2Đ hay 4T là cái gì?

Posted: June 5, 2015 in Uncategorized
Tags:

Văn Quang (HNC’s Blog) Theo Khai Dân Trí – Ở VN bây giờ lại có thêm một từ ngữ mới vừa được loan truyền trong dân gian. Đó là 2Đ, nghe có vẻ hơi bí hiểm, tưởng là một phát minh nào mới của VN vốn rất thiếu những phát minh mà chỉ thấy toàn tiến sĩ, kỹ sư cùng các nhà được gọi lá trí thức cao ngất ngưởng mà chẳng thấy một phát minh nào.

� Xem thêm: Hà Tĩnh: ‘Ăn’ tiền giải tỏa đất, nhiều cán bộ chỉ bị án treo.


Có Dân Oan sau 1975 nay mới nhắc đến cán bộ 2 Đ để chặn phe nhóm

Hoặc người dân còn tưởng là ngành CA, mật vụ, tình báo vừa thành lập thêm một ban phòng nào đó để theo dõi, loại trừ bọn “phản động” các kiểu đang làm mất uy tín quốc gia.

Nhưng đó chỉ là sự suy đoán của mấy “con chim đã từng bị đạn” hay nói cho rõ là nhiều anh bị bắt ngang xương, được “mời lên làm việc” lu bù hoặc câu chuyện cửa miệng của mấy ông già lẩm cẩm lắm chuyện ngồi ở quán cóc đầu chợ.

Nhưng tới khi được chính ông chủ tịch nước Trương Tấn Sang giải thích, người dân mới biết. Tiếp xúc cử tri TP Sài Gòn ngày 16.5 vừa qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời thẳng thắn những thắc mắc, hoài nghi về công tác cán bộ rằng:

“Ở đại hội các cấp, các cô bác anh chị, các đồng chí đừng đưa những con người 2 Đ vào cấp ủy. Cô bác anh chị, những đảng viên phải hành xử đúng với lương tâm, chức trách của mình, không nể nang thiên vị”.

Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Đất nước có nhiều mặt tốt nhưng có một bộ phận cán bộ còn hư hỏng. Dân nói cán bộ “2 Đ”: Đất và Đô la. Đây là câu chuyện có thật, sự thật Đảng và Nhà nước cũng có nói trong rất nhiều văn kiện và nhấn mạnh rằng đó là “một bộ phận không nhỏ”. Đây là điều hết sức day dứt, ai cũng rất bức xúc. Tôi cũng khẳng định lại là những điều mà người dân nói là có thật”.

Té ra là loại cán bộ chuyên ăn đất và đô la lâu nay nằm kỹ trong các cơ quan công quyền, ai cũng biết “chỉ có vài người không biết”.

Cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây!

Thật khó cho sự lựa chọn những người vào cấp ủy mà không phải cán bộ “2 Đ”. Bởi vì “một bộ phận không nhỏ” hư hỏng có nghĩa là bộ phận đó lớn. Lớn có nghĩa là nhiều người. Đã có lần tôi viết bài và tự hỏi: “Một bộ phận là cái chi chi?”. Cứ nghe nói hoài “một bộ phận cán bộ” tha hóa biến chất mà không biết nó là bao nhiêu người, chỉ ước lượng tạm thời thôi cũng được. Nhưng là 10% hay 80-90% đây? – Chịu!

Biết người nào hư hỏng để loại ra, tìm người không hư hỏng để đưa vào cũng là sự thử thách bản lĩnh và trí tuệ của từng đảng viên. Có khi, tìm người liêm khiết khó hơn tìm người “2 Đ”. Cán bộ có đất, có đô la tất nhiên có thế lực, không dễ loại họ ra khỏi cấp ủy. Có đất, có đô mới có cái để chạy, mưu ma chước quỷ biến hóa khôn lường, người công chính cũng dễ lâm vào thế khốn đốn khi đối mặt với thế lực và tiền bạc.

Biết người đó là cán bộ “2 Đ”, nhưng ngăn làm sao đây! Đảng viên còn có lá phiếu để bỏ, quần chúng thấy cán bộ “2 Đ” sờ sờ, nhưng biết làm sao đây!

– La làng à? Đừng chơi dại.

Bạn Nguyễn Sỹ Tỉnh (nguynstnh@yahoo.com.vn) đã cảnh báo:

“Nói chung Dân ta biết tất cả đấy, nhưng vì thấp cổ, bé họng, nói ra hoặc “vỡ mồm” hoặc “gẫy răng” nên không ai dám nói thôi”.

