Trái đắng đầu tư ngoài ngành của các tập đoàn kinh tế

Posted: July 26, 2015 in Uncategorized
Tags:

Phương Linh (VNE) – Đầu tư tràn lan, người đại diện vốn Nhà nước mắc sai phạm, thị trường chứng khoán khó khăn… là những nguyên nhân khiến số vốn lớn mắc kẹt ngoài ngành nghề cốt lõi.

� Xem thêm: Vì sao chưa thu hồi được một xu nào từ hơn 1.000 tỷ đồng vụ Vinashin? + Chơi với Nhật, hãy bỏ thói xin – cho.


PVN đối mặt với nguy cơ mất vốn khi Ocean Bank bị Ngân hàng Nhà nước mua lại với giá 0 đồng.

Trong giai đoạn bùng nổ 2006 – 2008, một loạt tập đoàn kinh tế Nhà nước đã đem hàng chục nghìn tỷ đồng đi đầu tư bên ngoài lĩnh vực cốt lõi, chủ yếu là ngân hàng, chứng khoán, bất động sản. Khi kinh tế rơi vào suy thoái, các khoản đầu tư này bỗng chốc trở thành “trái đắng”, doanh nghiệp muốn cũng chưa thể thoát ngay, dẫn đến nhiều hệ lụy còn dai dẳng đến nay.

Mới đây nhất, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) đứng trước nguy cơ mất trắng hàng trăm tỷ đồng do khoản đầu tư vào Ngân hàng Đại Dương (Ocean Bank) sẽ phải chuyển giao về Ngân hàng Nhà nước, sau quyết định bị mua lại với giá 0 đồng, chấm dứt toàn bộ quyền lợi, lợi ích của các cổ đông. Oceanbank có vốn điều lệ 4.000 tỷ đồng, trong đó PVN góp 800 tỷ (khoảng 20%).

Trước khi xảy ra biến cố ông Hà Văn Thắm bị bắt, đây được đánh giá là một trong những ngân hàng trẻ, năng động trong hệ thống và hàng năm đều trả cổ tức bằng tiền mặt đều đặn cho cổ đông. Nhưng sau khi thanh tra, Ngân hàng Nhà nước đánh giá vốn điều lệ của Ocean Bank bị âm và tự thân không thể bù đắp nổi.

Ngoài ra, báo cáo của Đảng ủy khối doanh nghiệp Trung ương tháng 4/2015 cho thấy PVN đang “mắc kẹt” 1.167 tỷ đồng tại 3 đơn vị là Tổng công ty Xây lắp dầu khí, Công ty Hóa dầu và Xơ sợi dầu khí, Công ty phát triển Đông Dương Xanh. Các khoản đầu tư này đang được xem xét báo cáo Chính phủ cho lùi thời hạn thoái vốn sau 2015 để tiếp tục tái cơ cấu, có như vậy mới bảo toàn được vốn Nhà nước.

Một ông lớn khác là Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) cũng từng điêu đứng vì đầu tư ngoài ngành. Đơn vị này từng có lượng vốn đầu tư ngoài ngành chiếm 3,27% vốn chủ sở hữu tập đoàn, tương đương 2.100 tỷ đồng vào 4 lĩnh vực nhạy cảm gồm bất động sản, bảo hiểm, ngân hàng và tài chính.

Tuy nhiên, nhiều khoản trong danh mục đã không mang lại kết quả, điển hình như thương vụ đầu tư vào EVN Telecom. Theo báo cáo của kiểm toán, “ngành điện” đầu tư 100% vốn vào doanh nghiệp viễn thông với số tiền tính đến 31/12/2010 là 2.442 tỷ đồng, song kết quả kinh doanh liên tục xuống dốc. Nếu như năm 2008, EVN Telecom đạt lợi nhuận 93,8 tỷ đồng thì 2009 giảm còn 8,3 tỷ đồng và chuyển thành lỗ trên 1.050 tỷ đồng năm 2010.

