Nguỵ biện

Posted: May 3, 2015 in Uncategorized
Tags:

GS Nguyễn văn Tuấn FB – Cách đây trên 10 năm tôi căn cứ vào những gì mình học qua và có viết một bài khá dài Thói Ngụy Biện của Người Việt để liệt kê những nguỵ biện phổ biến ở người Việt. Bài đó được phổ biến rất nhiều qua từng ấy năm. Nhưng hôm qua, nhân một cái note nhỏ về “Chứng từ của tội lỗi” (tôi không dùng chữ “tội ác”), tôi mới thấy thói nguỵ biện vẫn còn tồn tại trong khá nhiều bạn đọc.

� Xem thêm: Ở Việt Nam, báo chí tự do đến mức độ nào?

Tôi thấy một nguỵ biện phổ biến nhất là đánh tráo vấn đề. Tiếng Anh gọi là distraction. Có nhiều thói trong nhóm nguỵ biện này, nhưng một số thói phổ biến tôi thấy trong thực tế là:

Thứ nhất là thói nguỵ biện có tên mà tiếng Anh gọi là “red herring”, hiểu theo nghĩa đánh tráo vấn đề. Chữ “red herring” có nguồn gốc từ thế kỉ 19 khi những người thợ săn dùng mùi cá để đánh lạc hướng và huấn luyện chó săn. Câu chuyện là cây búa được dùng cho việc giết người, người dùng nó là người của chính quyền đương thời, và việc sử dụng công cụ này được chính chính quyền xác định trên giấy trắng mực đen. Cây búa là một chứng từ nói lên tính man rợ trong thời chiến của phe chính quyền. Người đọc có suy tư phải suy nghĩ, tìm hiểu, lí giải vấn đề, và giúp người khác hiểu sâu thêm.

Nhưng có người lại đánh tráo vấn đề bằng cách cho rằng phía VNCH cũng ác ôn không kém. Nhưng đối tượng chính ở đây là chứng từ tội lỗi ngày xưa của phía chính quyền hiện hành, chứ không phải là VNCH. Bằng cách lái vấn đề sang VNCH, người ta, hoặc cố ý hoặc vô ý, đánh tráo từ một vấn đề A sang vấn đề B. Hệ quả của sự đánh tráo như thế là làm cho người khác, nếu không tinh ý và tập trung, sẽ bị lẫn lộn vấn đề. Từ lẫn lộn dẫn đến việc bàn luận chẳng đi đến đâu, và cuối cùng chỉ là những lời qua tiếng lại một cách vô nghĩa. Nói như thế không có nghĩa là bỏ qua những tội ác của VNCH, nhưng ở đây không phải là chủ đề đó, nên đánh tráo sang nó là rất không có ích.

Một loại nguỵ biện khác là tấn công cá nhân. Tiếng Anh gọi là ad hominem. Thật ra, thói nguỵ biện này rất ư phổ biến trong báo chí Việt Nam. Thay vì bàn luận về vấn đề thì người ngụy biện đem người đặt vấn đề ra chửi bới cá nhân. Ví dụ về thói này thì rất rất nhiều, nhưng tôi nghĩ biểu nhất là sự việc chung quanh ông Cù Huy Hà Vũ. Ông Hà Vũ là người bất đồng chính kiến với chính quyền, ông kêu gọi hợp – hoà giải dân tộc, ông kêu gọi dân chủ, ông nêu những vấn đề “dân oan”, v.v. Nhưng thay vì đối thoại với ông, thì những người trong chính quyền (và báo chí) bơi móc đời tư cá nhân của ông, và những tranh chấp trong gia đình ông. Người ta có lẽ muốn chứng minh rằng ông Hà Vũ đời thường cá nhân là tệ thế thì những gì ông ấy nói là không đáng để nghe. (Nói như thế thì đời tư các lãnh đạo từ ông Lê Duẩn đến ông Clinton, ông nào cũng có vấn đề đời tư cá nhân cả, thì không tin họ sao?) Không phân biệt được cá nhân và quan điểm của cá nhân là dễ dẫn đến bàn luận chẳng đi đến đâu.

