Luật đổi mà tư duy chưa đổi

Posted: July 13, 2015 in Uncategorized
Tags:

Trần Văn Trí , Giám đốc Công ty Luật Fujilaw (TBKTSG) – Ngày 1-7-2015 là thời điểm đặc biệt: ngày Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 có hiệu lực.

� Xem thêm: Dệt may: Ngoại phình to, nội teo tóp + Hội nhập tới nơi mà chưa lo ‘bơi’ + Mong manh trước hội nhập: Cần được kinh doanh bình đẳng.

Luật Doanh nghiệp xác lập quyền tự do kinh doanh trong những ngành nghề mà luật không cấm đồng thời cho doanh nghiệp tự quyết định số lượng con dấu trong doanh nghiệp. Trong khi đó, Luật Đầu tư bãi bỏ giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là giấy chứng nhận doanh nghiệp. Với tinh thần thoáng như vậy, giới doanh nhân và giới đầu tư kỳ vọng rất nhiều vào những cải cách này.

Và, giống như một căn bệnh kinh niên trong việc làm luật tại Việt Nam, luật có hiệu lực nhưng chưa có văn bản hướng dẫn. Thế nên luật thoáng thì kệ luật, nhà đầu tư vẫn là người chịu hậu quả cuối cùng từ sự chậm trễ của các nhà làm luật và sự thụ động của người thi hành luật. Ví dụ sau đây là một việc mới xảy ra tại địa phương X.

Một doanh nghiệp 100% vốn FDI được UBND thành phố này cấp giấy chứng nhận đầu tư vào ngày 15-6-2015. Sau khi nhận giấy chứng nhận đầu tư, công ty đã tiến hành khắc dấu vào ngày 17-6-2015 và dự kiến ngày 19-6-2015 cơ quan công an sẽ trao con dấu cho công ty theo biên nhận. Người đại diện theo pháp luật của công ty đã bay sang Việt Nam để nhận con dấu trực tiếp vì cơ quan công an không cho ủy quyền nhận dấu thay.

Luật thoáng thì kệ luật, nhà đầu tư vẫn là người chịu hậu quả cuối cùng từ sự chậm trễ của các nhà làm luật và sự thụ động của người thi hành luật.

Đến ngày 5-7-2015, khi vị này đến cơ quan công an nhận dấu thì được thông báo rằng sau ngày 1-7 theo Luật Doanh nghiệp 2014, cơ quan công an không thực hiện việc khắc dấu nữa. Con dấu vừa khắc xong phải hủy đi và  cơ quan công an yêu cầu doanh nghiệp liên hệ với công ty khắc dấu để khắc dấu cho doanh nghiệp.

Do không thể thuyết phục cơ quan công an cho sử dụng con dấu vừa mới chính cơ quan ấy cấp cho, doanh nghiệp phải tìm đến công ty khắc dấu để khắc dấu. Tưởng rằng có con dấu theo luật mới là công ty hoạt động được, tuy nhiên,  mọi chuyện không đơn giản như thế.

Sau khi khắc dấu xong, doanh nghiệp đi đăng ký sử dụng con dấu tại sở kế hoạch đầu tư đúng theo Luật Doanh nghiệp mới.

Sở kế hoạch và đầu tư, căn cứ theo Công văn 4211/BKHĐT-ĐKKD ngày 26-6-2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn thi hành tạm thời Luật Doanh nghiệp, trả lời doanh nghiệp rằng, việc đăng ký sử dụng con dấu là theo Luật Doanh nghiệp 2014, mà luật quy định đối với công ty có vốn đầu tư nước ngoài phải có giấy chứng nhận đăng ký đầu tư riêng và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh riêng.

Do vậy, nếu doanh nghiệp muốn sở kế hoạch và đầu tư chấp nhận đăng ký sử dụng con dấu thì công ty phải tiến hành tách nội dung đăng ký kinh doanh trong giấy chứng nhận đầu tư hiện nay thành hai phần, một phần cho việc thành lập doanh nghiệp (trở thành giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp) và một phần cho dự án (trở thành giấy chứng nhận đăng ký đầu tư). Hỏi kỹ thủ tục tách giấy chứng nhận đầu tư như thế nào thì sở kế hoạch và đầu tư lại bảo là… chưa có hướng dẫn.

