Dấu gì trên báo cáo ngân sách?

Posted: May 30, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Hoàng (TBKTSG) – Tại cuộc họp báo tuần trước về kỳ họp thứ 9 của Quốc hội, Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc được phóng viên đề nghị công khai báo cáo ngân sách nhà nước (NSNN) do Ủy ban Tài chính – Ngân sách của Quốc hội thẩm tra.

� Xem thêm: Vượt chi ngân sách “khủng”: Đã chi rồi thì biết làm sao! + VEPR: Thâm hụt ngân sách gây rủi ro cho kinh tế Việt Nam.


Vai trò của người dân trong việc giám sát ngân sách là rất mờ nhạt trong các văn bản pháp quy. Ảnh: Tuệ DOanh

Người phát ngôn của Quốc hội khẳng định rằng báo cáo đó là công khai, minh bạch. Song, phóng viên đó hỏi tiếp, vậy vì sao báo cáo lại đóng dấu mật? Ông Phúc đáp: “Vâng, tôi sẽ kiểm tra lại việc này”.

Trên thực tế, muốn có thông tin về các khoản thu, chi, phóng viên phải nghe phát biểu của Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính – Ngân sách, người thường thay mặt Quốc hội đọc báo cáo.

Mới đây, xuất hiện một con số đáng quan tâm: nghĩa vụ trả nợ so với tổng thu NSNN năm 2015 dự kiến ở mức 31%. Con số này đã vượt ngưỡng 25% là hạn mức trần mà Chính phủ có thể dùng NSNN để trả nợ, như Chiến lược nợ công đã quy định. Con số này được Ủy ban Kinh tế đưa ra trong báo cáo thẩm tra kinh tế xã hội 2014.

Sự việc này khiến Bộ Tài chính, cơ quan giữ tay hòm chìa khóa quốc gia, đã phải tổ chức họp báo ngay trước khi Quốc hội khai mạc để đính chính. Báo cáo của bộ này khẳng định, tỷ lệ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với tổng thu NSNN năm 2013 là 15,2%; 2014 là 13,8%; 2015 là 16,1%. “Như vậy, tỷ lệ này vẫn dưới ngưỡng quy định 25% của Chiến lược nợ công”, ông Trương Hùng Long, Cục trưởng Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, Bộ Tài chính, khẳng định.

Ông Long giải thích, tỷ lệ 31% mà Ủy ban Kinh tế đưa ra bao gồm cả số Chính phủ vay về cho vay lại. 60% các khoản Chính phủ vay về được đưa vào ngân sách; 40% còn lại là cho vay lại, không tính vào ngân sách.

“Các chủ đầu tư được vay lại có trách nhiệm trả nợ, số trả nợ này không đưa vào ngân sách mà được kiểm soát trong danh mục nợ Chính phủ, không phải là nợ trả trực tiếp từ ngân sách”, ông Long nói. Tuy vậy, ông này đã không giải thích vì sao 40% còn lại này, dù rất lớn – tương đương 15% thu ngân sách – đã không được đưa vào hạch toán trong NSNN. Trong khi, rốt cuộc, ngân sách sẽ phải gánh chịu chi trả nếu như số tiền này bị mất đi khi cho vay sai.

Báo cáo của Bộ Tài chính cho biết thêm, “năm 2014 đã huy động 627.800 tỉ đồng”. Con số này là quá lớn, gần 29 tỉ đô la Mỹ, nhưng không được Bộ Tài chính giải thích huy động từ nguồn nào, và sử dụng ra sao, nhất là trong bối cảnh trái phiếu chính phủ chỉ được Quốc hội cho phép phát hành 224.000 tỉ đồng trong năm 2014.

