Cử nhân thất nghiệp tăng đột biến: Buông lỏng chất lượng, đầu ra

Posted: May 23, 2015 in Uncategorized
Tags:

(NLĐ) – Các trường ĐH, CĐ mải chạy theo việc mở rộng quy mô mà không chú trọng đến chất lượng đào tạo đã khiến cử nhân tốt nghiệp hàng loạt nhưng không đáp ứng với đòi hỏi thực tế của thị trường lao động.

� Xem thêm: Tin liên quan + GS. Hoàng Tụy: ‘Xét toàn diện, học sinh Việt còn thua xa’.

“Các doanh nghiệp than phiền sinh viên (SV) ra trường không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng, trong đó 70% yếu kỹ năng như giao tiếp, làm việc nhóm, thiếu tinh thần kỷ luật và đặc biệt là yếu ngoại ngữ… Thực tế cho thấy mục tiêu đào tạo của các trường hiện nay so với yêu cầu và đòi hỏi thực tiễn của công việc vẫn tồn tại khoảng cách lớn” – ông Trần Anh Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TP HCM, nói.

Quy mô tăng, giảng viên tiến sĩ giảm

Theo ông Tuấn, nguyên nhân thất nghiệp có nhiều, tuy nhiên có thể thấy 2 lý do cơ bản: Có ít chỗ làm hơn so với nhu cầu của người tìm việc phù hợp với ngành nghề đã được đào tạo; số lượng chỗ làm việc nhiều nhưng nhiều người tìm việc không đáp ứng trình độ hoặc không muốn làm những công việc đó. Trường hợp thứ nhất tồn tại về “thiếu hụt chỗ làm việc”, trường hợp thứ hai “không phù hợp cơ cấu đào tạo nghề và nhu cầu nhân lực”. Như vậy, có thể nhận định nguyên nhân thất nghiệp cốt lõi là vấn đề đào tạo nghề, kỹ năng nghề chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.


Sinh viên tốt nghiệp đang tìm thông tin việc làm tại ngày hội việc làm
do Trường ĐH Ngân hàng TP HCM tổ chức ngày 17-5. Ảnh: BẢO LÂM

Và thực tế là các trường chạy theo số lượng đã buông lỏng chất lượng đào tạo. Đội ngũ giảng viên (GV) chính là yếu tố sống còn để nâng chất lượng nhưng thực tế dù quy mô SV tăng chóng mặt nhưng quy mô GV tăng không tương xứng. Từ năm 2009-2010 đến 2011-2012, dù số lượng SV tăng 226.000 người nhưng GV chỉ tăng 3.900 người; trong đó GV bậc tiến sĩ chỉ tăng 830 người. Đặc biệt, ở bậc CĐ quy mô GV còn giảm, cụ thể năm 2009-2010 có 24.600 GV thì năm 2010-2011 giảm còn 23.600 GV; trong đó GV tiến sĩ giảm từ 656 người năm 2009-2010, còn 586 người năm 2010-2011.

Riêng tiêu chí về diện tích đất bình quân tối thiểu phải là 55 m2/SV thì hầu như không cơ sở giáo dục ĐH ngoài công lập nào đạt được, theo báo cáo của Ủy ban Văn hóa – Giáo dục Thanh niên, Thiếu niên và Nhi đồng của Quốc hội năm 2013.

Theo báo cáo mới nhất của ủy ban này về giải quyết việc làm cho SV tốt nghiệp thì điều kiện bảo đảm chất lượng của nhiều trường còn hạn chế, điều kiện cơ sở vật chất trang thiết bị còn lạc hậu, chưa đáp ứng được yêu cầu đào tạo, uy tín chất lượng đào tạo chưa cao, khả năng cạnh tranh thấp nên SV tốt nghiệp gặp khó khăn nhiều trong tìm kiếm việc làm.

TS Đàm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH FPT, cho rằng không phải là các đơn vị tuyển dụng không tuyển người, thậm chí các đơn vị giành giật nhau trong tuyển dụng là đằng khác. Tuy nhiên, nhiều lĩnh vực nguồn nhân lực không đáp ứng được tiêu chuẩn của các đơn vị tuyển dụng, đặc biệt là nguồn nhân lực về công nghệ – kỹ thuật cao.

Đầu ra quá dễ

Các chuyên gia cho rằng trường ĐH, CĐ không dựa vào thông tin thị trường lao động và việc làm để xây dựng kế hoạch và thực hiện đào tạo theo nhu cầu sử dụng lao động nên chỉ chú trọng đào tạo những gì trường có khả năng mà không đào tạo những ngành xã hội cần và có nhu cầu lớn. “Cơ cấu đào tạo rất mất cân đối, nhiều trường chú trọng đào tạo các ngành kinh tế để rồi thừa, trong khi những ngành kỹ thuật như hàn, cơ khí, tự động hóa… rất cần nhân lực thì lại hiếm” – ông Tuấn nêu thực tế.

“Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) chỉ hoạnh họe, làm khó để có cái “dễ” khi mở trường. Thành lập trường rồi, nhiều trường dạy không ra gì, không sát thực tế và đặc biệt khi SV ra trường, bộ không hề “làm khó”, đầu ra hoàn toàn thả lỏng” – GS Võ Tòng Xuân, nguyên Hiệu trưởng Trường ĐH An Giang, lo lắng.

Theo GS Xuân, đáng ra Bộ GD-ĐT phải xây dựng chuẩn đầu ra với sự tham gia của các hiệp hội nghề nghiệp. Ví dụ, ngành bác sĩ đa khoa cần bộ tiêu chuẩn gì, Bộ GD-ĐT phải phối hợp với Bộ Y tế để xây dựng thì mới gắn được với thực tế và đáp ứng đòi hỏi của công việc. Sau khi đào tạo, SV phải trải qua kỳ thi quốc gia về bằng cấp của bác sĩ đa khoa, anh nào đạt thì chứng tỏ đã học được trường tốt, anh trượt chứng tỏ học ở trường “dỏm”. Nếu là trường “dỏm” thì phải siết lại chỉ tiêu, năm sau phải ít hơn năm trước, thậm chí đóng cửa chứ không thể cứ đào tạo tràn lan để rồi cử nhân “sống chết mặc bay”.

“Với việc cử nhân thất nghiệp quá nhiều khiến hình ảnh giáo dục Việt Nam xấu đi, cho thấy chất lượng giáo dục ĐH không được xã hội tin tưởng” – GS Xuân kết luận.

[:-/] Cử nhân thất nghiệp tăng đột biến, vì đâu? (NLĐ) – Nhiều nguyên nhân được Bộ Giáo dục và Đào tạo lý giải cho tình trạng cử nhân thất nghiệp tăng cao nhưng nguyên nhân chính và trách nhiệm của bộ về việc tăng quy mô quá nhanh, mở trường tràn lan, không chú trọng chất lượng thì không được nhìn nhận đúng mức

Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tại phiên giải trình của Chính phủ cuối tháng 4 vừa qua về việc thực hiện Luật Giáo dục ĐH và vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên (SV) tốt nghiệp đưa ra con số biết nói: Lao động trình độ ĐH, CĐ thất nghiệp năm 2014 so với 2010 tăng 103%.

Như vậy, chỉ trong 4 năm, số lượng cử nhân thất nghiệp tăng hơn gấp đôi. Đây là con số rất đáng lo và Bộ GD-ĐT đã đưa ra nhiều nguyên nhân lý giải thực trạng này: điều kiện bảo đảm chất lượng của một số cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu của đào tạo, đội ngũ giảng viên thiếu về số lượng, không tương xứng với quy mô đào tạo, điều kiện cơ sở vật chất nghèo nàn, trang thiết bị lạc hậu; nhiều cơ sở giáo dục ĐH đào tạo chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế; quy trình mở trường, cấp phép hoạt động trong một thời gian dài còn thiếu quy định chặt chẽ…

Ngoài ra, Bộ GD-ĐT còn đẩy nguyên nhân cho thị trường lao động còn sơ khai, chưa đủ thể chế để hoạt động hiệu quả; việc quy hoạch phát triển nhân lực của địa phương, bộ ngành mang tính hình thức, chưa sát thực tế; xã hội còn tâm lý chuộng bằng cấp…


Quy mô đào tạo các trường ĐH, CĐ giai đoạn 2008-2012, theo đó, giai đoạn này
số lượng sinh viên ĐH, CĐ tăng lên nửa triệu người. (Nguồn: Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Những nguyên nhân mà Bộ GD-ĐT đưa ra đều có lý nhưng theo các chuyên gia giáo dục và các nhà nghiên cứu, nguyên nhân dẫn đến việc năm 2014 đạt đỉnh về tỉ lệ thất nghiệp chính là hậu quả của việc tăng quy mô đào tạo trình độ CĐ, ĐH 3-4 năm trước. Theo số liệu mà chúng tôi thu thập được, năm 2009-2010, quy mô SV tăng đến 47% so với năm 2004-2005 (từ hơn 1,3 triệu lên đến 1,9 triệu SV). Quy mô tiếp tục tăng mạnh vào năm 2010-2011 (ở mức hơn 2,1 triệu SV) và đạt đỉnh năm 2011-2012 ở mức hơn 2,2 triệu SV, tăng 28% so với năm 2008-2009 (1,7 triệu SV).