Bạn Trần Minh Thuý (tran_minhthuy2002@yahoo.com) phụ họa:

“Biết cán bộ “2Đ” nhưng làm sao đây, nghe mà “chua xót” quá, bởi những người giữ trọng trách cao mà còn phải “bó tay” với loại cán bộ này thì dân làm gì được họ cơ chứ ? Và xin khẳng định một điều là chỉ có thể loại bỏ được những con sâu ” 2Đ ” này, một khi cử tri được trực tiếp bỏ lá phiếu mà thôi còn thì nói nhiều cũng chỉ đến nói là hết, người dân chán nghe lắm rồi”.

Đúng là chỉ có người trong đảng giới thiệu và bầu bán với nhau thôi, anh dân đen đứng ngoài ngó vô cho.., vui cái sự đời vậy thôi.

– Bạn Xuân Thủy xuanthuy29051982@yahoo.com còn “tố” thêm:

“Nơi tôi ở Yên Thủy – Hòa Bình còn 4Đ cơ. Đó là Đô la – Đất – Đạo đức đểu – Đục khoét”.

Nếu tính toán như bạn Xuân Thúy chắc còn nhiều Đ nữa đấy. Chẳng hạn như “Xin đểu” là những anh có chức có quyền hỏi xin dân con gà, con heo nhưng thực chất là buộc anh phải cho. “Mượn đểu” là mượn của dân rồi “quên” luôn. Có hàng trăm thứ đểu khác nữa trong cái “thời đại đồ đểu” này.

Từ đâu phát sinh ra những 3K, 4C…

Tôi nhớ vào khoảng những năm 1945, khi “toàn quốc kháng chiến”, các cán bộ dân vận luôn khuyên dân chúng thực hiện 3 không: “không biết, không nghe, không thấy” để giữ bí mật cho quân đội và bí mật quốc gia”. Hồi đó gọi là 3 K.

Nhưng về sau này, sau những năm 1975, khi các cán bộ biến thành quan cai trị dân thì 3K lại là của những quan lớn ấy. Dân bị tra khảo, đánh đập oan ức, các quan thường chỉ có câu trả lời “không thấy, không nghe, không biết” nên sẽ cho điều tra xử lý sau.

3K của anh dân nghèo là “không ruộng, không đất, không nhà cửa”. Bởi ruộng đất đều là của “Nhà Nước” hết.

Rồi đến các cậu ấm con quan, đi đâu cũng được hậu đãi trọng vọng, người dân gọi là 4C tức là “con ông cháu cha” hoặc vào công sở nào cũng thấy 5C “con cháu các cụ cả”.

Rồi cứ thế những 3k, 4-5 C khác cũng tuần tự ra đời.

Lại có thêm một chữ mới 4T

Trong thời gian vừa qua, chuyện um xùm nhất tại VN là chuyện thuộc về “bản chất văn học VN”.


Các nhà văn thành lập Văn đoàn Độc Lập.

1. Nguyên Ngọc – 2. Đỗ Trung Quân – 3. Nguyễn Quang Lập – 4. Nguyễn Huệ Chi – 5. Phạm Đình Trọng – 6. Võ Thị Hảo – 7. Bùi Minh Quốc – 8. Đặng Văn Sinh – 9. Hoàng Minh Tường – 10. Lê Hiền Phương – 11. Ngô Thị Kim Cúc – 12. Nguyễn Quang Thân – 13. Thùy Linh – 14. Vũ Thế Khôi – 15. Ý Nhi – 16. Dư Thị Hoàn – 17. Trịnh Hoài Giang – 18. Dạ Ngân – 19. Nguyễn Duy – 20. Trần Kỳ Trung.

Trong số đó, nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả bài thơ Quê Hương được nhiều độc giả biết, vừa công bố trên mạng internet lá thư phúc đáp văn thư của ông Hữu Thỉnh, chủ tịch Hội Nhà Văn VN yêu cầu ông làm hồ sơ xin tham gia giải thưởng Hồ Chí Minh và giải thưởng văn chương nhà nước. Sau đây là nguyên văn lá thư của nhà thơ Đỗ Trung Quân:

“Anh Hữu Thỉnh à,

Anh thừa biết 4T, cấm vận, cô lập, cấm tôi viết lách, xuất hiện trên truyền thông ,chỉ bằng lệnh miệng, chả có một văn bản nào, nghĩa là chơi xấu tôi từ hơn ba năm qua, thế mà anh và Hội nhà văn im như thóc không dám lên tiếng bảo vệ cho hội viên lấy nửa câu, hoặc ít ra cũng đòi cho được có cái văn bản cho nó đàng hoàng, minh bạch mà giờ còn chơi trò đạo đức giả gửi văn bản yêu cầu tôi…tự làm đơn xin giải thưởng, xin – để giao cho các anh cái quyền gạt thẳng tưng thì tôi chưa biết mở mắt ra tí nào, còn ham hố, háo danh và ngu lâu lắm. Thôi nhé các anh cứ tự nhiên vui vẻ, tôi vái dài và tránh xa những trò này”.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân tác giả từ mới “4T”.

