Nợ công lên 110 tỉ đô la Mỹ, lãi vay bằng 7,2% tổng chi NSNN

Posted: July 20, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Hoàng (TBKTSG Online) – Nợ công Việt Nam lên đến 110 tỉ đô la Mỹ và chỉ riêng khoản chi trả lãi vay đã lên đến 7,2% tổng chi ngân sách nhà nước, Ngân hàng Thế giới cảnh báo.

� Xem thêm: World Bank cảnh báo nợ công của Việt Nam tăng nhanh + WorldBank quan ngại tình trạng mất cân đối tài khoá kéo dài của Việt Nam + Nhật nợ nhiều vẫn an toàn: Việt Nam thấy gì?


WB cảnh báo, chi trả lãi vay đã chiếm tới 7,2% chi NSNN. Ảnh TH.

Báo cáo cập nhật tình hình phát triển kinh tế Việt Nam do Ngân hàng Thế giới (WB) công bố ngày 20-7 cảnh báo, tình trạng mất cân đối tài khóa kéo dài đang trở nên thành mối quan ngại trong bối cảnh gia tăng nợ công.

Theo báo cáo, tính đến cuối năm 2014, tổng nợ công của Việt Nam, bao gồm nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương ước tính là 2,35 triệu tỉ đồng (khoảng 110 tỉ đô la Mỹ).

Tỷ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh, từ 50% năm 2011 lên 59,6% năm 2014; 79,6% trong số này là nợ chính phủ, 19% là nợ được chính phủ bảo lãnh và khoảng 1,4% là nợ của chính quyền địa phương.

Bộ Tài chính dự báo tổng dư nợ công có thể đạt mức đỉnh điểm gần 65% GDP vào cuối năm 2017. Sau đó, tỷ lệ nợ/GDP sẽ giảm dần do thắt chặt tài khóa.

Chuyên gia kinh tế cao cấp của WB, Sebastian Eckardt cho biết nợ công vẫn có xu hướng tăng lên nhưng ở mức dưới 75% GDP. Tuy vậy vẫn còn những rủi ro thách thức như chậm trễ trong tái cơ cấu có thể làm giảm triển vọng kinh tế trong nước hay rủi ro từ việc kinh tế toàn cầu phục hồi chậm đi…

Ngân hàng Thế giới khẳng định, do nhu cầu tài trợ ngân sách tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn vay ưu đãi bên ngoài, Chính phủ chủ yếu dựa vào nợ trong nước để đáp ứng nhu cầu huy động vốn.

Nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn giữ ổn định khoảng 27-28% GDP trong giai đoạn 2010-2014, nợ trong nước tăng nhanh từ 23,1% GDP năm 2010 lên 31,7% GDP năm 2014. Phần lớn huy động vốn trong nước dựa trên phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất bình quân gia quyền 7,9%/năm trong năm 2013 và 6,6% năm 2014. Thời gian đáo hạn trung bình của trái phiếu chính phủ tương đối ngắn 3,1 năm (2013) và 4,8 năm (2014).

“Điều này có thể phát sinh rủi ro quay vòng nợ không khớp với kỳ hạn, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư cơ sở hạ tầng được tài trợ bằng nợ vay”, báo cáo cảnh báo.

Bên cạnh đó, Việt Nam đã phát hành trái phiếu quốc tế 10 năm với tổng giá trị 1 tỉ đô la Mỹ (lãi suất 4,8%) vào tháng 11/2014 – lần phát hành ra thị trường quốc tế đầu tiên trong 5 năm. Phần lớn số thu của đợt phát hành trái phiếu này được sử dụng để tái cơ cấu các khoản vay trước đó.

Chi phí thanh toán nợ có thể tạo thêm gánh nặng lên ngân sách. Nghĩa vụ thanh toán nợ công (tổng thanh toán nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014.

Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

Ngoài ra, nghĩa vụ nợ tiềm tàng từ DNNN và khu vực ngân hàng cũng trở thành mối nguy cơ rủi ro tới tính bền vững của nợ công. Ngoài các khoản nợ do chính phủ bảo lãnh được trình bày ở trên vẫn còn nhiều các khoản nợ tiềm ẩn chưa được thống kê một cách đầy đủ.