Ngân sách nhà nước là do người dân đóng, thì họ phải biết và giám sát được việc chi tiêu

Những nét chấm phá sơ lược như trên cho thấy, NSNN được minh bạch hóa đến độ nào. Cũng trên tinh thần này, đáng tiếc, là vai trò của người dân trong việc giám sát ngân sách là rất mờ nhạt, hay đúng hơn, là chưa được đề cập rõ ràng trong các văn bản pháp quy. Cũng như luật hiện hành, dự thảo Luật NSNN sửa đổi dự kiến được thông qua trong kỳ họp này không hề đề cập một chữ nào về vai trò của nhân dân trong giám sát thu – chi ngân sách.

Khi ngân sách không được minh bạch hóa, thì cách chi tiêu cũng u u minh minh tương ứng.

Những vi phạm trong quản lý, sử dụng ngân sách rất dễ nhận thấy trong bất kỳ báo cáo nào của Kiểm toán Nhà nước. Ví dụ, bản báo cáo kiểm toán năm 2014 do cơ quan này gửi tới Quốc hội tuần trước khẳng định, có hàng loạt khoản chi trong mục chi đầu tư và chi thường xuyên không theo quy định. Kiểm toán Nhà nước khẳng định còn nhiều tình trạng bố trí vốn cho một số dự án cấp bách “theo ý kiến chỉ đạo của lãnh đạo Đảng và Nhà nước” nhưng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chưa chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính làm việc với các bộ, cơ quan trung ương, địa phương để đề xuất và báo cáo Thủ tướng Chính phủ.

Tình trạng chi tiêu thiếu minh bạch làm ngân sách ngày càng hụt thu và vay chi tiêu ngày càng lớn. Theo Bộ Tài chính, do tăng vay cho bù đắp bội chi và trái phiếu chính phủ, nên nhu cầu trả nợ có xu hướng tăng nhanh (năm 2011 vay 162.000 tỉ đồng; năm 2012 vay 250.000 tỉ đồng; năm 2013 vay khoảng 320.000 tỉ đồng; năm 2014 vay xấp xỉ 400.000 tỉ đồng).

Trong báo cáo thẩm tra dự thảo Luật NSNN sửa đổi, Ủy ban Tài chính – Ngân sách duy trì quan điểm, sửa đổi Luật NSNN lần này cần tăng cường các quy định về nâng cao kỷ luật chi, công khai, minh bạch, đặc biệt là về chi NSNN cần tuân thủ quy định của Hiến pháp: các khoản thu, chi phải được dự toán. Do đó, ủy ban này đề nghị bổ sung quy định “không một khoản chi nào được chi ra khỏi Kho bạc Nhà nước nếu không có dự toán được duyệt của cấp có thẩm quyền” vào điều 17 về các hành vi bị cấm trong lĩnh vực NSNN, đồng thời quy định chế tài cụ thể để bảo đảm thực hiện kỷ luật tài chính.

Bên cạnh đó, ủy ban này cho rằng về mặt thông tin, các khoản dự toán thu, chi ngân sách phải được công khai và minh bạch. Đề nghị không áp dụng cơ chế báo cáo “Mật” đối với dự toán, quyết toán khi trình ra các cơ quan dân cử. Các thông tin mật chỉ được áp dụng cho lĩnh vực quốc phòng, an ninh.

Liệu những đề xuất cơ bản này có được đưa vào Luật NSNN trình ra Quốc hội kỳ này? Nếu không, thì tính minh bạch ngân sách sẽ không được đảm bảo. Song, quan trọng hơn, NSNN là do người dân đóng, thì họ phải biết và giám sát được việc chi tiêu.

Vượt chi ngân sách “khủng”: Đã chi rồi thì biết làm sao!

Nguyễn Hoài/Infonet (CAF) – “Kỷ cương ngân sách ở đâu khi dự toán và thực tế lại lệch nhau quá lớn… Phải chăng có tình trạng khi dự toán thì thấp để được thông qua rồi đến khi tiêu lại vượt lên…?”


ĐBQH Trần Du Lịch (TP.Hồ Chí Minh): Kỷ luật ngân sách ở đâu?