Nhà thơ Đỗ Trung Quân lại có thêm một từ ngữ mới: 4T. Chẳng biết tại sao ông này lại gọi là 4T, đúng ra cứ theo như người bình dân hiểu thì đây là 4 Cấm, có lẽ ông sợ lầm 4 C với “con ông cháu cha” nên phải có từ ngữ mới. Vậy phải gọi 4T là 4 cấm mới đúng: cấm vận, cô lập, cấm viết lách, cấm xuất hiện trên truyền thông. Câu chuyện về những ông nhà văn nhà thơ tự ý xin rời bỏ cái gọi là “Hội Nhà Văn” còn lôi thôi lắm. Đây là câu chuyện của riêng TP Sài Gòn.

Khai trừ cả những người đã rút lui, không còn là hội viên của mình nữa

Sáng ngày 5/5/2015, Đại hội Nhà văn Việt Nam khu vực TP. Sài Gòn chuẩn bị cho đại hội (đại biểu) lần thứ 9 đã khai mạc, chương trình làm việc là 1 ngày. Trọng điểm là việc bầu để cử những “nhà văn đại biểu” đi dự đại hội lần thứ 9 tại Hà Nội tháng 7 tới.

Ở TP Sài Gòn có 155 hội viên, nhưng chỉ 90 người có mặt. Hầu như những người không có mặt (60 người) đều không có văn bản chính thức về sự vắng mặt của mình.

Vào lúc phiếu bầu cử đã được phát, và đã xác định sẽ gạch tên những người không được cử, trưởng ban tổ chức Lê Quang Trang cầm micro thông báo: trong danh sách của Văn Đoàn Độc Lập có 26 người là hội viên Hội Nhà văn VN, trong đó có chín người ở TP. Sài Gòn, sau đó đọc tên 9 hội viên, gồm: Nguyễn Duy, Nguyễn Quang Lập, Dạ Ngân, Ý Nhi, Đỗ Trung Quân, Nguyễn Quang Thân, Phạm Đình Trọng, Hiền Phương và Ngô Thị Kim Cúc.


Hai nhà văn Ngô Thị Kim Cúc (trái) và Dạ Ngân thuộc số chín người
mà Hội Nhà văn Việt Nam yêu cầu gạch tên sáng ngày 5-5-2015 vừa qua.

Chỉ thông báo tên mà không cần giải thích, trưởng ban tổ chức mặc nhiên yêu cầu gạch tên những nhà văn này để không thể có mặt trong đại hội nhà văn sắp tới. Thật ra trong số đó là những người thành lập “Hội Nhà Văn Độc Lập”, không chịu lệ thuộc vào bất cứ hội đoàn nào. Bởi nhà văn cần có tự do sáng tác, nếu lệ thuộc, làm theo mệnh lệnh chỉ còn là những anh “lính đánh thuê, gọi dạ bảo vâng”.

Và một sự thật khác là những nhà văn ấy đã rút lui khỏi cái hội này từ lâu rôi. Nhà thơ Ý Nhi, có tên trong danh sách bị gạch tên, thực ra đã gửi thư thông báo từ bỏ Hội Nhà văn VN từ tháng 1/2002. (Tôi được biết nhà văn Ý Nhi khi tôi đang bị CA khám xét nhà, tịch thu hết máy móc và tài liệu, chị đã từ Bình Thạnh lặn lội lên thăm và an ủi gia đình tôi trong khi tôi còn đang bị hạch hỏi ở CA Q3, vì thế tôi chưa có dịp trực tiếp gặp để cảm ơn chị, nhân ở đây xin chị nhận lời cảm ơn của tôi).


Nhà thơ nữ Ý Nhi xin rút lui từ tháng 1/2002 vẫn còn bị gạch tên?

Nhà văn Dạ Ngân đã rút khỏi Ban Vận động Văn đoàn Độc lập từ 14/12/2014. Nhà văn Nguyễn Quang Lập đã rút khỏi Ban Vận động Văn Đoàn Độc Lập từ 26/6/2014, đồng thời cũng rút tên khỏi tất cả các Hội mà anh tham gia, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam, Hội Nghệ sĩ Sân Khấu, Hội Điện Ảnh Việt Nam. Vậy việc gạch tên của họ chỉ là một trò khôi hài thôi.