Các khoản nợ này ước tính có quy mô khá lớn, tính rủi ro cao và có thể đe dọa tới ổn định tài khóa. Mặc dù Chính phủ nhận ra những rủi ro này nhưng vẫn chủ trương không sử dụng các nguồn lực ngân sách nhà nước để tái cấp vốn các ngân hàng hay tái cơ cấu nợ của DNNN.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Thế giới cho biết, thâm hụt đáng kể đầu tư công đã bắt đầu diễn ra từ năm 2012.

Theo báo cáo ngân sách nhà nước, chi đầu tư trong quí 1/2015 chỉ chiếm khoảng 15,6% tổng chi ngân sách. Kết quả này chỉ bằng 50% mức trung bình trong giai đoạn 2004-12 và là mức thấp nhất trong vòng 20 năm qua.

Tỷ trọng chi đầu tư phát triển của nhà nước trong tổng GDP vào khoảng 5% trong năm 2014 và quý 1 năm 2015 hay tương đương 50% tỷ trọng năm 2009 khi đầu tư công tăng do triển khai gói kích cầu kinh tế.

World Bank cảnh báo nợ công của Việt Nam tăng nhanh

Lan Hương (LĐ) – Sáng 20.7, Ngân hàng thế giới (WB) công bố Báo cáo về tình hình phát triển kinh tế Việt Nam. WB cho rằng vấn đề ngân sách của Việt Nam đang là mối quan ngại. Nợ công tăng nhanh trong những năm gần đây. Thêm vào đó, chi phí trả nợ chiếm gần 7,2% chi ngân sách và lấn át các khoản chi tiêu khác.


Nợ công Việt Nam đang tăng nhanh. Ảnh minh họa, nguồn: Internet

Tính đến cuối năm 2014, tổng dư nợ công của Việt Nam bao gồm nợ của chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh, và nợ của chính quyền địa phương ước tính đạt 2347 nghìn tỉ đồng (khoảng 110 tỉ USD). Tỉ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh từ 50% nă 2011 lên 59,6% năm 2014. Trong đó, đáng chú ý 79,6% con số này là nợ Chính phủ, 19% là nợ được chính phủ bảo lãnh và khoảng 1,4% là nợ của chính quyền địa phương.

World Bank chỉ rõ nợ tăng do thay đổi cơ cấu nợ. Do nhu cầu tài trợ ngân sách tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn vay ưu đãi bên ngoài, Việt Nam chủ yếu dựa vào nợ trong nước để đáp ứng nhu cầu huy động vốn. Mặc dù nợ nước ngoài của chính phủ vẫn giữ ổn định khoảng 27-28% GDP trong giai đoạn 2010- 2014, nợ trong nước đã tăng nhanh từ 23,1% GDP năm 2010 lên 31,7% GDP năm 2014.

Trong khi đó, phần lớn huy động vốn trong nước dựa vào phát hành trái phiếu chính phủ với thời gian đáo hạn trung bình của trái phiếu tương đối ngắn. Điều đó dẫn tới phát sinh rủi ro quay vòng nợ không khớp với kì hạn.

Chi phí thanh toán nợ công đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014. Chi phí trả lãi vay gần 7,2% chi ngân sách và lấn át các khoản chi tiêu khác.

WB cho biết kinh tế Việt Nam tiếp tục phục hồi với mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ước đạt 6,28% trong nửa đầu năm 2015. Trong khi đó đà xuất khẩu suy giảm và nhập khẩu tăng nhanh đã đẩy tài khoản vãng lai vào tình trạng thâm hụt trong quý I.2015.

[:-/] WorldBank quan ngại tình trạng mất cân đối tài khoá kéo dài của Việt Nam (DĐDN) – Ngày 20/7, Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam đã công bố báo cáo “Điểm lại tình hình phát triển kinh tế Việt Nam” trong đó nhấn mạnh, tình trạng mất cân đối tài khóa kéo dài đang trở thành mối quan ngại hàng đầu trong bối cảnh gia tăng nợ công.

nowcongvietnam2072015
Biểu đồ Tổng nợ công và Tình hình thanh toán nợ công của Việt Nam

Theo WB, tính đến cuối năm 2014, tổng dư nợ công của Việt Nam ước tính là 2.347 nghìn tỷ đồng (khoảng 110 tỷ USD).