Cuối cùng, dù đã có giấy chứng nhận đầu tư và đã có con dấu nhưng công ty không thể sử dụng con dấu được. Lý do là theo quy định, con dấu chỉ được đưa vào sử dụng khi thông báo mẫu dấu đã được phòng đăng ký kinh doanh tiếp nhận và thông báo của doanh nghiệp được đăng tải trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư 2014 được tuyên truyền là một đợt cải cách lớn để phát triển tinh thần khởi nghiệp, thu hút đầu tư… tuy nhiên, sự chậm trễ trong việc ban hành văn bản hướng dẫn cộng với tư duy thụ động và cũ kỹ trong thực thi luật khiến doanh nghiệp và nhà đầu tư gặp khó khăn hơn cả khi luật chưa cải cách.

Và câu hỏi của nhà đầu tư khiến chúng ta phải suy nghĩ: UBND thành phố cấp giấy chứng nhận đầu tư cho tôi nhưng sở kế hoạch và đầu tư lại phủ nhận giá trị của nó, vậy chúng tôi nhận giấy chứng nhận đầu tư để làm gì? Chúng tôi tốn tiền khắc hai con dấu mà chưa sử dụng được, vậy chúng tôi hoạt động thế nào?

Dệt may: Ngoại phình to, nội teo tóp

Thái Phương (NLĐ) – Nhu cầu tại nhiều thị trường xuất khẩu chủ lực của ngành dệt may Việt Nam suy giảm và đồng USD tăng giá mạnh khiến tăng trưởng không như kỳ vọng

Kim ngạch xuất khẩu dệt may của cả nước từ đầu năm 2015 đến nay chỉ đạt khoảng 12 tỉ USD, tăng khoảng 9% so với cùng kỳ. Theo Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), đây là mức tăng thấp nhất trong 3 năm qua (cùng kỳ năm ngoái tăng 19%). Đáng lưu ý, tỉ trọng xuất khẩu của các doanh nghiệp (DN) Việt ngày càng lép vế trước khối DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI).

Nhà máy ngoại liên tục mọc lên

Theo Vitas, từ đầu năm đến nay, số lượng nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào ngành dệt may không ngừng tăng nhằm đón đầu các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam được nhận định sẽ hưởng lợi do thuế suất giảm dần về 0%: Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP); FTA Việt Nam với EU, Hàn Quốc; Liên minh kinh tế Á – Âu…


Ngay từ đầu năm, ngành dệt may đã gặp khó
khi lượng đơn hàng xuất khẩu không như dự tính Ảnh: Tấn Thạnh

Thống kê của Cục Đầu tư nước ngoài – Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho thấy trong nửa đầu năm 2015, phần lớn các dự án FDI có vốn lớn đều đổ vào dệt may. Đơn cử, nhà máy sản xuất và gia công các loại sợi của Công ty TNHH Hyosung Đồng Nai có tổng vốn 660 triệu USD; dự án của Công ty TNHH Worldon Việt Nam có tổng vốn 300 triệu USD, xây nhà máy sản xuất các sản phẩm may mặc cao cấp tại TP HCM; dự án nhà máy sợi, vải màu Lu Thai Việt Nam có vốn hơn 160 triệu USD tại Tây Ninh. Cuối tháng 6, tỉnh Bình Dương cũng đã cấp phép dự án Công ty TNHH Polytex Far Eastern Việt Nam có vốn đầu tư 274 triệu USD để xây nhà máy sản xuất xơ, sợi tổng hợp, dệt kim…

Dệt may là ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam với kim ngạch đạt 24 tỉ USD trong năm 2014 và mục tiêu năm 2015 là 27-27,5 tỉ USD. Có điều, tỉ trọng kim ngạch xuất khẩu của DN trong nước ngày càng teo tóp, còn DN FDI không ngừng phình to. Theo thống kê của Vitas, trong số 12 tỉ USD kim ngạch xuất khẩu từ đầu năm đến nay, khối DN trong nước chỉ chiếm 27,5%, còn công lớn thuộc về khối FDI.

Đơn hàng nhỏ lẻ, giá không tăng

Ngay từ đầu năm, ngành dệt may đã gặp khó khi lượng đơn hàng không như kỳ vọng, các thị trường truyền thống từ EU, Nhật… đều giảm. Ông Phạm Xuân Hồng, Phó Chủ tịch Vitas, cho biết đến quý III, dù vẫn có nhưng không nhiều đơn hàng “hấp dẫn”, chủ yếu nhỏ lẻ nên DN không có sự lựa chọn. Dù thị trường Mỹ hồi phục tốt nhưng không thể bù đắp nhu cầu suy giảm từ EU, Nhật.

“Vấn đề này rất đáng lo bởi sức cạnh tranh của DN trong nước kém, đơn giá xuất khẩu không tăng nhưng hàng loạt chi phí đầu vào lại tăng. Khối FDI không ngừng đổ vốn vào Việt Nam để chờ hưởng lợi từ TPP, cạnh tranh trực tiếp với DN trong nước không chỉ về nguồn nhân lực…” – ông Hồng lo lắng.