Tuy nhiên, thói tấn công cá nhân là một thói nguỵ biện rất thấp kém nhưng lại rất lợi hại. Lợi hại là vì công chúng thích những chuyện đời tư cá nhân hơn là động não suy nghĩ chuyện lớn. Hệ quả của ad hominem cũng là đánh tráo vấn đề: chuyển đối tượng bàn luận sang chuyện cá nhân.

Một thói nguỵ biện hay được đem ra sử dụng là ví von bất xứng (false analogy). Thông thường, đây là thói nguỵ biện so sánh một sự việc đang bàn với một sự việc khác, nhưng các yếu tố trong so sánh không tương đồng với nhau. Tiêu biểu cho thói ngụy biện này là cách nói “nếu xem gói thuốc nổ trong bánh là khủng bố, thì việc bỏ bom cũng là khủng bố”. Nhưng hai sự việc rất khác nhau. Việc giả cái bánh để giết người là hành động lén lút ám sát, còn việc bỏ bom là hành động được tuyên bố trong một cuộc chiến. Không thể so sánh và đánh đồng hai sự việc như nhau được. Tương tự, cây búa và cây súng khác nhau xa về ý nghĩa trong chiến tranh, nhưng có người nói dùng súng để bắn chết người trong chiến tranh là ok thì dùng búa cũng ok. Nhưng cây búa không phải là công cụ để tự vệ trong chiến tranh, không phải là “conventional war”, mà nếu dùng nó để giết người trong chiến tranh thì phải xem đó là tội phạm. Không thể đánh đồng cây búa và cây súng được. Chiến tranh cũng có luật chơi của nó.

Thói nguỵ biện hay thấy ở người Việt là thói mà tiếng Anh gọi là ignorance – tức là thiếu thông tin (hay có người dịch là “dốt”). Một số đông các bạn trẻ trong nước bị tuyên truyền và nhồi sọ quá lâu, nên họ không phân biệt được đâu là sự thật và đâu là giả dối. Đến thời điểm này mà vẫn đem những Lê Văn Tám, những tay không kéo máy bay trực thăng, những “lê máy chém khắp nơi”, v.v. là rất đáng trách. Đó không phải là những sự thật, mà chỉ là sản phẩm của tuyên truyền và giả dối. Mà, những sự kiện giả dối thì không thể dùng trong bàn luận nghiêm chỉnh được.

Tôi thấy thỉnh thoảng có thói nguỵ biện đảo ngược điều kiện. Loại ngụy biện này thường được biểu hiện qua cách nói “Nếu VNCH thắng thì tình hình cũng thế”, và hàm ý là “tình hình tồi tệ hiện nay là chấp nhận được”. Thói nguỵ biện này phạm phải 2 cái sai lầm. Thứ nhất là sự việc đã không xảy ra, và cách nói chỉ là giả thuyết. Thứ hai, cách nói đó giả định rằng chế độ VNCH là chuẩn mực, một điều rất khó kiểm chứng trong thực tế. Tuy nhiên, cách nói như thế là rất thấp, vì nó là kiểu đánh vào … không khí (vì sự việc không xảy ra).

Điều đáng tiếc là những nguỵ biện như thế vẫn xảy ra hàng ngày trong thế giới mạng. Chẳng những thế mà còn xảy ra ở nhiều quan chức cao cấp. Có những nguỵ biện rất hài hước như IQ và đường sắt cao tốc, như số báo chí và đài truyền hình là tự do báo chí, như học tập cải tạo là thể hiện lòng nhân ái, vân vân và vân vân.

