu được trồng tại nhiều địa phương của Việt Nam nhưng lại bị chi phối bởi khoảng 10 thương lái Trung Quốc khi muốn xuất cảng qua nước họ.

Vì tin tức gây xúc động dư luận, không những dân chúng các địa phương trồng nhiều dưa hấu đứng ra bán giúp, mua giúp nông dân, ngay cả viên chức bộ Công Thương cũng đứng ra bán dùm nông dân, nhưng đây không phải là giải pháp căn cơ lâu dài. Vấn đề chính là chính sách và sự thi hành chính sách kinh tế.

Hôm Chủ Nhật 26/4/2015 VNExpress cho hay “Sau gần 2 năm nuôi tôm công nghiệp, hàng trăm hộ dân ở Cà Mau rơi vào cảnh nợ nần, phải bỏ đầm.” Nguồn tin dẫn lời ông Nguyễn Văn Kiên, nông dân nuôi tôm ở huyện Cái Nước (Cà Mau) than thở: “Nuôi keo nào thất bại keo nấy, gia đình tôi chấp nhận bỏ đầm. Ở địa phương, nhiều hộ cũng lâm cảnh nợ nần vì giá tôm quá thấp, có muốn gỡ nợ cũng không dám đầu tư tiếp”.

Ba ngày trước buổi tọa đàm nói trên, Bộ trưởng Chủ nhiệm Văn phòng chính phủ CSVN dẫn thống kê của Sở Công Thương Lào Cai nói trong cuộc họp báo rằng “tại các kho chứa gần biên giới hiện tồn đọng hơn 20,000 tấn gạo, chưa kể số gạo còn nằm trên hàng trăm xe tải loại lớn ở các bãi tập kết hoặc đỗ tạm trên đường. Ước tính số gạo tồn đọng, ùn tắc tại Lào Cai gần 30,000 tấn.”

Bản tin ngày 19/4/2015 của VNExpress “50,000 tấn hành tím Sóc Trăng ế ẩm, mất giá” ở thủ phủ hành tím Vĩnh Châu tỉnh Sóc Trăng, bởi vậy “nông dân lao đao muốn bỏ nghề, bỏ xứ”.

Trước đó chỉ vài hôm tức ngày 11/4/2015, VNExpress báo động “hành tây Đà Lạt ế hàng ngàn tấn, giá thấp kỷ lục”.

Nông dân trồng lúa khu vực Đồng Bằng Cửu Long năm nào cũng điêu đứng với điệp khúc “được mùa rớt giá” dù chính ông thủ tướng Nguyễn tấn Dũng mấy năm trước đã ra chỉ thị cho các ông nông nghiệp và công thương phải làm sao cho nông dân lãi 30% thì mới đủ sống mà làm mùa cho các ông xuất khẩu lấy đô lo nuôi chế độ.

Cũng không thấy có một chỉ thị, lệnh lạt nào, đối phó với đám thương lái Trung Quốc lũng đoạn thị trường nông sản Việt Nam thấy nêu ra rất nhiều trên báo trong nước, ngoài những lời khuyến cáo suông đối với nông dân. (TN)

[:-/] Vì sao Sài Gòn vắng vẻ dịp lễ, tết? (TBKTSG Online) – Ngày lễ, tết, Sài Gòn vắng tênh, đường sá rộng thênh thang. Ngay trung tâm, nhiều hàng quán đóng cửa vì có mở cũng chẳng biết bán cho ai. Dần quen, cứ đến lễ, tết được nghỉ dài ngày là người Sài Gòn tìm cách rút khỏi thành phố, vì sao?


Khung cảnh thông thoáng trên cầu Tân Thuận, quận 7 vào sáng 29-4

Bạn sẽ nói, dễ ợt, ngày thường lo làm lụng mưu sinh thì ngày nghỉ phải tranh thủ tận hưởng. Quả thật, nếu lý do chỉ đơn giản như vậy thì cũng chẳng có gì để bàn thêm. Vấn đề là tại sao người dân không chọn tận hưởng đời sống thảnh thơi ngay tại chính thành phố mình sống này mà lại phải đi kiếm chi những chỗ xa xôi, trong khi biết chắc những điểm đến ấy vào các ngày lễ lạt cũng thường quá tải và căng thẳng?

Trước hết, có lẽ xuất phát từ tâm lý Sài Gòn chỉ là nơi mưu sinh. Tâm lý này phổ biến ở những người nhập cư (thành phần chiếm gần 1/3 dân số thành phố), họ coi Sài Gòn là đất có thể kiếm tìm cơ hội làm ăn, lập nghiệp và thăng tiến về sự nghiệp, nhưng sau lưng họ có một “chốn quay về” khi mỏi mệt, khi nhàn hạ, kể cả khi thất bại – đó là quê nhà. Vì thế, tết nhất, nghỉ lễ, họ trở về quê nhà để cân bằng tinh thần sau những tháng ngày bon chen “tha phương cầu thực” giữa Sài Gòn đô hội.

Không lạ gì, tâm lý này cũng có nơi chính những thị dân Sài Gòn lâu đời, vì xét cho cùng, Sài Gòn là đất của người tứ xứ. Coi xứ sở này là chốn dựng nghiệp, kiếm tìm cơ hội đổi đời đã có từ cha ông họ, những thế hệ “mở cõi” để xác lập cho con cháu một lý lịch thị dân và cũng truyền cho con cháu lối nghĩ rạch ròi giữa đâu là nơi sinh tồn và đâu là quê xứ. Không ít người đã nghĩ rằng, đời sống họ trở nên giàu có khi có một miền quê nào đó để “nương náu”, tìm về.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.