Nợ tăng do thay đổi cơ cấu nợ

Tỷ trọng nợ công so với GDP tăng nhanh, từ 50% năm 2011 lên 59,6% năm 2014. 79,6% con số này là nợ chính phủ, 19% là nợ được chính phủ bảo lãnh và khoảng 1,4% là nợ của chính quyền địa phương.

Bộ Tài chính dự báo tổng dư nợ công có thể đạt mức đỉnh điểm gần 65% GDP vào cuối năm 2017. Sau đó, tỷ lệ nợ/GDP sẽ giảm dần do thắt chặt tài khóa.

Ngân hàng thế giới cho biết, do nhu cầu tài trợ ngân sách tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng huy động vốn vay ưu đãi bên ngoài, Chính phủ chủ yếu dựa vào nợ trong nước để đáp ứng nhu cầu huy động vốn.

Mặc dù nợ nước ngoài của Chính phủ vẫn giữ ổn định khoảng 27-28% GDP trong giai đoạn 2010-2014, nợ trong nước tăng nhanh từ 23,1% GDP năm 2010 lên 31,7% GDP năm 2014. Phần lớn huy động vốn trong nước dựa trên phát hành trái phiếu chính phủ với lãi suất bình quân gia quyền 7,9%/năm trong năm 2013 và 6,6% năm 2014. Thời gian đáo hạn trung bình của trái phiếu chính phủ tương đối ngắn 3,1 năm (2013) và 4,8 năm (2014).

Báo cáo cho thấy, điều này có thể phát sinh rủi ro quay vòng nợ không khớp với kỳ hạn, đặc biệt trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư cơ sở hạ tầng được tài trợ bằng nợ vay. Tận dụng điều kiện tài chính toàn cầu thuận lợi và nâng cao xếp hạng tín dụng quốc gia trong thời gian gần đây, Việt Nam đã phát hành trái phiếu quốc tế 10 năm với tổng giá trị 1 tỷ USD (lãi suất 4,8%) vào tháng 11/2014 – lần phát hành ra thị trường quốc tế đầu tiên trong 5 năm. Phần lớn số thu của đợt phát hành trái phiếu này được sử dụng để tái cơ cấu các khoản vay trước đó.

Chi phí thanh toán nợ tạo thêm gánh nặng lên ngân sách

Báo cáo cho biết, nghĩa vụ thanh toán nợ công (tổng thanh toán nợ chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 22% năm 2010 lên gần 26% tổng thu ngân sách năm 2014. Chi trả lãi vay hiện chiếm gần 7,2% chi ngân sách, lấn át các khoản chi tiêu khác.

Ngoài ra, nghĩa vụ nợ tiềm tàng từ doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và khu vực ngân hàng cũng trở thành mối nguy cơ rủi ro tới tính bền vững của nợ công. Ngoài các khoản nợ do chính phủ bảo lãnh được trình bày ở trên vẫn còn nhiều các khoản nợ tiềm ẩn chưa được thống kê một cách đầy đủ.

Các khoản nợ này ước tính có quy mô khá lớn, tính rủi ro cao và có thể đe dọa tới ổn định tài khóa. Mặc dù, Chính phủ nhận ra những rủi ro này nhưng vẫn chủ trương không sử dụng các nguồn lực ngân sách nhà nước để tái cấp vốn các ngân hàng hay tái cơ cấu nợ của DNNN.

Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Thế giới cho biết, thâm hụt đáng kể đầu tư công đã bắt đầu diễn ra từ năm 2012. (…)

Nhật nợ nhiều vẫn an toàn: Việt Nam thấy gì?

PGS.TS Phương Ngọc Thạch (BĐV) – Nợ công cao nhưng vẫn nằm trong tầm kiểm soát là nhờ Chính phủ Nhật đã xây dựng một chính sách dưới sự đồng lòng của người dân.

Báo Đất Việt xin trân trọng giới thiệu bài phân tích của PGS.TS Phương Ngọc Thạch – (Chủ tịch Hội kinh tế và Quản lý Tp HCM) về nợ công Nhật Bản.

