Giáo dục Việt Nam: Thuyền đi nước ngược

Posted: May 15, 2015 in Uncategorized
Tags:

Minh Trí – Ngọc Thịnh (VNTB) – Thuyền đi nước ngược. Không hướng tới tương lai, e rằng sẽ mãi khó “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”, như câu huấn thị của cố lãnh tụ đảng CSVN…

� Xem thêm: Tiếng Anh phổ thông rất mù mờ, lãng phí quá lớn, hiệu quả thấp + Việt Nam xếp thứ 12 chất lượng giáo dục toàn cầu: Ước lệ và phiến diện.

Thiếu tính sáng tạo

Nhắc đến giáo dục, ôi thôi, đủ thứ vấn đề: từ chương trình học, hình thức thi cho đến cách giảng dạy, học phí…. Theo quan điểm cá nhân của chúng tôi, thiếu tính sáng tạo và bảo thủ – duy ý chí là một trong số những nguyên nhân làm cho giáo dục Việt Nam thêm nặng nề, hiệu quả đạt được không bao nhiêu…

Điểm đầu tiên, chúng tôi muốn đề cập là trong hệ thống giáo dục Việt Nam thiếu tính sáng tạo. Suốt những năm cấp 1, cấp 2, cấp 3, vác cặp lên và đi… học, vô lớp, thầy cô giảng gì trò nghe đó. Nhất là môn Văn, ngày xưa, mỗi khi thầy cô cho ra đề thi gì mà không nói đúng như ý của thầy cô, hoặc nếu nói chệch theo phía khác, hầu hết sẽ bị điểm thấp ngay.

Một cựu học sinh lớp 12 nhớ lại: “Hồi đó, cô em cho ra cái đề đại khái nội dung là có nên hay không tình yêu trong phổ thông? Nhỏ bạn em nó chê cái vụ đó quá trời, kêu là không nên này nọ, phá hủy tương lai gì đó, cuối cùng nó được 8 điểm. Còn em, em viết khác, em nói vấn đề nào cũng có hai mặt, nếu tình yêu làm động lực cho con người học tốt hơn, có kết quả đẹp hơn thì vấn đề tình yêu trong học đường là chuyện tốt. Dĩ nhiên không thể phủ nhận có nhiều cặp vì yêu mà kém đi, như vậy thì không nên. Cuối cùng, em nhận được con 5 tròn trĩnh luôn…”.

Vậy đó, nếu duy trì cách học vẹt, thầy cô dạy sao trò nghe vậy thì làm sao giáo dục Việt Nam có thể phát triển? Tìm hiểu nguyên nhân, phải chăng thầy cô cũng muốn như vậy? Cô H. là giáo viên dạy Anh văn, chia sẻ: “Dạy ở các trung tâm hay trường tư nhân, mình phải trau dồi liên tục và thường xuyên nảy ra nhiều ý tưởng mới sao cho từng buổi dạy đều thú vị, học sinh tiếp thu và hiểu bài ngay trên lớp. Nếu mình cứ giậm chân tại chỗ, dần dần cũng sẽ bị đào thải. Ở phổ thông thì khác, cần gì phải nghĩ này nọ, cứ lên lớp dạy thôi, miễn sao đủ bài đủ tiết là được rồi…”

Không thể quơ đũa cả nắm. Mặc dù cũng có nhiều thầy cô (nhất là những sinh viên mới ra trường) có tâm huyết, mong muốn các tiết học trở nên lý thú hơn, nhưng quỹ thời gian làm sao… cho phép?

Giáo dục: bảo thủ – duy ý chí…

Có xưa mới có nay, có cũ mới có mới. Thế nhưng, quá câu nệ những cái cũ  giáo điều cũng sẽ làm cho giáo dục “dậm chân tại chỗ”.

Thời gian gần đây, xôn xao việc đưa Hán ngữ vào giảng dạy ở trường phổ thông. Không ai phủ nhận đó là nét văn hóa của người Việt. Tuy nhiên, ngày hôm nay, không còn áp dụng nhiều, đại trà, trong sinh hoạt cuộc sống nữa thì thôi tạm thời… để qua một cho bên, dành cho những người chuyên nghiên cứu Hán Nôm.