Theo ông Lê Quang Hùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP May Garmex Sài Gòn, ngoài yếu tố do kinh tế của Nhật, EU suy thoái, việc đồng USD tăng giá mạnh đã tác động lớn đến hàng hóa của Việt Nam xuất qua các thị trường này. Hiện đơn giá xuất khẩu dệt may qua Nhật, EU đều tính bằng USD nhưng gần đây USD tăng giá rất mạnh buộc các nước phải phá giá đồng tiền. “Vô hình trung, hàng dệt may Việt Nam xuất qua EU, Nhật khi đến tay người tiêu dùng giá bị đội lên nên họ hạn chế mua sắm” – ông Hùng dẫn chứng.

“Tình hình khó khăn với ngành dệt may còn kéo dài qua năm sau và phụ thuộc vào yếu tố Hy Lạp (liên quan trực tiếp tới thị trường EU). Ngay từ giữa năm ngoái, Garmex đã họp bàn và dự báo các thị trường EU, Nhật có thể gặp khó khăn, đồng thời tìm cách đẩy mạnh hàng sang thị trường Mỹ khi kinh tế nước này có dấu hiệu phục hồi” – vị lãnh đạo Garmex nói thêm.

Chính sách điều chỉnh tỉ giá theo hướng thả nổi, phá giá mạnh của Nhật, EU những tháng qua còn khiến giá nguyên liệu, máy móc khi DN Việt nhập về tăng cao. Ông Lê Tiến Trường, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), lấy ví dụ: Tập đoàn vừa đặt mua máy của Nhật, nếu năm rồi tỉ giá chỉ 103-104 yen/USD thì mới đây giá lên tới 123 yen/USD hoặc đầu năm nay ký hợp đồng giá 110 yen/USD nay lên 122 yen/USD, nghĩa là Nhật phá giá tới 20%. “Giá đắt hơn 20% làm hàng hóa đến các thị trường này tăng cao nên việc bảo đảm mục tiêu xuất khẩu sang các nước này sẽ rất khó khăn” – ông Trường nói.

Cần giải pháp hỗ trợ cụ thể (…)

Hội nhập tới nơi mà chưa lo ‘bơi’

Quang Huy , Pháp luật TP (NLĐ) – Gần 80% doanh nghiệp Việt Nam thờ ơ, không quan tâm đến hội nhập.

Đến nay Việt Nam đã tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do (AFTA) với những thị trường lớn như khu vực ASEAN, Hàn Quốc, Nhật Bản, Úc… Đặc biệt, tới đây Hiệp định Thương mại đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) được ký kết. Theo đó, hàng ngàn dòng thuế các sản phẩm từ tiêu dùng đến nông, lâm thủy sản sẽ áp thuế suất 0%-5%.

Như vậy hội nhập đã gõ cửa từng doanh nghiệp (DN). Thế nhưng các DN Việt Nam đã sẵn sàng tham gia sân chơi này?

Thua nông dân Thái Lan

“Nói về độ am hiểu thông tin các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà cộng đồng ASEAN ký kết thì DN Việt còn thua cả nông dân Thái Lan” – ông Phạm Đức Bình, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thanh Bình, nhận xét.

Lý do, theo ông Bình, ngay từ khi bắt đầu đàm phán các hiệp định, nông dân Thái đã được thông tin về cơ hội và những tiêu chuẩn khi hội nhập; cách thức nuôi trồng chuyên nghiệp để sản phẩm có thể cạnh tranh. Đồng thời nông dân Thái cũng liên kết chặt chẽ với DN để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm. Ngược lại, DN Việt thì rất lơ mơ, mù mờ thông tin.

Bổ sung cho nhận định này, GS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp, nhìn nhận chưa nói DN, ngay cả nông dân Thái Lan cũng làm ăn rất bài bản, biết quảng bá nông sản, cập nhật những tiêu chuẩn hội nhập để về làm cho đúng.

Ông Xuân dẫn chứng: “Một số hội chợ nông sản thế giới tổ chức ở Thái Lan luôn có nông dân đến tìm hiểu thông tin, khách hàng trong khi DN Việt Nam có khi không thấy tham gia”.


Thiếu chủ động và thiếu thông tin khiến nhiều DN mất cơ hội làm ăn.
Trong ảnh: Sơ chế thanh long để xuất khẩu. Ảnh: QUANG HUY

Không biết phải làm gì

Nhiều DN khi được hỏi đều nói họ được tuyên truyền thông tin hội nhập chủ yếu qua các hội nghị, hội thảo và đọc trên báo chí.