Nặng nợ nhất

Theo công bố của Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey, Nhật bản là nước đứng đầu trong danh sách quốc gia có tổng nợ nhiều nhất thế giới. Khoản nợ này là kết quả từ việc Nhật Bản đã chi một số lượng tiền khổng lồ để kích thích kinh tế trong suốt “thập kỷ mất mát” những năm 1990, cũng như hàng loạt gói tài chính đã được bơm vào nền kinh tế này để giải quyết cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008.

Nhat no nhieu van an toan: Viet Nam thay gi? 
Ảnh minh họa

Nhờ có lượng tiền khổng lồ này, Nhật bản đã đầu tư phát triển kinh tế xã hội Nhật rất hiệu quả. Hệ số đầu tư của Nhật hiện đang là ICOR=3, chứng tỏ Nhật đầu tư không hề lãng phí, ít tham nhũng. Nhật chú trọng đầu tư vào phát triển các ngành công nghệ cao, vào an sinh xã hội đưa đất nước Nhật tan hoang sau đại chiến thế giới thứ 2 lên nước có nền kinh tế lớn thứ hai thế giới.

Song cũng phải thấy mặt trái của nó. Tỷ lệ nợ công trên GDP của Nhật Bản đã lên tới hơn 200% GDP vượt xa so với các nước khác. Nợ công của Nhật Bản hiện nay lớn hơn cả quy mô kinh tế của Anh, Đức, Pháp cộng lại. Nhật Bản hiện là nước nặng nợ nhất trong khu vực các quốc gia công nghiệp.

Tình hình nợ công ở mức cao cùng với nạn giảm phát và nhu cầu tiêu thụ nội địa yếu ớt đang cản trở đà phục hồi của nền kinh tế lớn thứ hai thế giới này. Để giảm nợ công chính phủ Nhật bản quyết định tăng thuế tiêu thụ lên gấp đôi so với trước đây. Việc nâng thuế sẽ giúp nước này huy động được thêm 81.420 tỷ USD/năm. Tuy nhiên, nó được đưa ra vào thời điểm quá nhạy cảm khi thị trường cần kích cầu.

Vì thế, Chính phủ cũng đồng thời tung gói kích thích mới. Không chỉ có tăng thuế, Chính phủ Nhật Bản đã đặt mục tiêu cắt giảm chi tiêu. Bên cạnh việc thắt chặt chính sách tài khóa, chính sách tiền tệ tiếp tục mở rộng mạnh mẽ.

Chính phủ cũng đã có những kế hoạch cụ thể để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, tạo việc làm, hỗ trợ cho những người có thu nhập thấp. Điều mà chính sách mong muốn là sự đồng lòng của người dân.

Những nhân tố tạo an toàn cho nợ công Nhật

Khi phân tích nợ công của Nhật Bản đã cho thấy có sự khác biệt khá lớn giữa nợ công của nước này với nợ công của nhiều nước, thể hiện ở chỗ, 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân nước này nắm giữ, trong khi nợ chính phủ của nhiều nước do nước ngoài nắm giữ.

Bên cạnh đó, Nhật còn tự chủ về tỷ giá hối đoái, dự trữ ngoại tệ của Nhật cũng ở mức rất cao. Do vậy, nền kinh tế Nhật Bản, mặc dù nợ công cao nhưng vẫn an toàn và nguy cơ vỡ nợ của nước này thấp hơn nhiều so với các nước khu vực đồng Euro.

So với nền kinh tế hàng đầu thế giới là Mỹ với quy mô nợ công thấp hơn Nhật Bản, nhưng lại đang phải loay hoay xử lý nguy cơ vỡ nợ trong khi nợ công của Nhật Bản được đánh giá là cao nhất trong số các nước phát triển, thì nợ công của Nhật vẫn được đánh già là an toàn. Những nhân tố đóng góp vào mức an toàn nợ công Nhật Bản, đó là:

Trái phiếu chính phủ ổn định và ít phụ thuộc vào giới đầu tư trái phiếu quốc tế. 95% trái phiếu chính phủ của Nhật Bản do người dân Nhật Bản nắm giữ, lợi tức trái phiếu Nhật Bản chỉ chạm mức cao nhất là 1,4%, trong khi đó nhiều nước đã tiếp cận ngưỡng cao gấp hơn 5 lần.