Trước sức ép của dư luận, năm 2012, EVN cam kết sẽ thoái vốn, giảm vốn tại 7 công ty ngoài ngành với tổng giá trị hơn 2.330 tỷ đòng. Đến hết tháng 3/2015, ông lớn này mới thoái được toàn bộ tại 3 công ty bất động sản, trong khi các khoản đầu tư vào tài chính – ngân hàng vẫn còn đọng lại, trị giá 1.376 tỷ đồng, chủ yếu do tình hình thị trường không thuận lợi.

Hay với “cú đấm thép” một thời là Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – Vinashin (nay là Tổng công ty Công nghiệp tàu thủy Việt Nam – SBIC), đầu tư dàn trải không thu được hiệu quả cũng là một trong những nguyên nhân khiến kết quả kinh doanh đi xuống nhanh chóng và phải tái cơ cấu mạnh mẽ từ năm 2010 đến nay, thậm chí Chính phủ phải bảo lãnh để tái cơ cấu khoản vay 600 triệu USD cho đơn vị này.

Danh sách các ông lớn liên lụy vì khoản đầu tư ngoài ngành vẫn còn nối dài. Chẳng hạn, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đến nay đã thoái xong vốn tại 6 trên 8 đơn vị, song với phần vốn góp tại Công ty Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà (48 tỷ đồng), do công ty này đã không hoạt động từ lâu, lại do Vinashin làm chủ đầu tư chính nên khả năng thu hồi vốn khó khăn. Cuối năm 2014, TKV đã đề xuất Thủ tướng phương án xử lý, song với thực trạng dự án và tình hình thị trường hiện nay, việc thoái vốn tại công ty Đầu tư phát triển khu kinh tế Hải Hà rất khó thực hiện.

Hay với Tập đoàn Cao su, việc bán vốn khỏi các công ty thủy điện sẽ quyết định sự thành công của chương trình “thoát” đầu tư ngoài ngành. Song, quá trình này không dễ dàng do liên quan đến các khoản bảo lãnh vay vốn của tập đoàn và tình hình thị trường chứng khoán vốn diễn biến không khả quan thời gian gần đây. “Áp lực hoàn thành trong năm 2015 với một vài công ty đang trong quá trình xây dựng là khó thực hiện nếu thị trường không có chuyển biến tích cực”, đơn vị này cho biết.

Ông Lại Văn Đạo – Tổng giám đốc Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC), một trong những đơn vị được giao hỗ trợ quá trình bán vốn đánh giá việc thoái vốn ngoài ngành vẫn còn vướng ở cơ chế. “Về thoái vốn ngoài ngành, phần mà SCIC tham dự, đặc biệt tại ngân hàng đang rất vướng. Chúng tôi chưa tham dự được khoản nào trong lĩnh vực này, trong khi một số tập đoàn, tổng công ty đã đề xuất với chúng tôi tham gia mua lại vốn”, ông nói.

Báo cáo của ban Chỉ đạo đổi mới và Phát triển doanh nghiệp cho hay 6 tháng đầu năm 2015, các tập đoàn, tổng công ty đã thoái được 3.368 tỷ đồng khỏi 5 lĩnh vực nhạy cảm (bất động sản, chứng khoán, ngân hàng, bảo hiểm, quỹ đầu tư), mới đạt 15% số vốn cần phải thoái.

Không chỉ tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh, đầu tư ngoài ngành kém hiệu quả còn ảnh hưởng đến “ghế” của một số lãnh đạo. Năm 2012, Thủ tướng đã ký quyết định thôi chức Chủ tịch EVN đối với Đào Văn Hưng. Đến nay, lý do cụ thể về việc cho ông Hưng thôi chức chưa được tiết lộ, song việc này diễn ra sau khi vị này kiêm nhiệm chức vụ đại diện phần vốn góp của tập đoàn tại nhiều công ty con, nhưng hoạt động không thu được hiệu quả. Mới đây nhất, ông Nguyễn Xuân Sơn – Cựu Chủ tịch PVN cũng bị khởi tố và bắt giữ vì những sai phạm khi còn nắm vai trò là Tổng giám đốc Ocean Bank.