Tuy vậy, ông Phạm Đức Bình chia sẻ: “Các DN thường đến nghe diễn giả nói về các vấn đề vĩ mô chung chung khi hội nhập. Thậm chí có chuyên gia khi tôi hỏi có nắm nội dung cụ thể hiệp định mà hai bên đàm phán ký kết không, người này trả lời ông chỉ biết… đại khái và nắm thông tin qua báo chí nước ngoài kết hợp với việc tự tìm thông tin”.

Nhiều DN khác cũng than thở ở đâu cũng nghe mọi người bàn đến hội nhập thông qua hàng loạt hiệp định thương mại nhưng cụ thể như thế nào thì ít người biết nên họ không biết phải làm gì. Hệ quả là DN đứng trước khó khăn, thậm chí nguy cơ phá sản. Ngành chăn nuôi là một ví dụ. Hiện tại các trang trại, DN chăn nuôi đang đuối sức trong việc cạnh tranh với thịt ngoại giá rẻ nhập vào ồ ạt.

Ngay cả những ngành được hưởng nhiều ưu đãi, lợi thế xuất khẩu khi Việt Nam hội nhập các FTA song nhiều DN thủy sản vẫn bức xúc vì không được cung cấp thông tin hiệp định sớm khiến lỡ mất nhiều cơ hội làm ăn.

Ông Trần Văn Lĩnh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản và Thương mại Thuận Phước, dẫn chứng: Việt Nam-Hàn Quốc đã ký kết FTA. Theo đó, đối với mặt hàng tôm, Hàn Quốc miễn thuế cho Việt Nam với lượng hạn ngạch 10.000 tấn/năm và tăng dần trong năm năm đến mức 15.000 tấn/năm miễn thuế. Đáng tiếc là hiện nay Việt Nam chỉ tận dụng được 2.500 tấn/năm miễn thuế trong tổng hạn ngạch nhập khẩu 5.000 tấn tôm/năm mà Hàn Quốc dành cho 10 nước ASEAN.

“Đây thực sự là cơ hội xuất khẩu cho con tôm, vậy mà đến khi hiệp định được ký kết DN mới biết rõ nội dung trên. Nắm thông tin muộn gây bất lợi cho DN Việt. Trong khi Thái Lan với sự chuyên nghiệp trong nuôi trồng, chế biến đã nhanh chân hơn DN Việt Nam một bước, chiếm lĩnh thị trường trước” – ông Lĩnh nói.

Đừng ngồi chờ… sung rụng

Thực tế bản thân các DN cũng thiếu chủ động nắm bắt thông tin về hội nhập. Chẳng hạn như cử người nghiên cứu, học hỏi để chuẩn bị các “hành trang” cần thiết tiếp cận với các hiệp định thương mại.

Đại diện một DN xuất khẩu rau quả thừa nhận: “Cách đây hơn một năm, DN tính xuất khẩu tỏi, ớt, gừng… sang Hàn Quốc nhưng thuế cao nên chuyển sang xuất rau quả khác. Lúc đó có người bạn khuyên nên tìm hiểu về hiệp định thương mại Việt Nam-Hàn Quốc, song tôi lại không quan tâm và cho rằng nó chỉ mang tính ngoại giao. Giờ mới biết là họ ưu đãi rất lớn cho những mặt hàng trên thì mới… tiếc” – vị DN chia sẻ.

Trước thực trạng trên, GS Võ Tòng Xuân cho rằng Nhà nước cần phải đưa đến cho DN những thông tin chính thống, hiệu quả, qua đó giúp DN tìm được những thị trường tin cậy. Ngược lại, các DN cũng phải phát huy vai trò chủ động, phối hợp với các cơ quan chức năng. Từ đầu năm đến nay có hàng ngàn đại diện DN từ các nước Thái Lan, Singapore, Malaysia… đến thăm dò, tìm cơ hội thâm nhập thị trường Việt Nam.

“Họ không chờ Nhà nước mà từ lâu đã chủ động các phương án bán hàng cạnh tranh với các DN Việt” – ông Xuân thông tin.

Khéo léo bảo vệ hàng nội địa

Hội nhập nhưng rào cản kỹ thuật, phòng vệ thương mại của các nước đang tạo ra rất lớn để bảo vệ sản xuất lẫn người tiêu dùng trong nước. Trong khi đó, hàng nhập khẩu vẫn đang tràn vào Việt Nam ồ ạt. Do vậy các hàng rào kỹ thuật liên quan đến vệ sinh an toàn thực phẩm, bảo vệ an toàn an ninh quốc gia nên được quan tâm chú trọng.