Nguỵ biện là hệ quả của sự lười biếng suy nghĩ. Vì lười biếng suy nghĩ nên người ta phải sử dụng những gì sẵn có. Những gì sẵn có là khẩu hiệu nhan nhãn từ mấy chục năm nay. Thành ra, không ngạc nhiên khi thấy sinh viên (và những người lười suy nghĩ) thấy ai có quan điểm và suy nghĩ khác họ thì họ cho ngay cái nhận xét “phản động”. Thấy ai nói về hành động tàn ác trong chiến tranh, họ nghĩ ngay đến “phía bên kia cũng ác ôn”. Dùng phía bên kia để biện minh cho sự ác ôn của mình là khó thuyết phục, nhưng nó làm cho họ cảm thấy an lòng. Họ chỉ thốt cái chữ đó ra theo quán tính, chứ chưa chắc họ biết cái nghĩa thật của chữ đó là gì.

Có lẽ, ở một khía cạnh nào đó, điều này cũng không đến nỗi tệ, bởi vì những ngụy biện phản ánh sự thành công [hay có người nói sự phong phú] của ngôn ngữ trong việc tách rời giữa những gì thô thiển, gồ ghề với những gì hoàn thiện, mĩ miều. Nhưng sự trơn tru của các vật thể và ngôn ngữ ngày nay đem lại cho chúng ta một cảm giác giả tạo về thế giới thực của các vật thể. Trơn tru, tròn trĩnh có thể là giả tạo. Những câu văn ngụy biện có thể chỉ là những lời phát biểu lém lỉnh thay vì lịch thiệp, hàm chứa mánh khóe thay vì thân thiện. Có thể nói, ngụy biện là những lối sáo ngữ liến thoắng nhằm vào mục đích lôi cuốn người nghe/đọc, thay vì cung cấp cho họ một sự thực.

Ở Việt Nam, báo chí tự do đến mức độ nào?

Diệu Linh (GDVN) – Tự do nhưng báo chí cũng phải hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, không được làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và nhân dân.

Theo đề nghị của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên Hiệp Quốc, ngày 20/12/1993 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc đã công bố ngày 3/5 hàng năm là “Ngày Tự do Báo chí thế giới”.

Ngày này được ghi nhận là để nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của tự do báo chí và nhắc nhở các chính phủ về bổn phận phải tôn trọng và duy trì quyền tự do ngôn luận theo Điều 19 của Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và đánh dấu ngày kỷ niệm Tuyên ngôn Windhoek – một tuyên ngôn về những nguyên tắc tự do báo chí do các nhà báo châu Phi đưa ra năm 1991.

Ngày “Tự do báo chí” năm nay được quan tâm hơn ở Việt Nam, vì nó trùng với dịp Chính phủ chuẩn bị công bố đề án quy hoạch báo chí toàn quốc.

Và có một câu hỏi không mới, nhưng còn nguyên tính thời sự của nó, đó là: Ở Việt Nam, có tự do báo chí không? Tự do tới mức nào?

Tại buổi họp báo Chính phủ thường kỳ cuối tháng 4 vừa rồi, ông Nguyễn Bắc Son – Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông cho biết, Việt Nam hiện có 838 cơ quan báo chí, gồm các loại hình báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử.

Và theo Bộ trưởng Son: “Thế giới nói rằng chúng ta không tự do báo chí, nhưng chắc chắn chúng ta là một trong những nước rất tự do báo chí. Bởi vì chúng ta có tất cả các loại hình báo chí, dành cho tất cả các lứa tuổi, từ Trung ương tới địa phương, các bộ, ngành. Các nước khác chưa chắc có nhiều đài truyền hình như Việt Nam chúng ta.

Hiện nay, chúng ta có hơn 300 kênh phát thanh, truyền hình để phục vụ cho người dân. Có thể nói đó là một nguồn lực rất lớn. Chưa chắc tất cả chúng ta ngồi đây đã xem được hết các chương trình truyền hình đó. Ngoài báo in, báo hình, báo nói, báo điện tử, truyền thông xã hội cũng cung cấp thông tin rất lớn cho người dân”.