Câu hỏi mà ĐB Trần Du Lịch (TP. Hồ Chí Minh) đặt ra trong phần ý kiến của mình tại phiên thảo luận tại hội trường về quyết toán ngân sách nhà nước 2013 chiều 28/5, cũng là mối băn khoăn chung của đa số các ĐBQH.

Dự toán thấp, chi tăng vọt

Theo báo cáo Chính phủ về quyết toán NSNN 2013, dự toán thu NSNN 816.000 tỷ đồng, nhưng con số quyết toán lên tới 828.348 tỷ đồng, tăng 1,5% (tương đương 12.348 tỷ đồng) so với dự toán, chủ yếu do tăng thu từ dầu thô và tăng thu tiền sử dụng đất. Về chi NSNN, theo dự toán chi NSNN là 978.000 tỷ đồng, song thực tế quyết toán là 1.088.153 tỷ đồng, tăng 11,3% (tương đương 110.153 tỷ đồng) so với dự toán. Đặc biệt, bội chi NSNN “vượt rào” tới trên 41.000 tỷ đồng, chiếm 6,3%GDP…

Đành phải ủng hộ vì thực sự không ủng hộ cũng không biết làm thế nào…

“Đành phải ủng hộ vì thực sự không ủng hộ cũng không biết làm thế nào…”- ĐB Trần Du Lịch đã phải thốt lên như vậy ngay khi mở đầu phần phát biểu của mình. Ông Lịch đặt câu hỏi: “dự toán và thực tế lệch nhau quá lớn, chúng ta thực hiện dự toán thế nào đây? Phải chăng có tình trạng khi dự toán thì thấp để được thông qua, rồi đến khi tiêu lại vượt lên. Kỷ cương ngân sách ở chỗ nào?”. Câu hỏi mà vị Phó trưởng đoàn TP. Hồ Chí Minh nêu ra cũng là “nỗi niềm” chung của các vị ĐBQH khi nhìn vào con số quyết toán ngân sách, đặc biệt là bội chi ngân sách 2013.

Nhìn vào con số thu ngân sách 2013 tới 6,3%GDP, ĐB Đỗ Mạnh Hùng (Thái Nguyên) cho rằng, báo cáo nói tăng thu, nhưng thực chất là hụt thu, vì chủ yếu chúng ta tăng thu do giá dầu và thu cấp quyền sử dụng đất. Ngòai ra, chuyện chuyển giá, tiêu cực cũng gây nên tình hình thất thu ngân sách.

Song điều ĐB Hùng lo lắng nhất vẫn là con số chi và bội chi ngân sách 2013, khi những con số này đã vượt quá xa so với nghị quyết và dự toán của Quốc hội. Theo Nghị quyết của Quốc hội “duyệt” mức bội chi năm 2013 là 4,8%GDP, nhưng sau điều chỉnh lên 5,3%GDP và cuối cùng “chốt” quyết toán lại là 6,3% GDP. “Đây là cả vấn đề băn khoăn với các ĐBQH. Cơ sở pháp lý, danh mục chi cụ thể, chất lượng sử dụng tiền từ bội chi này ra sao…. lại chưa được báo cáo của Chính phủ làm rõ”- ông nói và đề nghị, Chính phủ cần có báo cáo thêm để các ĐB không còn “lăn tăn thêm nữa trước khi bấm nút thông qua quyết toán”.

“Đã chi rồi thì biết làm sao…”

ĐB Lê Nam (Thanh Hóa) thắc mắc, chi, bội ngân sách vượt số “khủng”, nhưng thực tế có những khoản đã công bố, bố trí rồi, có tiền mà không chi được hoặc chi không đạt dự toán như chính sách với người có công, khoản chi cho giáo dục, khoa học công nghệ… trong khi chi cho đầu tư phát triển lại vượt tới 55,5%.

“Cần có giải trình rõ ràng vì sao những khoản đã bố trí chi mà không chi được, có tiền mà không tiêu được, trong lúc có những khoản đã chi rồi hoặc không trong dự kiến cứ vọt lên…” – Phó trưởng đoàn Thanh Hóa bức xúc.