PGS-TS Phan Bảo Ngọc, giảng viên Trường ĐH Quốc tế – ĐHQG TP HCM, nhận định: “Năm 2008-2009, quy mô đào tạo là khoảng 1,7 triệu SV thì năm 2011-2012 đã tăng lên 2,2 triệu SV. Nếu so với quy mô đào tạo bậc ĐH của ĐHQG TP HCM (khoảng 50.000 SV) thì quy mô đào tạo giai đoạn này tăng tương đương với… 10 ĐHQG. Chỉ trong 3 năm mà tăng đến nửa triệu SV quả là con số khủng khiếp!”.

Vào ồ ạt và theo đó là số SV ra trường cũng tăng đột biến. Năm 2012-2013, số SV tốt nghiệp là hơn 425.000 người, tăng 165% so với năm 2010 và gấp 2,2 lần so với năm 2005. Thị trường lao động vì thế không thể đón nhận hết dẫn đến hậu quả tất yếu là “đỉnh” thất nghiệp chưa từng có. “Tỉ lệ thất nghiệp năm 2014 tăng gấp đôi so với năm 2010 là hậu quả tất yếu của việc tăng quy mô đào tạo quá nhanh. Đây là triết lý nhân quả trong giáo dục mà các nhà quản lý cần nhìn nhận” – PGS-TS Ngọc nói.

Đặc biệt, có sự bất hợp lý trong cơ cấu ngành nghề đào tạo. Thống kê cho thấy năm 2011-2012 có đến 403 ngành kinh doanh quản lý; 363 ngành khoa học GD-ĐT; 280 ngành khoa học nhân văn; 232 ngành công nghệ kỹ thuật… Trong khi những ngành như nông, lâm nghiệp và thủy sản chỉ có 116 ngành; thú y: 8 ngành, môi trường và bảo vệ môi trường: 28 ngành; dịch vụ vận tải: 12 ngành… Như vậy, phần đông các trường ĐH, trong đó phần lớn là các cơ sở ngoài công lập, vẫn tập trung mở và tuyển sinh ngành dễ dạy, dễ học, dễ thu hút SV nhưng ít tốn kém cơ sở vật chất, trang thiết bị thí nghiệm, thực hành trong quá trình đào tạo.

TS Đàm Quang Minh, Hiệu trưởng Trường ĐH FPT, nhận định: Rõ ràng có sự mất cân đối ngành nghề và mở rộng quy mô tràn lan. “Chạy theo quy mô nên chất lượng giáo dục không được chú trọng. Trong khi đáng ra cần đầu tư vào những trường quy mô nhỏ nhưng chất lượng và chuyên sâu thì chúng ta lại đào tạo và mở trường, mở ngành bất hợp lý, chạy theo số lượng” – TS Minh nói.

[:-/] Cử nhân thất nghiệp tăng đột biến: Phải quyết liệt thay đổi (NLĐ) – Bộ Giáo dục và Đào tạo cần có những giải pháp mang tính chiến lược, quyết liệt hơn nữa để nâng cao chất lượng nhân lực

Báo cáo với Chính phủ về vấn đề giải quyết việc làm cho sinh viên (SV) tốt nghiệp, Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) đưa ra 15 giải pháp khắc phục và kiến nghị, đề xuất.

Nhiều giải pháp mơ hồ

Bộ GD-ĐT cho biết thời gian tới sẽ triển khai mạnh mẽ các giải pháp gồm: Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người học và xã hội về cách lựa chọn ngành nghề, trình độ đào tạo phù hợp với khả năng và nhu cầu của thị trường lao động; đẩy mạnh công tác phân luồng, định hướng giáo dục tiếp cận nghề nghiệp cho học sinh; tăng cường điều tra, khảo sát, dự báo và đẩy mạnh công tác kế hoạch để thực hiện quy hoạch nguồn nhân lực sát thực tế; thực hiện hiệu quả dự án hỗ trợ đào tạo giáo viên, xây dựng cơ chế xác định chỉ tiêu tuyển sinh trên cơ sở nhu cầu của thị trường lao động; chỉ đạo các cơ sở đào tạo đầu tư nâng cao điều kiện bảo đảm chất lượng đào tạo…


Cử nhân phỏng vấn xin việc tại ngày hội việc làm của Trường ĐH Nông Lâm TP HCM Ảnh: HUY LÂN

Theo đánh giá của các chuyên gia, những giải pháp mà Bộ GD-ĐT đưa ra vẫn còn chung chung, hình thức, mơ hồ… Điều quan trọng nhất – đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát và có chế tài xử lý kiên quyết, nghiêm khắc đối với các cơ sở đào tạo vi phạm, không bảo đảm chất lượng – thì không nói đến và đặt lên hàng đầu.