Người dân vốn ít khi quan tâm tới hoạt động của giới cầm bút bỗng vui mừng săn đón từng nhà văn trên đường phố. Trong đại hội, nhiều người dân, trong đó có những trí thức khoa bảng, đã mang tới những tâm thư, những thỉnh cầu, đề nghị các nhà văn hãy vì dân mà làm điều đó. Đừng tưởng dân ngu, người nào ra sao, họ biết cả đấy các ông các bà nhà văn ơi, đừng dùng “vải thưa che mắt Thánh”.

Hãy có lòng tự trọng cao nhất của người cầm bút giữa thời đại nhiễu nhương này cho đúng với thiên chức của người cầm bút.

Nay mai chẳng biết ở VN còn xuất hiện bao nhiêu từ ngữ tắt như thế nữa.

Hà Tĩnh: ‘Ăn’ tiền giải tỏa đất, nhiều cán bộ chỉ bị án treo

(NV) – Lợi dụng địa phương có dự án làm cầu Bến Thủy II, phó chủ tịch cùng hàng loạt cán bộ huyện Nghi Xuân đã lập hồ sơ ma, tài liệu giả để moi tiền bồi thường giải tỏa đất.

Tờ Người Lao Ðộng loan tin, ngày 3 tháng 6, tòa án tỉnh Hà Tĩnh đã xét xử sơ thẩm vụ phó chủ tịch huyện Nghi Xuân cùng 8 đồng phạm về tội “Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế” và “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng,” trong vụ lợi dụng việc bồi thường giải tỏa đất hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án cầu Bến Thủy II tại địa phương.


Các bị cáo tại phiên tòa. (Hình: Người Lao Ðộng)

Theo đó, các bị cáo đưa ra xét xử gồm: ông Lê Duy Việt (55 tuổi), phó chủ tịch huyện Nghi Xuân; ông Nguyễn Văn Hóa (40 tuổi), cán bộ địa chính thị trấn Xuân An; ông Nguyễn Văn Ðức (53 tuổi), phó trưởng phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Nghi Xuân; ông Lê Quang Sáng (34 tuổi), chuyên viên phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Nghi Xuân; ông Ðậu Hữu Tuất (55 tuổi), trưởng phòng Tài Nguyên và Môi Trường huyện Nghi Xuân; ông Phan Duy Khương (44 tuổi), chủ tịch thị trấn Xuân An; ông Nguyễn Công Minh (71 tuổi); ông Ðậu Hữu Thân (59 tuổi) và bà Nguyễn Thị Hồng Nhung (40 tuổi) về tội “Cố ý làm trái quy định nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng.” Trong đó, có 3 người là ông Ðức, ông Sáng và ông Tuất còn bị xét xử thêm về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.”

Cáo trạng cho biết, năm 2011, trong quá trình thực hiện công tác bồi thường giải tỏa đất hỗ trợ tái định cư cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi dự án cầu Bến Thủy II đi qua huyện Nghi Xuân, các ông Hóa, Sáng, Ðức, Tuất, Việt, Khương và Minh là các thành viên trong hội đồng bồi thường giải tỏa mặt bằng (HÐBT-GTMB) dự án cầu Bến Thủy II. Còn ông Thân, bà Nhung là công dân tại thị trấn Xuân An, huyện Nghi Xuân, đã có hành vi cố ý làm trái quy định của nhà nước trong quản lý kinh tế, gây hậu quả nghiêm trọng.

Trong đó, ông Hóa vì tình cảm cá nhân đã bàn bạc thống nhất với ông Thân sử dụng 2 bộ hồ sơ ma, tài liệu giả mạo tên mình và ông Trương Hữu Hiền để hợp thức các thủ tục pháp lý nộp cho hội đồng bồi thường để nhận hơn 902 triệu đồng bỏ túi riêng.

Ðối với các ông Sáng, Ðức, Tuất… là thành viên HÐBT-GTMB, trong quá trình làm việc đã không thẩm định hồ sơ mang tên ông Hóa và ông Hiền, dẫn đến việc bồi thường sai, gây thiệt hại tiền của Nhà nước. Chưa hết, các ông này tuy biết rõ hộ bà Nhung không được bồi thường nhưng vẫn cố ý lập hồ sơ ma để đưa cho bà này trên 149 triệu đồng. Tổng cộng nhóm cán bộ đã gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước trên 1 tỷ đồng.

Dù tội danh đã rõ, song các bị cáo chỉ bị tòa tuyện án nặng nhất là 7 năm tù giam với người chủ mưu là ông Nguyễn Văn Hóa. Trong khi các bị cáo còn lại chỉ bị tù treo từ 7 đến 30 tháng/người. (Tr.N)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.