Xã hội ngày một phát triển, dân tộc đã có một thứ chữ, một thứ tiếng giúp giao tiếp dễ dàng hơn, thì tại sao lại phải quay ngược thời gian, tìm đến những cái khó khăn hơn để làm gì? Để mỗi khi Trung Quốc “giở trò” với Việt Nam là lấy Hán ngữ ra mà nói à? Thế thì tiếng Anh, tiếng Pháp… để làm gì? Và cũng nên xác định cho rõ ràng rằng: tiếng Hán ngữ, còn gọi là phồn thể, ngày nay, đa phần sử dụng là ở Đài Loan. Người Trung Quốc đang xài tiếng Hán giản thể, tiếng Bắc Kinh…

Tựu trung lại, những chuyện trong giáo dục tuy cũ, nói đi nói lại hoài nhưng vẫn không hề… cũ. Bởi nó vẫn còn y như thế, chưa có dấu hiệu của sự thay đổi. Hán ngữ là một phần của văn hóa Việt. Những cái cũ là nền tảng để phát triển xã hội tốt đẹp hơn. Nhưng không vì thế mà suốt ngày cứ bới móc cái cũ ra rồi đòi dạy đại trà theo kiểu 16 vàng – 4 tốt.

Thuyền đi nước ngược. Không hướng tới tương lai, e rằng sẽ mãi khó “sánh vai cùng các cường quốc năm châu”, như câu huấn thị của cố lãnh tụ đảng CSVN…

Tiếng Anh phổ thông rất mù mờ,
lãng phí quá lớn, hiệu quả thấp

Ngọc Quang ghi (GDVN) – Thạc sĩ Lê Tuệ Minh: “Đa số giáo viên tiếng Anh đều không đạt trình độ chuẩn yêu cầu về ngôn ngữ và ít có điều kiện được nâng cao trình độ”.

3 hạn chế cần thay đổi

Khi đánh giá một chương trình, tôi thấy luôn cần phải xem xét ba khía cạnh lớn: Một là chương trình – giáo trình – phương pháp giảng dạy; Hai là giáo viên; Ba là điều kiện thực hiện chương trình: Thời lượng, cách tổ chức giảng dạy và cơ sở vật chất.

Tất cả các ưu, nhược điểm của chương trình cũng như những giải pháp để có thể khắc phục, điều chỉnh, cập nhật, thay đổi… đều được xem xét xoay quanh 3 khía cạnh này.

Về chương trình, giáo trình tiếng Anh do các chuyên gia Việt Nam tự xây dựng từ cách đây khá lâu đã không còn phù hợp với đòi hỏi hiện nay của học sinh và xã hội.

Chương trình vẫn sử dụng những phương pháp giảng dạy cũ, theo hướng quy nạp (inductive), diễn dịch (deductive), thiên về ngữ pháp, chưa cập nhật theo khung chuẩn ngôn ngữ châu Âu (CERF).

Cụ thể là chưa cập nhật với các phương pháp giảng dạy ngoại ngữ thiên về giao tiếp (communicative), ứng dụng các phương tiện nghe, nhìn, kỹ thuật số và phương pháp lồng ghép các nội dung kiến thức các môn học khác trong giảng dạy ngoại ngữ (CLIL) như phương pháp đang được áp dụng phổ biến trong các chương trình và giáo trình giảng dạy tiếng Anh của các nhà xuất bản lớn trên thế giới hiện nay.

Trước thực trạng này, Bộ Giáo dục cũng đang hết sức tích cực phối hợp với các Nhà xuất bản lớn chuyên về chương trình, giáo trình giảng dạy tiếng Anh như Oxford, Cambridge, Pearson, Mac Millan… để lựa chọn chương trình và bộ giáo trình phù hợp nhất cho học sinh Việt Nam.


Thạc sĩ Lê Tuệ Minh đánh giá, dạy tiếng Anh hiện nay ở phổ thông là rất lãng phí.

Về giáo viên, nhìn tổng thể có rất nhiều vấn đề lớn, đặc biệt là trường công ở khu vực nông thôn: Thiếu nghiêm trọng kể cả về số lượng và chất lượng giáo viên, vì giáo viên chưa được đào tạo đạt chuẩn, đồng thời một số giáo viên đã đạt chuẩn thì lại rẽ ngang sang làm những nghề khác.