Vẫn trong tâm trạng “đã chi rồi thì biết làm sao”, ĐB Lê Nam (Thanh Hóa) đồng tình với nhiều ý kiến ĐBQH đưa ra phải có chính sách ngăn chặn chuyện “kỷ cương ngân sách không nghiêm”.

“Đã tới lúc phải áp dụng chính sách quyết liệt để chấm dứt tình trạng vượt chi. Dự toán đã đưa ra rồi, ngành, địa phương nào muốn tăng cũng dứt khoát không đồng ý thì mới được. Đau cũng phải cắt, cũng phải làm mới dừng được nợ công và bội chi…”- ĐB Lê Nam thẳng thắn nói.

Cũng đặt vấn đề về kỷ cương ngân sách song ĐB Nguyễn Đức Kiên (Sóc Trăng), Phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội lại nêu ra “kẽ hở” trong sự phối hợp giữa các ngành kế hoạch, tài chính trong xây dựng kế hoạch dự toán, quyết toán ngân sách. “Xây dựng dự toán mà tới khi quyết toán chỉ tiêu nào cũng tăng tới 33% thì phải xem lại kỷ luật chi ngân sách”- ông dứt khoát.

Theo ông, vấn đề điều hành thu chi, cấp kinh phí phải xem xét lại. Với cách làm hiện nay đã tái diễn tình trạng “làm rồi thì không được quyết toán, còn chưa làm đã được “xí chỗ”.

“Phải xem lại sự phối hợp giữa ngành kế hoạch, đầu tư và tài chính trong chi, chuyển nguồn. Đằng nào thì cũng chi rồi, nhưng phải rút kinh nghiệm cho các năm sau” – ông nói.

Khắc phục chuyện kỷ cương ngân sách không nghiêm, không còn cách nào khác theo ĐB Trần Du Lịch, Ủy ban Tài chính ngân sách với tư cách “người gác cổng” cho Quốc hội trong chuyện giám sát thu, chi ngân sách phải chỉ ra cho được những “địa chỉ” địa phương vi phạm thu, chi ngân sách và kiên quyết không đưa vào danh sách duyệt chi ngân sách năm sau những địa phương này để răn đe.

“Quốc hội khi thông qua dự toán ngân sách cần phải có quy định “cứng” để tránh tình trạng quyết dự toán rồi, nhưng chi tiêu vẫn vượt lên và tới khi quyết toán thì “sự đã rồi”. Không thể để cứ tăng thu, tăng chi theo kiểu “nước lên thuyền lên” thì không còn kỷ cương ngân sách gì nữa” – ĐB Trần Du Lịch nhấn mạnh.

Ông cũng đề nghị Quốc hội, nếu như giữa dự toán ngân sách thông qua cuối năm cho năm sau, nhưng tới giữa năm điều chỉnh ngân sách thì Quốc hội phải điều chỉnh ngân sách đi theo, tránh tình trạng chuyện đã rồi như vừa qua. Ngoài ra, những hạn chế về kỷ cương ngân sách cũng cần được luật hóa chi tiết trong Luật ngân sách Nhà nước (sửa đổi).

“Đau xót vì cán bộ thuế sai phạm…”

Giải trình thêm trước Quốc hội về chuyện thu chi và mức bội chi ngân sách tăng cao năm 2013, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng thừa nhận, có tình trạng thất thu ngân sách. Bộ Tài chính đã báo cáo với Ủy ban Thường vụ Quốc hội khoản hụt thu này và được chấp thuận xử lý cấp bù. Nhưng điều quan trọng hơn, theo “tư lệnh” ngành tài chính là qua thanh tra, kiểm tra đã phát hiện nhiều trường hợp gian lận thuế, trong đó có sự bao che, “bắt tay” của cán bộ thuế, điển hình nhất là vụ việc ở Lâm Đồng, An Giang…

“Rất đau xót là hàng loạt cán bộ thuế bị “dính” và bắt hàng loạt. Nhưng không còn cách nào khác, chúng tôi vẫn phải xử lý rất nghiêm số cán bộ này, không chỉ theo quy định kỷ luật nội bộ ngành mà cán bộ nào vi phạm pháp luật thì vẫn phải xử lý nghiêm”- Bộ trưởng Dũng chia sẻ.