Dù Bộ trưởng không nói thẳng ra, nhưng qua những thông tin mà ông cung cấp, thì người ta có thể ngầm hiểu là ở Việt Nam có tự do báo chí thì mới có nhiều đài truyền hình, nhiều tờ báo ra đời như vậy.


Báo chí công cụ của đảng đã có rất nhiều đóng góp
vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. ảnh: Ngọc Quang.

Trên thực tế, sự phát triển của báo chí trong khoảng 15 năm trở lại đây đã có những đóng góp rất quan trọng vào sự nghiệp phát triển kinh tế đất nước. Báo chí góp phần rất lớn vào nhiệm vụ chống tham nhũng. Báo chí cũng góp tiếng nói rất lớn mỗi khi có kẻ thù nhăm nhe xâm chiếm lãnh thổ nước nhà.

Còn nhớ vào giữa tháng 9 năm 2014, khi tiếp các nhà báo tham dự hội nghị thường niên Mạng thông tin châu Á tại trụ sở Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng đã khẳng định: “Quyền tự do báo chí là quyền cơ bản của quyền công dân, tự do báo chí là xu thế chung của thế giới.

Tuy nhiên tự do báo chí phải theo quy định của luật pháp để đảm bảo tự do của người này, tổ chức này không xâm phạm đến tự do và lợi ích của tổ chức và cá nhân khác. Hiến pháp Việt Nam mới thông qua cũng bảo đảm tự do trên tinh thần đó”.

Thật vậy, nếu chúng ta nhìn sang nước láng giềng Trung Quốc thì sẽ thấy ngay mức độ tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam đang dễ thở hơn rất nhiều.

Trung Quốc kiểm duyệt mạng internet rất chặt chẽ và cả quyền truy cập của cá nhân, và đến một tên tuổi lớn của của thế giới như facebook cũng phải tháo chạy khỏi thị trường này. Cộng đồng quốc tế cũng đã phản đối hành động này của Trung Quốc và gọi đó là vi phạm nhân quyền.

Nhà thơ Trần Đăng Khoa chia sẻ rằng, ông đã có dịp công tác ở Trung Quốc. Trong khách sạn, có thể xem được rất nhiều kênh truyền hình, nhưng tuyệt nhiên không xem được kênh nước ngoài.

Còn ở Triều Tiên lại có chuyện các cơ quan ngoại giao và tổ chức quốc tế đóng tại quốc gia này thậm chí còn bị ngăn chặn sử dụng Wi-Fi và các mạng không dây, bằng một giải thích rất không rõ ràng, dù vậy nếu vi phạm sẽ bị phạt cả chục nghìn USD.

Và ngay trên đất nước của chúng ta, trong những năm tháng chiến tranh, chế độ cũ ở Sài Gòn cũng đã đàn áp, đóng cửa những tờ báo có tư tưởng đối lập (khi nêu ra sự thật trong chế độ này). Có đến 19 nhà báo bị bỏ tù, thậm chí ký giả của AFP còn bị một Đại tá cảnh sát của chế độ Ngụy quyền có tên Phạm Kim Quy bắn chết.

Với tốc độ phát triển nhanh của báo chí và mạng xã hội những năm gần đây, người dân có thể tra cứu được mọi thông tin mà họ cần. Báo chí và người dân đã phát huy được sức mạnh trong cuộc chiến chống tham nhũng, dù rằng kết quả xử lý thì chưa đúng với mong muốn của dư luận.

Lẽ đương nhiên, dù có tự do đến thế nào thì báo chí cũng phải hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật, trong đó quan trọng là không được làm tổn hại đến lợi ích quốc gia và lợi ích hợp pháp của người dân. Điều này thì chẳng riêng gì ở ta, mà ở Mỹ, Pháp và các nước tiên tiến khác cũng yêu cầu như vậy.