Có lẽ với mức thu nhập như hiện nay của giáo viên phổ thông ở hệ thống công lập, ngành giáo dục sẽ còn “chảy máu chất xám”.

Đại đa số các giáo viên tiếng Anh ở lại với nghề đều không đạt trình độ chuẩn yêu cầu về ngôn ngữ và ít có điều kiện được đào tạo, cập nhật để nâng cao trình độ.

Đây là việc không dễ giải quyết một sớm một chiều mà chỉ có thể khắc phục được phần nào bằng cách ứng dụng công nghệ.

Đặc biệt, khía cạnh thứ ba về mặt tổ chức và điều kiện thực hiện chương trình có rất nhiều vấn đề mà hầu như chưa tìm được giải pháp cho tổng thể.

Khi chúng ta cập nhật được chương trình hiện đại, có giải pháp về công nghệ thì sẽ khắc phục được phần nào bài toán về giáo viên.

Ngoài những hạn chế phổ biến do lớp học quá đông trên dưới 50 học sinh (gấp đôi quy mô tối thiểu một lớp học ngoại ngữ hiệu quả), điều kiện ứng dụng công nghệ (máy chiếu, tivi màn hình lớn, thiết bị tương tác, máy tính….) thì hạn chế lớn nhất là do hệ thống tổ chức giảng dạy tiếng Anh đang không có quy hoạch thống nhất.

Các trường triển khai chương trình tiếng Anh tùy theo điều kiện từng trường, từng cấp, không có sự quy hoạch một cách hệ thống và nối tiếp giữa các câp học với nhau, trong khi trường phổ thông ở Việt Nam rất ít trường liên cấp, đa phần là tách rời từng cấp học.

Chính vì vậy, mỗi lần chuyển cấp, các em lại học lại từ đầu rất lãng phí thời gian và tạo ra thời gian “chết” trong các tiết học tiếng Anh theo chương trình đại trà bắt buộc học chung theo cả khối.

Trong khi đó, nếu chương trình được tổ chức theo hướng nối tiếp theo bậc thang đi lên giữa các cấp học, học sinh sẽ thực sự học và tiến bộ đúng theo trình độ và khả năng thực tế của các em.

Có thể thấy ngay điều này khi học sinh tham gia học tập tại các trung tâm ngoại ngữ với giáo viên bản ngữ, chương trình chuẩn… đã đạt được kết quả vượt xa học sinh chỉ học chương trình đang áp dụng đại trà trong các trường.

Cần đổi mới thực sự chương trình, phương pháp dạy ngoại ngữ

Việc đưa vào áp dụng chương trình và giáo trình theo chuẩn, cập nhật các phương pháp giảng dạy tiên tiến do các chuyên gia đầu ngành của các nhà xuất bản chuyên ngành lớn trên thế giới sẽ mang lại một thay đổi căn bản về nội dung và phương pháp giảng dạy.

Về mặt tổng thể, việc ứng dụng các nguồn tài liệu kỹ thuật số với các phương tiện nghe nhìn như video, film, các đoạn hội thoại, các mô phỏng, các bài giảng được các giáo viên bản ngữ trực tiếp thực hiện với các tình huống giao tiếp thực tế… sẽ là những hướng thay thế khả thi với tình trạng khan hiếm giáo viên chuẩn như hiện nay với kinh phí phù hợp, không quá tốn kém và có thể linh hoạt triển khai tùy điều kiện, tùy mức độ ở tất cả các trường.

Vấn đề tổ chức chương trình theo hệ thống tăng tiến theo bậc thang chứ không bị lặp lại sẽ là vấn đề khó khăn nhất do quá trình thực hiện chương trình cũ đang tạo ra sự khác biệt về trình độ của học sinh quá lớn và điều kiện tổ chức các cấp học vẫn riêng biệt, không có sự kết nối.

Việc này chỉ có thể giải quyết phần nào nếu Bộ Giáo dục cho phép các trường được chủ động trong việc tổ chức chương trình, áp dụng linh hoạt các trình độ tiếng Anh khác nhau tùy theo điều kiện đầu vào của trình độ học sinh của từng trường.