Trao đổi với VnExpress, Tiến sĩ Lưu Bích Hồ – Nguyên Viện trưởng Viện chiến lược (Bộ Kế hoạch & Đầu tư) cho hay hiện tại đa số các doanh nghiệp đã rút ra bài học và không dám đầu tư ngoài ngành tràn lan, nên điều quan trọng lúc này là cần tháo gỡ cho những khoản vốn đang “mặt kẹt”. “Phải xem từng doanh nghiệp cụ thể, nếu trường hợp nào có thể thoái được thì quyết liệt, không lai rai, còn lại phải có giải pháp tháo gỡ. Nếu họ chỉ thoái được một phần cũng nên chấp nhận”, ông nói.

Dẫn kinh nghiệm quốc tế, vị chuyên gia này cho biết Indonesia từng rơi vào cảnh tương tự, nhưng họ lập ra hẳn một bộ chuyên trách xử lý các khoản đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, sau đó mua lại những khoản doanh nghiệp cần bán. Ở Việt Nam, quan điểm này đã được nhiều chuyên gia đề cập nhiều lần, song theo ông Lưu Bích Hồ, đến bây giờ việc có một bộ chủ quản riêng cho doanh nghiệp Nhà nước hay trao nhiều quyền lực nhiều hơn cho SCIC cũng chưa được thông qua.

“Chúng ta phải chấp nhận để trong vòng vài ba năm có thể tái cơ cấu quyết liệt. Sẽ phải hy sinh, trả giá và bằng mọi cách tạo ra sự phá hủy có tính sáng tạo, nghĩa là cái gì thôi không dùng nữa thì phải bỏ”, vị này nhấn mạnh.

Liên quan đến trách nhiệm người đại diện vốn Nhà nước, nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược phát triển cho rằng nhiều cán bộ chưa thực sự có năng lực, mà trong nền kinh tế hiện đại, đây sẽ là điểm yếu kéo doanh nghiệp đi xuống. Do đó, việc truy cứu trách nhiệm các lãnh đạo không hoàn thành tốt nhiệm vụ, làm thất thoát vốn, theo ông là “bình thường” vì sai thì phải xử lý.

Tuy nhiên, đây cũng là bài học để cơ quan Nhà nước giám sát, quản lý chặt chẽ hơn các cán bộ được giao. “Đầu tiên phải xác định dứt khoát thể chế quản lý doanh nghiệp Nhà nước, từ đó đào tạo ra những người quản lý giỏi, hoặc chấp nhận thuê những cá nhân có năng lực ở khu vực tư. Song hành với đó, Nhà nước cũng phải tăng cường giám sát người đại diện vốn, vì đây chính là những cá nhân nắm rõ tiền đầu tư đi đâu, đầu tư như thế nào.

“Trong những lúc khó khăn này thì vai trò của Nhà nước rất cần thiết, đó là tháo gỡ những vướng mắc về chính sách, nâng cao năng lực quản lý, giám sát”, Tiến sĩ Lưu Bích Hồ khẳng định.

[:-/] Quốc lộ mới làm đã hỏng – Dù mới đưa vào sử dụng chưa lâu nhưng hàng loạt vị trí trên QL27, đoạn qua Lâm Đồng, đã bị hư hỏng gây mất an toàn giao thông.


Nhiều vị trí mặt đường bị hư hỏng ở đoạn qua xã Lạc Lâm, H.Đơn Dương – Ảnh: G.B

Qua kiểm tra của Ban An toàn giao thông tỉnh Lâm Đồng, nhiều vị trí trên QL này còn bị sình lún. Với mật độ tham gia giao thông ngày một tăng, nguy cơ hư hỏng rất lớn do kết cấu mặt đường hiện nay không còn khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác.

Vì sao chưa thu hồi được hơn 1.000 tỷ đồng vụ Vinashin?

Thu Thủy (BĐV) – Bản án vụ Vinashin tuyên tập thể, cá nhân phải bồi thường hơn 1.000 tỷ đồng nhưng hiện chưa thu được một xu nào.

Tổng cục Thi hành án (Bộ Tư pháp) vừa trả lại toàn bộ đơn cho các chủ thể được thi hành án và hơn 1.000 tỷ mà tập thể và các cá nhân của Vinashin phải bồi thường theo phán quyết của tòa án hiện không thu được đồng nào.