Cũng có mặt tại phiên thảo luận, Chủ nhiệm Ủy ban Tài chính ngân sách của Quốc hội Phùng Quốc Hiển đã nói “thêm cho rõ” về một số khoản thu ngân sách 2013, trong đó có khoản tăng đầu tư trở lại từ lãi dầu khí nước chủ nhà được chia cho Tập đoàn dầu khí quốc gia Việt Nam…

Trước thắc mắc của ĐBQH về “địa chỉ’ địa phương vi phạm kỷ cương ngân sách, ông Hiển cho biết, “địa chỉ” đã dược công khai trong báo cáo kiểm toán ngân sách gửi tới các ĐBQH. Còn chuyện kỷ luật hành chính, theo tinh thần của Hiến pháp 2013 và Luật ngân sách Nhà nước (sửa đổi), tới đây những khoản chi nào không có dự toán dứt khoát sẽ bị “siết” lại.

VEPR: Thâm hụt ngân sách gây rủi ro cho kinh tế Việt Nam

Phương Linh (VNE) – Tiến sĩ Nguyễn Đức Thành e ngại rủi ro vĩ mô sẽ xuất hiện nhiều hơn trong năm 2016, chủ yếu do Chính phủ phải theo đuổi chính sách tài trợ thâm hụt ngân sách.

Phát biểu tại Hội thảo công bố báo cáo thường niên kinh tế Việt Nam sáng nay (28/5), tiến sĩ Nguyễn Đức Thành – Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) nhận định kinh tế Việt Nam năm 2015 đã ổn định và bớt sóng gió hơn những năm trước. “Kinh tế đã có sự hồi phục nhẹ từ năm 2013, tuy chưa thể nói sẽ bứt phá mạnh nhưng dự báo sẽ tiếp tục phát triển trong thời gian tới”, ông Thành nói.

Như mọi năm, báo cáo thường niên của VEPR đưa ra 2 kịch bản tăng trưởng GDP và lạm phát. Con số năm nay là 6,1% ở phương án thấp, trong khi kịch bản cao hơn đạt 6,3%. Lạm phát của cả năm 2015 trong kịch bản một được dự báo tiếp tục duy trì ở mức tương tự 2014, đạt khoảng 1,9%. Trong khi đó, ở kịch bản 2, khi nền kinh tế phục hồi cao hơn một chút thì lạm phát có thể lên 3,2%.


Rủi ro vĩ mô sẽ xuất hiện nhiều hơn trong năm 2016 do Chính phủ phải tài trợ thâm hụt ngân sách.

Tuy nhiên, đại diện VEPR cũng e ngại rủi ro vĩ mô sẽ xuất hiện nhiều hơn trong năm 2016, chủ yếu do Chính phủ phải theo đuổi chính sách tài trợ thâm hụt ngân sách trong bối cảnh chi lớn mà Quốc hội đã chặn “room” phát hành trái phiếu.

“Chính phủ sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động nguồn tài trợ thâm hụt ngân sách. Nếu Quốc hội không có sự thỏa hiệp cần thiết trong định mức về lượng trái phiếu phát hành hoặc trần nợ công, Chính phủ có thể bị đẩy vào tình thế phải tìm kiếm nguồn tài trợ tạm thời từ Ngân hàng Nhà nước dưới nhiều hình thức, và xét cho cùng có bản chất tiền tệ nhiều hơn là tài khóa”, báo cáo nêu. Liên quan đến động thái này, vừa qua Chính phủ đã giao các Bộ, ngành nghiên cứu sử dụng một phần dự trữ ngoại hối để cho ngân sách vay.