Muốn như vậy, việc ban hành một thang chuẩn về trình độ như kiểu CEFR (thang khung tham chiếu ngôn ngữ châu Âu) và để chương trình, giáo trình bám theo khung chuẩn đó thay vì ấn định đồng loạt theo khối lớp như hiện nay là rất cần thiết.

Xét cho cùng, Bộ Giáo dục cũng đã ban hành quy định cho phép thay thế việc thi tốt nghiệp lớp 12 bằng kết quả các kỳ thi chuẩn hóa tiếng Anh toàn cầu như IELTS và TOEFL thì việc học trong suốt 12 năm theo đúng thang bậc và chuẩn khảo thí như vậy cũng nên triển khai sớm để tiết kiệm sức lực cho các em (vì kết quả đó cũng sẽ dùng để xét tuyển tại bậc Đại học), tránh lãng phí trong những giờ học tại trường phổ thông.


Cần có sự linh hoạt để phân loại học sinh, tránh gộp tất cả các trình độ vào một lớp. ảnh: gdtd.

Đối với những trường như Wellspring thì có lợi thế hơn nhiều so với các trường công lập khi thiết kế chương trình tiếng Anh, với sự hỗ trợ và công nhận của các tổ chức giáo dục và khảo thí uy tín hàng đầu thế giới nên phần lớn những vấn đề bất cập đều được xem xét và giải quyết ngay từ đầu.

Ngay trong một khối lớp, chúng tôi có thể chia những lớp thuộc 3-4 trình độ tiếng Anh khác nhau từ điểm xuất phát, vì nếu gộp hết vào một lớp thì rất lãng phí và không công bằng, tối ưu với các em.

Có những học sinh của chúng tôi khi hết Tiểu học đã đạt mức tiếng Anh ở trình độ B1, thậm chí là B2 (theo khung tham chiếu ngôn nngữ châu Âu – CEFR) thì các em phải xuất phát từ lớp 6 với giáo trình Intermediate (trung cấp) chứ không thể học cùng với các em có xuất phát điểm ở mức độ Beginner (khởi đầu) được.

Chúng tôi xin chia sẻ về chương trình như sau: Học sinh Tiểu học và THCS được học song ngữ với 3 cấu phần chính: Chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo (60%), Tiếng  Anh, các môn Toán, Khoa học, Công nghệ thông tin (ICT) chiếm 40% với chuẩn chương trình và đánh giá là các bài thi trực tiếp của Cambridge International Examinations (CIE), Cambridge English, ETS (TOEFLE), ERB (Hoa Kỳ) với giáo viên bản ngữ chiếm tới trên 80% thời lượng chương trình quốc tế.

Ở bậc THPT, học sinh sẽ có nhiều sự lựa chọn hơn. Tùy theo định hướng về lộ trình học tập của học sinh  và gia đình, các em có thể tham gia chương trình Song ngữ, chương trình Phổ thông Quốc tế Cambridge IGCSE/ A Level (THPT Anh Quốc) hoặc chương trình  THPT Song bằng Việt  Nam –  Hoa Kỳ với trường THPT thuộc Đại học Missouri (top 100 trường Đại học hàng đầu Hoa Kỳ).

Việc nắm rõ khả năng và trình độ hiện tại của học sinh để phát hiện, bồi dưỡng, phát triển nhân tài và có chương trình phù hợp, hỗ trợ với những học sinh có xuất phát điểm chưa cao là sự ưu việt của một môi trường giáo dục cá thể hóa để tất cả các học sinh đều có lộ trình phát triển tối ưu nhất.

Việt Nam xếp thứ 12 chất lượng giáo dục toàn cầu:
Ước lệ và phiến diện

Xuân Trung (GDVN) – Việt Nam vinh dự xếp thứ 12, trong khi các nền giáo dục được coi là có chất lượng tốt như Úc, Anh, Mỹ, Thụy Điển lại xếp sau.