Trái phiếu chính phủ Nhật Bản hiện ổn định nhờ 3 yếu tố cơ bản: (1) Cán cân thanh toán quốc tế mạnh và dự trữ ngoại hối lớn; (2) Tỷ lệ tiết kiệm cá nhân lớn hơn nợ công; (3) Đa phần trái phiếu chính phủ Nhật Bản được các nhà đầu tư trong nước nắm giữ. Hơn nữa, toàn bộ trái phiếu chính phủ Nhật Bản được định giá bằng đồng yên. Nhật Bản không có nợ bằng ngoại tệ.

Hơn nữa, Nhật Bản cũng là “chủ nợ” của nhiều nước. Theo số liệu cuối năm 2008 của Quỹ Tiền tệ quốc tế, tổng tài sản ở nước ngoài của Nhật Bản cao hơn nhiều so với mức nợ nước ngoài. Nếu Nhật Bản khó khăn trong việc huy động tài chính trong nước thì họ có thể sử dụng tài sản ở nước ngoài làm nguồn tài chính bổ sung. Thực tế thì Nhật Bản cũng thặng dư tài khoản vãng lai trong nhiều năm, qua đó, giúp dự trữ ngoại tệ tăng lên ở mức rất cao, lãi suất thấp nên chi phí nợ thấp hơn nhiều so với các nước khác.

Rủi ro của Việt Nam

Thực chất nợ công an toàn hay rủi ro phụ thuộc vào các yếu tố đó là: nợ chính phủ là vay nợ trong nước hay vay nợ nước ngoài; tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, hay tình trạng “sức khỏe” nói chung của nền kinh tế; lượng dự trữ quốc gia.

Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, mức sống người dân khá cao, lợi suất trái phiếu chính phủ thấp cho thấy rủi ro vỡ nợ công thấp.

Đó là lý do giải thích Nhật nợ nhiều vẫn an toàn, trái lại trường hợp của nhiều nước trong đó có Việt nam nợ ít vẫn rủi ro, nguy hiểm.

Trong 30 năm qua Việt Nam là nước có nền kinh tế tăng trưởng đa phần nhờ vào tăng đầu tư, chỉ số ICOR cao (6-7), trong khi Nhật bản, Hàn Quốc chỉ là 3, trong đó đầu tư công duy trì ở mức cao.


Tình trạng sức khỏe của nền kinh tế phụ thuộc nhiều yếu tố. Ảnh minh họa

Đầu tư công cao nhưng hiệu quả thấp là nguyên nhân chính khiến thâm hụt ngân sách, tăng nợ công, nhất là nợ nước ngoài. Quy mô đầu tư ngày càng lớn đã kéo nợ công ngày một “phình ra” trong những năm gần đây và đặt nền kinh tế đứng trước “vòng xoáy” nợ nần.

Tính đến cuối năm 2010, tỷ lệ nợ công Việt Nam so với GDP đã là 57,3%, khoảng 58,7% GDP năm 2011, đến cuối năm 2014 là 60,3% GDP và khoảng 64% GDP vào cuối năm 2015 vượt mức 50% GDP. Theo tính toán quốc tế thì nợ công của Việt Nam đã lên đến 106% GDP. Theo khuyến cáo của các tổ chức quốc tế, tỷ lệ hợp lý với trường hợp các nước đang phát triển nên ở mức dưới 50% GDP.

Nợ nước ngoài của nước ta chiếm khá lớn trong nợ công. Theo dữ liệu từ Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại (Bộ Tài chính), trong giai đoạn từ 2006-2010, nợ nước ngoài so với GDP của Việt Nam đã tăng từ 31,4% lên 42,2%. Nợ nước ngoài quốc gia đến cuối năm 2014 khoảng 39,9% GDP. Thu hút ODA làm cho nợ nước ngoài của VN ngày càng gia tăng.

Nước ta đã tăng vay mượn nước ngoài, không chỉ qua nguồn ODA mà còn cả qua các kênh bán trái phiếu chính phủ trên thị trường tài chính quốc tế và bảo lãnh cho doanh nghiệp nhà nước vay mượn thương mại với lãi suất cao. Theo ”ngưỡng” khuyến cáo của các tổ chức tài chính quốc tế thì nếu chỉ số Nợ nước ngoài/GDP trong khoảng 30-50% thì quốc gia đó đang gặp khó khăn.