Thông tin trên được ông Phạm Anh Tuấn, Phó Ban Nội chính Trung ương cho biết tại hội nghị giao ban 6 tháng đầu năm với 11 ban nội chính tỉnh ủy, thành ủy khu vực đồng bằng Bắc bộ và Bắc miền Trung diễn ra hôm 24/7.

Báo cáo đánh giá tình hình phòng chống tham nhũng 6 tháng đầu năm cho thấy, công tác phòng chống tham nhũng vẫn còn một số hạn chế trong thanh tra, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

Theo Phó trưởng Ban Nội chính trung ương, mức độ thiệt hại của các vụ án tham nhũng lớn ngoài sức tưởng tượng. Giang Kim Đạt, chỉ là trưởng phòng nhưng tham ô quá dễ dàng gần 400 tỷ đồng. Hay việc mua bán ụ nổi trong vụ án Dương Chí Dũng, giá thực chỉ hơn 2 triệu USD nhưng đội giá lên hơn 9 triệu USD.

 Vi sao chua thu hoi duoc hon 1.000 ty dong vu Vinashin?
Phó trưởng ban Phạm Anh Tuấn cho biết Ban Nội chính
‘rất bức xúc’ trước việc thu hồi tài sản tham nhũng thấp

Cũng theo ông Phạm Anh Tuấn, bản án vụ Vinashin tuyên tập thể, cá nhân phải bồi thường hơn 1.000 tỷ đồng nhưng hiện chưa thu được một xu nào.

 Tổng cục thi hành án (Bộ Tư pháp) vừa trả lại một loạt đơn yêu cầu thi hành án của các cơ quan tổ chức cá nhân được thi hành án. Riêng cựu Chủ tịch Vinashin Phạm Thanh Bình phải bồi thường hơn 500 tỷ nhưng cũng chưa thu được một đồng nào.

“Nguyên nhân ở đâu? Hóa ra, trong suốt quá trình điều tra, truy tố xét xử, chúng ta tập trung cao độ vào việc chứng minh hành vi vi phạm nhưng quên kê biên tài sản của hành vi vi phạm, quên phong tỏa tài.

 Khi bản án có hiệu lực giao cho cơ quan thi hành án nhưng họ biết tài sản ở đâu mà thu hồi”, ông Tuấn phân tích.

Theo Phó trưởng Ban Nội chính trung ương, việc thu hồi tài sản tham nhũng, vi phạm rất thấp, và Ban Nội chính trung ương rất bức xúc về chuyện này.

Lãnh đạo Ban Nội chính cho rằng cá nhân ông hy vọng từ vụ việc thu hồi tài sản của Giang Kim Đạt, các cơ quan thực thi pháp luật khi tiến hành chứng minh hành vi vi phạm cũng đồng thời phong tỏa tài sản để làm cơ sở cho việc thu hồi tài sản sau khi bản án có hiệu lực.

Mới đây Bộ Công an vừa bắt Giang Kim Đạt (nguyên quyền Trưởng phòng Kinh doanh của Công ty TNHH MTV vận tải Viễn Dương Vinashin, thuộc Tập đoàn Vinashin) với cáo buộc chiếm đoạt gần 19 triệu USD và chuyển rất nhiều tiền tham ô, tham nhũng ra nước ngoài.

 Vi sao chua thu hoi duoc hon 1.000 ty dong vu Vinashin?
Ụ nổi trong vụ án của Dương Chí Dũng.

Bình luận về vụ việc này, ông Phạm Anh Tuấn nói: “Tôi hy vọng đây là tiền đề, là “phát súng” đột phá trong chuyện thu hồi tài sản tham nhũng, không phải chỉ trong phá án, tố tụng mà cả trong thanh tra. Trong kiểm tra Đảng cũng phải nghĩ đến chuyện thu hồi tài sản tham nhũng.

Có thể chúng ta không chứng minh được hành vi tham nhũng theo luật pháp đầy đủ, vì hành vi ẩn, nhưng cái thiệt hại hay có dấu hiệu chiếm đoạt thì có thể chứng minh được, phải tìm mọi cách thu hồi về.