Tổ chức Hợp tác và phát triển Kinh tế thế giới (OECD) vừa công bố bảng xếp hạng chất lượng Giáo dục toàn cầu. Theo bảng xếp hạng này ngay cả Pháp (xếp thứ 23), Mỹ (xếp thứ 28) và Thụy Điển (xếp thứ 35), vẫn thua Việt Nam. Các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cũng khá khiêm tốn khi Thái Lan chỉ xếp thứ 47 và Malaysia thứ 52.


Theo bảng xếp hạng của OECD giáo dục Việt Nam xếp vị trí thứ 12. Ảnh OECD

Trước thông tin này, trao đổi với Phóng viên Báo điện tử Giáo dục Việt Nam, thầy Văn Như Cương – Chủ tịch Hội đồng quản trị Trường phổ thông Lương Thế Vinh cho biết, nếu đúng như xếp hạng 12 thì Việt Nam không cần gì phải đổi mới giáo dục. Thầy Cương cũng nói vui, chất lượng giáo dục Việt Nam xếp thứ 12 thế giới thì các đại gia cũng nên khuyên các con đang du học ở các nước có nền giáo dục phát triển về nước, việc gì phải học ở nước có nền giáo dục đứng thứ 28 (Mỹ), 14 (Úc)…

Trao đổi thêm, thầy Cương cho rằng ngay ở cái tên “Bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu của OECD” cũng tỏ ra to tát.

Nếu nói kĩ hơn thì đây chỉ là cuộc xếp hạng giáo dục cho khối học sinh ở độ tuổi 15 dựa trên sự phân tích, tổng hợp kết quả điểm thi của các kỳ thi toán và khoa học trên cùng một tiêu chí, cùng một thang điểm so sánh.

“Các tiêu chí tôi chưa thấy tổ chức này nói rõ đầy đủ, chỉ là tổng hợp kết quả điểm thi của các kỳ thi toán và khoa học mà dùng từ “Bảng xếp hạng giáo dục toàn cầu thì quá to tát” thầy Cương nói. Vẫn theo thầy Văn Như Cương, mỗi một bảng xếp hạng chỉ xếp theo một tiêu chí nào đó chứ chưa có một bảng xếp hạng để đánh giá chất lượng giáo dục một cách toàn diện.

Nếu xếp hạng toàn diện một nền giáo dục phải căn cứ vào nền giáo dục đó đã góp phần như thế nào cho sự phát triển về kinh tế và xã hội cho đất nước. Ví như, nếu không có nền giáo dục đó thì GDP thấp như thế nào, và nếu có nền giáo dục đó phát triển thì GDP tăng như thế nào? Đó chính là tác động của giáo dục.


Theo bảng xếp hạng này thì chất lượng giáo dục phổ thông Việt Nam
vượt xa Mỹ, Pháp, Úc, Thụy Điển, Anh. Ảnh minh họa Xuân Trung

“Nếu xét về mặt đó thì nền giáo dục của chúng ta còn kém quá, giáo dục chúng ta chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội. Chúng ta chưa đào tạo ra nguồn nhân lực có trình độ để làm việc.

Ngay cả nông dân cũng chỉ làm việc theo kinh nghiệm từ cha ông để lại, chứ chưa được học” thầy Cương cho hay.

Dẫn chứng thêm, thầy Văn Như Cương cho rằng, nền giáo dục của chúng ta đang tụt hậu, do đó chúng ta mới cần tới một cuộc đổi mới toàn diện, căn bản.

Đón nhận thông tin này, GS. Lâm Quang Thiệp – Nguyên Vụ trưởng Vụ Giáo dục Đại học (Bộ GD&ĐT) cho biết, chất lượng giáo dục Việt Nam thì ai là người Việt Nam cũng biết. “Có ai thỏa mãn được về nền giáo dục Việt Nam đâu, trong chăn mới biết chăn có rận.

Chúng ta đang có nhiều khiếm khuyết, thiếu sót nên phải đổi mới toàn diện” GS. Thiệp nói.

Cũng theo GS. Lâm Quang Thiệp, vì do OECD chưa công bố các tiêu chí cụ thể, các công đoạn kĩ thuật để cho ra được kết quả này thì rất khó đánh giá.