Thực tế thời gian qua, Bộ GD-ĐT có tiến hành thanh tra, kiểm tra, rà soát những điều kiện bảo đảm chất lượng của các trường và dừng tuyển sinh những cơ sở không bảo đảm. Tuy nhiên, việc dừng tuyển sinh không đủ “sức nặng” khi chỉ một thời gian ngắn, bộ cho phép tuyển sinh trở lại.

Cụ thể, tháng 12-2011, Bộ GD-ĐT đình chỉ tuyển sinh đối với các Trường ĐH Văn Hiến, Đông Đô và CĐ Công nghệ Thông tin TP HCM cùng 12 ngành học của 4 trường ĐH Chu Văn An, Lương Thế Vinh, Nguyễn Trãi và Kiến trúc Đà Nẵng. Tháng 4-2012, bộ tiếp tục đình chỉ tuyển sinh 6 ngành của các trường: CĐ Bách nghệ Tây Hà, CĐ Kỹ thuật – Công nghiệp Quảng Ngãi, ĐH Phú Xuân, ĐH Yersin Đà Lạt, ĐH Thành Tây. Nguyên nhân đình chỉ là các trường chưa bảo đảm đủ điều kiện về cơ sở vật chất và tỉ lệ SV/giảng viên cơ hữu. Tuy nhiên, chỉ khoảng hơn 1 năm sau (tháng 1-2013), bộ cho phép các trường, ngành trên tuyển sinh trở lại. Đến tháng 1-2014, 207 ngành của 71 trường ĐH cũng bị dừng tuyển sinh do không đủ điều kiện giảng viên cơ hữu. Tuy nhiên, chỉ 2 tháng sau, bộ cho phép gần 100 ngành đào tạo ĐH được tuyển sinh trở lại…

Tại sao chỉ trong vòng 1 thời gian ngắn ngủi, các trường có thể ngay lập tức đáp ứng điều kiện để được tuyển sinh? Đây là dẫn chứng cho thấy sự thiếu quyết liệt của Bộ GD-ĐT trong việc kiểm soát chất lượng giáo dục ĐH. Chính vì vậy, các trường mặc sức tuyển sinh, đào tạo mà thiếu sự hậu kiểm và chế tài của cơ quan quản lý.

GS. Hoàng Tụy: ‘Xét toàn diện, học sinh Việt còn thua xa’

Nguyễn Đoàn Đình Bổng (VNN) – “Bởi nếu xét toàn diện thì những tiêu chí như năng lực tư duy, năng lực hành động… kỹ năng sống, năng lực cảm thụ, những cái đó học sinh Việt Nam chắc chắn thua xa”.

Chớ ảo tưởng

Vừa qua, theo công bố của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) thì Việt Nam được xếp hạng thứ 12 trên thế giới, vượt qua các nước phát triển như Mỹ, Anh… trong bảng xếp hạng này.

Tuy nhiên, theo GS. Hoàng Tụy, nếu theo bảng xếp hạng và tiêu chí đánh giá chất lượng giáo dục của tổ chức OECD, thì giáo dục Việt Nam đã được bỏ qua những cái… bê bết nhất, để nằm ở vị trí thứ 12 trên thế giới.

Ngành giáo dục nên xem lại chất lượng của chính mình, chớ ảo tưởng vào kết quả của cách đó. Xếp hạng này là xếp hạng dưới góc độ hẹp. Đó là độ tiếp thu, nhận thức của học sinh về những hiểu biết môn Toán và môn Khoa học. Nó chỉ có tiêu chí như thế thì sự xếp hạng là chính xác, phù hợp.

Nhưng có điều, đó là tiêu chí rất hẹp. GS. Hoàng Tụy chỉ ra: “Không thể dựa trên tiêu chí ấy để đánh giá chất lượng, và ngộ nhận rằng chất lượng giáo dục Việt Nam còn cao hơn cả giáo dục của các nước phát triển như Pháp, Mỹ. Bởi nếu xét toàn diện thì những tiêu chí như năng lực tư duy, năng lực hành động, xử lý, giải quyết các tình huống nảy sinh trong thực tiễn, hay các kĩ năng sống, năng lực cảm thụ, những cái đó học sinh Việt Nam chắc chắn thua xa”.