Giang Kim Đạt ít tuổi thôi, cấp chỉ là Trưởng phòng, sống chìm như thế mà lại có thể dễ dàng tham nhũng, tham ô một khối tài sản quá lớn. Đây là điều không thể chấp nhận được. Nhưng tôi nghĩ đấy có lẽ chưa phải là duy nhất đâu”.

Chơi với Nhật, hãy bỏ thói xin – cho

Phạm Huyền (VNN) – Hàng Việt Nam xuất khẩu sang Nhật Bản tăng mạnh nhưng liên tục va vấp scandal về tiêu chuẩn chất lượng. Đã bước vào cuộc chơi là phải hòa nhập với các nước, điều kiện như thế nào thì Việt Nam phải chơi như vậy. Rào cản kỹ thuật không có cơ chế xin cho.

Câu chuyện làm ăn với doanh nghiệp Nhật được Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Việt Nam xới xáo, mổ xẻ để rút ra những bài học kinh nghiệm trong hội nhập kinh tế hiện nay.

Lỗi không hiểu tiêu chuẩn Nhật

Theo hiệp định VJEPA ký kết năm 2008 và có hiệu lực từ năm 2009, rất nhiều mặt hàng có thế mạnh của Việt Nam được giảm mạnh thuế suất như nông sản, thuỷ sản, dệt may,…

Tuy nhiên, “nhiều mặt hàng của Việt Nam xuất khẩu sang Nhật vẫn không thể được hưởng ưu đãi”, ông Hà Huy Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ hợp tác Quốc tế Bộ Tài chính, cho biết.

“Tiêu biểu là việc không đáp ứng tiêu chuẩn về kiểm dịch thực vật của Nhật. Ví dụ, gạo Việt Nam có năm xuất được sang Nhật, có năm không xuất được do phát hiện dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép”, ông Tùng cho hay.


Thị phần các mặt hàng Việt Nam xuất sang thị trường Nhật, số liệu năm 2014 (nguồn Bộ Công Thương)

Ông Nguyễn Sơn, Phó Chánh văn phòng Ban chỉ đạo liên ngành về hội nhập kinh tế, Bộ Công Thương, cũng cho hay: “Vừa qua, Nhật Bản đã yêu cầu kiểm tra tới 30% hoặc 100% lô hàng tôm từ Việt Nam xuất sang về dư lượng thuốc kháng sinh. Chúng ta có sang Nhật làm việc và đề nghị điều chỉnh lại nhưng phía bạn không đồng ý”.

Về những trường hợp này, ông Đỗ Văn Dũng, Chủ tịch Câu lạc bộ doanh nghiệp Việt Nam – Nhật Bản, góp ý: “Tôi là người vừa trực tiếp bán hàng Việt sang Nhật Bản, vừa mua hàng từ Nhật về bán. Với nước Nhật, không đơn thuần giảm thuế là xuất được hàng”.

“Muốn vào Nhật, doanh nghiệp phải chứng minh xuất xứ từng loại nguyên liệu, thời gian gia công, lương công nhân, đảm bảo độ tuổi công nhân trên 18 tuổi”, ông Dũng nói.

Ông ví dụ, ở lĩnh vực nông sản, toàn bộ quá trình từ cải tạo đất, trồng và chăm sóc cây,… đều phải có nguồn gốc xuất xứ và lý lịch rõ ràng, quy trình sạch thì trái cây đó mới được xuất khẩu vào Nhật”.

“Nhật Bản còn là nước sử dụng hàng rào thủ tục cực kỳ giỏi. Ví dụ, tiếng Nhật rất khó, doanh nghiệp phải hiểu và biết tiếng Nhật rành rọt. Đơn cử như con cá mòi Nhật gọi như thế nào thì phải nắm được, doanh nghiệp sử dụng ngôn ngữ Nhật không cẩn thận có thể bị cấm nhập khẩu”, ông dẫn chứng thêm.

Nhưng, trên thực tế, nhiều doanh nghiệp Việt Nam không hiểu được vấn đề này. Còn người Nhật, khi làm kinh tế họ luôn ý thức rằng không phải làm riêng cho mình mà cho đất nước.