Nếu cho rằng bảng xếp hạng lần này dựa trên kết quả của ba kỳ thi PISA, TERCE, TIMSS thì TIMSS và TERCE Việt Nam cũng chưa tham gia.

GS. Thiệp cũng đã từng đề nghị Việt Nam nên tham gia đánh giá TIMSS (đánh giá toán học) nhưng chưa có điều kiện.

“Chúng ta chỉ từng tham gia đánh giá xếp hạng PISA (toán, khoa học và đọc hiểu). Đọc hiểu chúng ta đứng thứ hạng cao, toán đứng thấp, tổng hợp 3 môn này chúng ta đứng trên mức trung bình, và cũng có nhiều ý kiến khác nhau về kết quả này” GS. Thiệp cho biết.

Cũng theo GS. Lâm Quang Thiệp, có thể Việt Nam đi thi toán quốc tế dẫn đầu so với nhiều nước phát triển, điều đó chứng tỏ học sinh Việt Nam cũng giỏi toán. Nhưng không thể nói nền toán học Việt Nam là tốt.

Vì theo GS. Thiệp, thi toán quốc tế mỗi nước có quan niệm khác nhau, ở Việt Nam có thể phải tuyển chọn học sinh nghiêm ngặt trong cả nước, rồi luyện như “gà nòi” để được đi thi. Nhưng các nước khác họ lại xem kỳ thi Olympic như một trò chơi như đi picnic.

Mặc dù xếp hạng PISA trước đó là đáng tin cậy nhưng cũng không thể nói kết quả tốt của PISA nói lên nền giáo dục Việt Nam là tốt. Vì PISA không dựa vào chương trình giáo dục, mà chỉ dựa vào năng lực của học sinh ở độ tuổi 15.

“Dù sao phải thừa nhận tố chất của học sinh Việt Nam là tốt, vượt khó trong học tập của các em là cao. Cần phải xem khía cạnh mà họ đánh giá Việt Nam, có thể ở khía cạnh này là tốt nhưng khía cạnh khác lại không tốt” GS. Thiệp nhấn mạnh.

Giật mình nhưng không bất ngờ

Thông tin Việt Nam xếp thứ 12 về chất lượng giáo dục. Thầy Trần Trung Hiếu – Giáo viên Trường THPT Chuyên Phan Bội Châu (Nghệ An) nêu quan điểm:

Thứ nhất, đây chỉ là những con số mang tính ước lệ và phiến diện khi xếp hạng “chất lượng giáo dục toàn cầu” chỉ dựa vào kết quả điểm thi môn Toán và khoa học ở độ tuổi 15 chứ không phải xếp hạng nền giáo dục Việt Nam.

Thứ hai, nếu giả sử ( chỉ là giả sử)“chất lượng giáo dục toàn cầu” của Việt Nam xếp thứ 12 của thế giới ( đứng trên các nước phát triển Mỹ, Anh, Pháp, Úc…) thì chúng ta cho con em sang các nước đó đi học làm gì nữa?

Việt Nam đang bắt đầu cải cách toàn diện và đồng bộ nền giáo dục đã chứa đựng quá nhiều bật cập, yếu kém trong nhiều năm qua và cũng mất nhiều năm năm nữa chúng ta mới có một nền giáo dục phát triển.

Việc học sinh Việt Nam tham dự và đạt nhiều giải cao trong các kỳ thi Olympic châu lục và Quốc tế không có nghĩa là chất lượng giáo dục toàn cầu của chúng ta đã tiến kịp và vượt các nước tiên tiến.Từ lý thuyết đến thực tiễn vẫn luôn là một khỏang cách.

Thứ ba, cần một sự minh định rạch ròi giữa 2 vấn đề giáo dục và kinh tế. Hiện nay nhiều nước tư bản phát triển đang rơi vào sự suy thoái về kinh tế do cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, nhưng đó vẫn luôn là những nước có nền giáo dục tiên tiến.

Nói tóm lại, tôi cảm thấy giật mình nhưng không bất ngờ về bảng xếp hạng đó.Chúng ta đừng hoang tưởng và vội mừng về điều đó. Chúng ta cần biết vị trí thực của Việt Nam về kinh tế – xã hội như thế nào trên bản đồ thế giới để thấy mình, biết được người.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s