Khi nhìn nhận chất lượng giáo dục Việt Nam dưới những tiêu chí như kỹ năng sống, tư duy, năng lực cảm thụ thì có thể nhận thấy giáo dục nước nhà vẫn còn “bê bết”. Các em học sinh vẫn đang học theo tư duy lối mòn, tiếp thu thụ động. Nghĩa là, thầy dạy sao trò biết vậy, sách giáo khoa viết sao thì học sinh “học gạo” như thế.

Ngành giáo dục, với phương pháp truyền thụ, cách giáo dục thụ động là một nguyên nhân hạn chế năng lực phản biện của các em học sinh. Hay như trong tiêu chí năng lực cảm thụ, đa phần người Việt Nam đều rất kém trong kĩ năng này. Vậy, năng lực cảm thụ là gì? Là khi con người ta đứng trước cái đẹp, một công trình kiến trúc, một bức tranh hay một tác phẩm văn học… họ có thể cảm nhận được cái đẹp cái dở của tác phẩm đó, không dừng lại ở việc đưa ra nhận định mà còn giải thích cho những nhận định của họ.


GS Hoàng Tụy. Ảnh: Nguyễn Đoàn Đình Bổng

Đi ngược thế giới

Bằng nhiều năm đào tạo sinh viên, nghiên cứu và hợp tác tại nhiều nước phát triển, kết hợp với những tài liệu nghiên cứu về giáo dục hiện đại, GS. Hoàng Tụy đã chỉ ra những phương pháp giáo dục sau THCS ở Việt Nam còn nhiều hạn chế, đi ngược các nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.

Ông cho hay: Các nước như Mỹ, Anh, Pháp…, có cách đào tạo và phân luồng học sinh ngay từ rất sớm, sau khi đào tạo xong hệ THCS, nhà trường nhanh chóng phân luồng học sinh theo nhiều định hướng nghề nghiệp khác nhau. Sẽ có nhóm muốn đi thẳng vào các trường đào tạo nghề, sau 2 – 3 năm ra trường sẽ thành thợ. Có nhóm sẽ lên trung học phổ thông, lên đại học để được đào tạo trở thành những cử nhân có trình độ kĩ thuật, nhà quản lý…

Khi đào tạo những môn phân ban ở THPT như các khối tự nhiên hoặc xã hội, giáo dục các nước vẫn đảm bảo được thời gian và phân bổ chương trình, bổ sung những kiến thức nền tảng phổ thông để hoàn thiện hơn về đạo đức, kĩ năng sống của học sinh. Điều đó bảo đảm mục tiêu chất lượng dạy người, gắn với đào tạo các kiến thức văn hóa nền tảng.

Trong khi đó, nhìn lại giáo dục Việt Nam của chúng ta, việc đào tạo ở THPT rất yếu. Cách đây 10 năm, đào tạo giáo dục THPT như nhau một chương trình, sau đó ngành giáo dục cũng chủ trương phân ban. Tuy nhiên, cách phân ban của giáo dục Việt Nam cũng khác.

Tình trạng phổ biến, học sinh chỉ chăm chăm vào việc học các kiến thức “xung quanh” ban của mình. Ví dụ như các em phân ban A gồm các môn Toán, Lý, Hóa, hầu hết thời gian học tập chỉ dành cho việc tìm hiểu về các môn ấy, còn các môn học phổ thông khác như Ngữ văn, Lịch sử… lại bỏ qua. Điều đó dẫn đến những kiến thức phổ thông nền tảng thành sơ lược, không được bổ sung một cách đầy đủ và toàn diện, tạo nên những lỗ hổng to lớn về dạy người

Bên cạnh việc đó, theo GS Hoàng Tụy, giáo dục Việt Nam quá chú trọng và dạy rất sâu nhiều vấn đề, thậm chí chiếm một thời lượng lớn trong các môn học, những vấn đề đó ở nước ngoài không ai dạy nữa. Ngược lại, những có những kiến thức nước ngoài người ta dạy rất hay, rất tốt nhưng giáo dục của ta lại không tiếp thu.

Những tồn tại của giáo dục Việt Nam rõ ràng đặt ra những vấn đề gấp rút phải đổi mới, mở rộng tầm nhìn và tiếp thu, học hỏi có chọn lọc các nền giáo dục tiên tiến. Tuy nhiên, với GS. Hoàng Tụy cho rằng: “Việc cải cách giáo dục không thể nóng ruột mong muốn trong một sớm, một chiều. Bởi nó còn phụ thuộc vào hệ thống bộ máy từ Trung ương đến cơ sở, phụ thuộc vào sự đồng tâm, chung sức từ các nhà lãnh đạo, quản lý giáo dục đến các thầy cô và các em học sinh”.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.