Năm nay, Quốc hội dự kiến thông qua Luật Tiếp cận thông tin – một đạo luật tiếp tục khẳng định quyền tự do thông tin của người dân, đúng với Nghị quyết 59 (năm 1946) của Liên Hợp Quốc khẳng định: “Tự do thông tin là quyền con người cơ bản và là nền tảng của tất cả các tự do khác”.

Điều 25 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 cũng đã ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình”.

Có thông tin thì người dân mới giám sát được việc làm của bộ máy công quyền, mới tham gia được vào công việc quản lý xã hội và mới có điều kiện để làm ăn, sinh sống.

Có một điều đáng mừng ở Việt Nam các nhà lãnh đạo coi mạng xã hội là xu thế phát triển tất yếu của thế giới.

Bởi vậy mà Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu chủ động đưa thông tin chính thống lên các mạng xã hội nhằm đáp ứng yêu cầu về quyền tiếp cận thông tin của người dân.

Thủ tướng đã chia sẻ rất thẳng thắn: “Các đồng chí ngồi đây đều tham gia mạng xã hội, có điện thoại để lên Facebook xem thông tin. Trên mạng ai nói gì thì nói, nhưng có thông tin chính thống của Chính phủ thì người dân mới có lòng tin. Đây là nhiệm vụ mới cần phải làm tốt hơn trong năm nay”.

Đồng thời, Thủ tướng Thủ tướng cũng khẳng định: “Chúng ta quản lý, điều hành mà người dân không biết chủ trương, chính sách thì không được”.

Thông điệp này của Thủ tướng đã được rất đông đảo nhân dân ủng hộ, và nhìn từ góc độ đối ngoại thì đấy cũng là một nỗ lực rất lớn của Chính phủ để xua đi những lời lẽ không mấy hay ho nhằm vào đất nước ta, cho rằng Việt Nam không có nhân quyền.

Dù vậy, cũng giống như nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội, báo chí cũng gặp nhiều khó khăn trong thực tiễn, mà rõ nhất là quyền của nhà báo vẫn chưa thực sự được đảm bảo.

GS. Nguyễn Minh Thuyết – nguyên Phó Chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa, Giáo dục, Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng đã chỉ rõ rằng: “Trên thực tế nhiều quy định không được thực hiện, do đó quyền tiếp cận thông tin của nhà báo gặp nhiều trở ngại. Quy chế người phát ngôn mang tính hình thức và không thực tế. Các quy định mơ hồ như “bí mật công tác”, “không thuộc thẩm quyền” cộng với sợ trách nhiệm nên quy chế này không những không phát huy tác dụng mà còn ngăn cản báo chí tiếp cận thông tin.

Trong khi đó, Đại biểu Quốc hội Dương Trung Quốc cũng đặt vấn đề: “Nhìn lại bức tranh toàn cảnh báo chí của ta, có nhiều vấn đề cần định hướng lại và sửa đổi.

Luật Báo chí và nhiều văn bản quy phạm pháp luật của ta đang là bước lùi so với thế giới, nhiều vấn nạn như xin phép, quy hoạch đang là sự bất lực về quản lý. Lối tư duy phải quản cho chặt thực tế là thảm họa cho báo chí.

Vì vậy cần phải có tư duy mới thuận theo sự phát triển của xã hội theo hướng là quản cho có hiệu quả. Hiệu quả quan trọng nhất của báo chí là tác động vào xã hội, công dân như thế nào”.

Và trên thực tế, cũng có không ít tờ báo bị can thiệp, bằng cách này hay cách khác mỗi khi có các bài viết đề cập tới trách nhiệm cụ thể của một cá nhân hay tiêu cực ở một cơ quan, doanh nghiệp nào đó.

Những kiểu can thiệp ngầm ấy cũng ít nhiều làm ảnh hưởng tới tự do báo chí, ảnh hưởng tới quyền được tiếp cận thông tin của người dân. Nhưng có lẽ, nó là một phần của cuộc sống, của các mối quan hệ chằng chịt và không có cách nào để ngăn chặn?

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s