Tỷ lệ nợ công/ GDP cao, chỉ số hiệu quả vốn đầu tư ICOR (hệ số sinh lời từ đồng vốn đầu tư) của VN vào khoảng 6-7. Đầu tư công kém hiệu quả là nguyên nhân gây bội chi ngân sách. Do thường xuyên trong tình trạng thâm hụt ngân sách nên nợ công tăng rất nhanh trong những năm vừa qua. Trong giai đoạn 2006-2010, thu ngân sách lên tới 28,2% GDP, chi ngân sách lên đến 33-33,8% GDP, bội chi ngân sách tăng 5,6% GDP, năm 2013 bội chi khoảng 5,3% GDP. Ở các nước bội chi ngân sách không được vượt quá 3%, trên 5% là báo động đỏ để đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô. Bội chi ngân sách nhà nước được bù đắp bằng nguồn vay ngoài nước (ODA) và trong nước

VN luôn nhập siêu, thâm hụt thương mại tăng nhanh cả về số lượng, về tỷ trọng so với xuất khẩu và so với GDP. Tình trạng nhập siêu từ đầu thập niên 1990 tới nay và nhập siêu đã tăng lên rất nhanh sau khi Việt Nam gia nhập WTO năm 2006. Nhập siêu kéo dài trong nhiều năm đã làm sụt giảm nguồn dự trữ ngoại hối, tăng công nợ quốc gia và gây sức ép mất giá lên đồng nội tệ. Các rủi ro lớn từ nợ công của Việt Nam hiện nay là: chi tiêu và đầu tư công kém hiệu quả; nợ công tăng quá nhanh, trong khi thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao.

Để đối phó với tình trạng giảm phát chính sách của Nhật và một số nước là giảm thuế để kích thích sản xuất tiêu dùng trong nước. Trong khi Việt Nam đang làm ngược lại.

Từ năm 2015, hàng loạt mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam sẽ giảm thuế theo cam kết của các Hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam đã ký kết. Việc tham gia hội nhập sâu rộng các hiệp định thương mại tự do đặt ra vấn đề là các dòng thuế cũng phải cắt giảm và ảnh hưởng tới thu ngân sách.

Trước mối “đe doạ” giảm nguồn thu ngân sách khi Việt Nam giảm thuế theo cam kết khi tham gia các Hiệp định thương mại, chính sách đang có xu hướng đưa thêm nhiều loại thuế, phí mới để đảm bảo nguồn thu vẫn phải duy trì.

Chính sách Việt Nam có khuynh hướng dịch chuyển nguồn thu khai thác nội địa nhiều hơn nhằm cân bằng, duy trì nguồn thu, khi mà thu thuế từ xuất nhập khẩu giảm đi do phải thực hiện cam kết từ các hiệp định thương mại. Vậy là khi nguồn thu của Chính phủ giảm xuống, thì Chính phủ sẽ có xu hướng chuyển hướng nguồn thu vào trong nước và DN nội địa sẽ phải chịu nhiều loại thuế hơn, nghĩa vụ đóng góp vào ngân sách Nhà nước, cuối cùng thì vẫn là các đối tượng trong nước, DN, người lao động, người dân.

Với phương án tăng thuế để bù thu đặc biệt khi doanh nghiệp đang khó khăn khiến doanh nghiệp đã khó càng thêm khó. DN trong nước, đặc biệt là DN nhỏ và vừa sẽ đuối sức khi chịu tác động kép, vừa chịu áp lực cạnh tranh với DN nước ngoài, vừa phải “cõng” trên vai nhiều loại thuế phí.

Càng hội nhập sâu thì nguồn thu trực tiếp từ xuất nhập khẩu sẽ giảm xuống nhưng thị trường tăng lên. Song các đối tượng nước ngoài hưởng lợi nhiều hơn. Tỷ trọng thu ngân sách từ hoạt động xuất nhập khẩu trên tổng thu trong những năm qua có giảm nhưng về giá trị tuyệt đối tăng, do thuế giảm nhưng thị trường tăng. Giảm thuế nhập khẩu thì các hàng hóa nhập khẩu về có thể nhiều hơn và giúp tăng thu ngân sách.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.