Nhóm nghiên cứu VEPR cho rằng nếu quá chú trọng tới bù đắp thâm hụt ngân sách, những ràng buộc về kỷ luật tiền tệ lẫn tài khóa có nguy cơ bị phá vỡ, tạo một tiền lệ xấu. Tác động tức thời của các chính sách này là sự xói mòn niềm tin của thị trường vào cả chính sách tiền tệ và mức độ minh bạch tài khóa. Cùng với đó, VND tiếp tục tích lũy sự lên giá trong bối cảnh đồng USD mạnh lên sẽ âm thầm xói mòn sức cạnh tranh của các mặt hàng sản xuất trong nước cũng như các dịch vụ thu hút khách nước ngoài, du lịch.

“Hai yếu tố này tưởng chừng ít liên quan nhưng lại gắn bó mật thiết với nhau, đặc biệt khi xảy ra các tình huống bất lợi. Ví dụ, việc tài trợ cho thâm hụt ngân sách nếu kích hoạt một làn sóng lạm phát nhẹ vào đầu năm 2016, có thể dẫn tới sức ép thay đổi tỷ giá ngày càng nhiều hơn vào thời điểm đó. Và nếu tỷ giá phải thay đổi mang tính đối phó, thì vô hình trung sẽ tạo ra một vòng xoáy lạm phát làm thay đổi tỷ giá, phá vỡ thế cân bằng vĩ mô đang tạm thời có được hiện nay”, nhóm nghiên cứu cảnh báo.

Bổ sung thêm ý kiến, Tiến sĩ Lê Đăng Doanh cho hay những gánh nặng từ bội chi ngân sách đang tạo áp lực lên giá cả, thuế, chẳng hạn như việc tăng thuế bảo vệ môi trường, thay đổi cách tính thuế tiêu thụ đặc biệt với ôtô thời gian qua. “Với sức ép của nợ công và bội chi ngân sách thì dường như sẽ có thêm nhiều chính sách đặc biệt, bất ngờ để trang trải cho nguồn bị thâm hụt”, ông nói.

Trên cơ sở đó, báo cáo đề xuất cần điều hành tỷ giá linh hoạt, tăng dự trữ ngoại hối để tăng niềm tin với chính sách tiền tệ. Đồng thời, tiếp tục cải cách, tái cấu trúc hệ thống ngân hàng thương mại nhằm tạo tiền đề cho sự hồi phục tỷ suất sinh lời, tăng tích lũy vốn cho hệ thống, tiếp tục tái cơ cấu danh mục tài sản có rủi ro cao.

Cải cách mạnh thể chế trong nước cũng tạo tiền đề cho nền kinh tế phát triển vững chắc hơn. Các ngành sản xuất, chế biến xuất khẩu cần được thị trường hóa nhiều hơn nữa để tăng sức cạnh tranh, phát huy sức mạnh của khu vực doanh nghiệp trong ngành. Ví dụ như ngành lúa gạo, VEPR cho rằng cần nới lỏng các điều kiện xuất khẩu, tăng cường vai trò của hệ thống doanh nghiệp xay xát để làm nền tảng cho các liên kết dọc trong ngành, xây dựng năng lực cạnh tranh cho ngành.

Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập mạnh mẽ từ năm 2015, Nhà nước cũng nên gỡ bỏ các ràng buộc lên các yếu tố sản xuất căn bản như vốn, lao động, đất đai để có thể tận dụng những lợi ích như các cam kết ký kết. Về dài hạn, yếu tố quan trọng nhất vẫn là tăng năng suất lao động và giá trị gia tăng.

“Điều này đòi hỏi những chương trình cải cách đồng bộ trong lĩnh vực hành chính, thể chế và các chiến dịch thay đổi trong hệ thống doanh nghiệp về tinh thần tăng năng suất, hiệu quả trong bản thân mỗi doanh nghiệp”, VEPR nhấn mạnh.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s