Tham khảo các vụ kiện chống bán phá giá của các quốc gia phát triển áp dụng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam có thể thấy các nước đều vận dụng khá khéo léo công cụ này. Cần tham khảo ý kiến nhiều DN trong nước để hoàn chỉnh và hàng rào cần được điều chỉnh thường xuyên cho phù hợp thực tế.

TS VÕ TRÍ THÀNH, chuyên gia kinh tế

Theo điều tra của Hội DN Hà Nội, 80% số DN được hỏi đến đều rất thờ ơ, không hề quan tâm tới hội nhập. Hầu hết DN thiếu hẳn các kiến thức để hội nhập.

Trường ĐH Kinh tế và Trường ĐH Quốc gia Hà Nội cũng đã thực hiện khảo sát gần 700 DN vừa và nhỏ ở năm tỉnh, TP là Hà Nội, Hải Phòng, TP.HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ. Kết quả cho thấy có 65% DN Việt không biết gì về những nội dung cơ bản của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).

[:-/] Mong manh trước hội nhập: Cần được kinh doanh bình đẳng (NLĐ) – Điều các doanh nghiệp mong chờ nhất là có được môi trường kinh doanh bình đẳng, thủ tục hành chính thông thoáng và kiểm soát được nạn hàng nhái, hàng giả

Ông Phạm Như Bách, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Mai Lan, cho biết thời gian qua, doanh nghiệp (DN) ông rất vất vả để cạnh tranh với hàng kém chất lượng của các cơ sở nhỏ lẻ. “Dù có cả hệ thống cơ quan quản lý kiểm soát thị trường nhưng khi gặp chuyện, họ thường nói “không đủ lực lượng”. Một nhà dân chỉ cần xây không phép đã bị lập biên bản xử lý, trong khi một cơ sở sản xuất trái phép, không niêm yết giá cả, không bảo đảm chất lượng vẫn tồn tại nhưng không ai hỏi thăm!” – ông Bách dẫn chứng.


Sản xuất bao bì nhựa tại một công ty ở huyện Bình Chánh, TP HCM Ảnh: TẤN THẠNH

Chuyên gia kinh tế – TS Đinh Thế Hiển cho rằng các chính sách hỗ trợ DN của nhà nước lâu nay đều có mục tiêu tốt nhưng không có bộ máy thực thi hiệu quả, chính sách càng tốt thì càng nặng về xin – cho. Điều quan trọng nhất mà DN cần chính là tạo môi trường kinh doanh cạnh tranh, bình đẳng, giảm thủ tục pháp lý và xây dựng cơ sở hạ tầng với chi phí thấp.

Còn theo chuyên gia kinh tế – TS Bùi Trinh, muốn DN trụ lại được khi Việt Nam mở cửa hội nhập, cần sự hỗ trợ rất lớn từ các chính sách ưu đãi của nhà nước nhưng hiện có nhiều chính sách tréo ngoe. Đơn cử như lĩnh vực thuế, khi DN bán sản phẩm trong nước dù là hàng tiêu dùng cuối cùng hoặc đầu vào cho các DN khác, phải chịu đủ loại thuế (thuế gián thu, thuế trực thu…) trong khi DN có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) chủ yếu làm hàng gia công để xuất khẩu lại có mức thuế suất bằng 0 và được khấu trừ thuế GTGT đầu vào, dù DN gia công xuất khẩu bản chất là xuất khẩu giùm nước ngoài.

TS Bùi Trinh cảnh báo một nguy cơ là “rửa chứng nhận xuất xứ (C/O)” khi Việt Nam tham gia hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA). Chẳng hạn, khi hàng hóa Trung Quốc vào Việt Nam thông qua một DN FDI của họ rồi gia công, sơ chế qua loa sau đó được xuất khẩu dưới nhãn mác của Việt Nam. Khi đó, nước được hưởng lợi từ các FTA là Trung Quốc!

Cũng theo TS Bùi Trinh, một khó khăn rất lớn với các DN nhỏ và vừa là Việt Nam không có ngành công nghiệp hỗ trợ. Việc hô hào tạo ra sản phẩm phụ trợ chỉ mang nặng tính khẩu hiệu chứ chưa có một chính sách cụ thể khuyến khích, nếu DN nào đó sản xuất sản phẩm phụ trợ thì giá thành và chất lượng cũng không cạnh tranh được với sản phẩm nhập khẩu. Vì ngoài chính sách không thuận lợi còn nhiều yếu tố “chèn ép” khác: tham nhũng vặt làm đội giá thành, giảm lợi nhuận của DN và hủy hoại niềm tin của đối tác, khách hàng…

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.