Hàng rào kỹ thuật ngặt nghèo

Ông Tạ Đức Minh, Phó trưởng phòng Đông Bắc Á, Vụ thị trường châu Á – Thái Bình Dương, Bộ Công Thương, cho hay, sau khi ký kết hiệp định thương mại song phương, cơ hội cho doanh nghiệp Việt là rất lớn, bởi Nhật Bản đang trong xu hướng bỏ nhập hàng từ Trung Quốc chuyển sang nhập khẩu từ Việt Nam và các nước Đông Nam Á khác.


“Muốn đẩy mạnh hàng sang Nhật Bản, doanh nghiệp Việt cần đảm bảo
yêu cầu số một là vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Nhật

Cho đến nay, Nhật Bản là thị trường đem lại nhiều lợi ích cả về xuất khẩu và nhập khẩu cho Việt Nam. Nước này sử dụng nhiều loại quả thông dụng ở Việt Nam như chuối, dứa, chanh, bưởi, xoài, dưa hấu, đủ đủ, ổi, măng cục, sầu riêng,… các loại rau quả tươi như cải bắp, súp lơ, hành, bí đỏ, tỏi tây, cà rốt,… nhưng chủ yếu nhập của Phillipines, Đài Loan, Mỹ, Thái Lan, Hàn Quốc, Mexico.

Trong khi đó, Việt Nam chỉ xuất được sang Nhật số ít mặt hàng như đậu tương, rau chân vịt đông lạnh, khoai môn, hạt điều, chuối sấy khô,… với thị phần nhỏ. Thành công lớn nhất là các sản phẩm tôm, cua, mực đông lạnh,… nhưng đều bị kiểm soát gắt về về tồn dư thuốc kháng sinh.

“Muốn đẩy mạnh hàng sang Nhật Bản, doanh nghiệp Việt cần đảm bảo yêu cầu số một là vệ sinh an toàn thực phẩm theo quy định của Nhật”, ông Minh nói.

Trong khi đó, theo ông Sơn, “chúng ta không thể yêu cầu phía Nhật hạ thấp tiêu chuẩn kỹ thuật được”.

TS. Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, chia sẻ: “Đã bước vào cuộc chơi là phải hòa nhập với các nước, điều kiện như thế nào thì Việt Nam phải chơi như vậy”.

“Nhiều khi ta chỉ nhấn mạnh một vế là rào cản hạ xuống, mà không chú ý rào cản kỹ thuật các nước đang tăng lên ghê gớm. Và rào cản kỹ thuật không có cơ chế xin cho. Đây còn là câu chuyện văn hoá Nhật Bản”, ông Thiên nói.

Theo hiệp định VJEPA, Việt Nam cam kết loại bỏ thuế quan đối với 82% giá trị nhập khẩu từ Nhật Bản trong 16 năm và 69% giá trị nhập khẩu trong vòng 10 năm. Ngược lại, Nhật Bản cam kết loại bỏ thuế quan đối với gần 94% giá trị nhập khẩu từ Việt Nam trong 10 năm. Cũng trong thời gian này, khoảng 92% hàng hóa sẽ được miễn thuế khi vào thị trường của mỗi bên.

Nhật Bản cam kết cắt giảm thuế bình quân các mặt hàng nông sản từ 8,1% năm 2008 xuống 4,74% vào năm 2019, các sản phẩm công nghiệp từ 6,51% xuống 0,4%. Đặc biệt, tôm, cua, ghẹ và một số sản phẩm cá; dệt may sẽ được hưởng thuế suất 0% ngay khi Hiệp định có hiệu lực, tức năm 2009.

Năm 2014, Nhật Bản là thị trường xuất khẩu lớn thứ 3 của Việt Nam, sau Hoa Kỳ, Trung Quốc và là thị trường nhập khẩu lớn thứ ba. Nếu năm 2011, Việt Nam xuất siêu vào Nhật đạt 380 triệu USD thì sang năm 2012, con số này là 1,4 tỷ USD và các năm 2013 -2014 đều đạt trên 2 tỷ USD.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s

This site uses Akismet to reduce spam. Learn how your comment data is processed.