40 năm đã trôi qua, đảng CSVN vẫn còn sợ hãi bóng dáng của VNCH

Posted: August 17, 2015 in Uncategorized
Tags:

(HoangTran204) – Thay vì dùng chuyên gia lý luận của đảng tranh luận công khai vạch ra điểm sai trái từ những bài viết liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa của cô giáo Võ Thị Thanh Hải, công an còn đảng còn mình dùng “biện pháp nghiệp vụ” truyền thống để đàn áp sách nhiễu.

� Xem thêm: “Dân tộc gặt hái bất hạnh vì các ông quen thói dối trá” + Lạm bàn về Triết Lý Sống.

Dân LuậnVõ Thị Thanh Hải là giáo viên đang dạy trường tiểu học Nguyễn Văn Trỗi, quận 2. Vì yêu thích và đăng những bài viết liên quan đến chế độ Việt Nam Cộng Hòa mà cô đã bị công an quận 2 mời làm việc với lí do “trao đổi một số vấn đề về An ninh trật tự”. Bài viết dưới đây là lời cô giáo Thanh Hải thuật lại sự việc.

Cô giáo Võ Thị Thanh Hải.
Nguồn ảnh: FB Thanh Hai

FB Thanh Hai – Tôi là Võ Thị Thanh Hải hiện là giáo viên trường Tiểu học Nguyễn Văn Trỗi Q2. Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú tại 22/8 đường 31, phường Bình Trưng Tây Q2, Tp HCM.

Khoảng hơn 14h30′ ngày 17.07 2015, công an hộ tịch tên là Thanh đưa “giấy mời” tôi đúng 15h cùng ngày đến trụ sở Công an phường Bình Trưng Tây, Q2 ở số 197A Nguyễn Duy Trinh để “trao đổi một số vấn đề về An ninh trật tự”. “Giấy mời” chỉ ghi cộc lốc người làm việc với tôi sẽ là “ông Thân”, không kèm theo họ tên đầy đủ hay cấp bậc, chức vụ của ông này.

Về lý do bị mời, tôi đã thắc mắc tại sao tôi không làm điều gì gây mất trật tự an ninh, không phá làng phá xóm hay chửi bới gây lộn với ai mà bị công an mời đi làm việc về an ninh trật tự. Tôi yêu cầu công an hộ tịch – người đưa giấy mời- phải cho biết lý do chính đáng về buổi làm việc. Tôi cũng yêu cầu công an cần tuân thủ đúng quy định của pháp luật là phải gửi giấy mời trước 3 ngày chứ không thể tùy tiện gửi giấy mời và yêu cầu công dân đi làm việc cách nhau chưa đầy 30 phút như thế. Chính vì vậy tôi đã không đi lên phường làm việc.

Ba ngày sau, 20.07.2015 tôi lại nhận được “giấy mời” cũng từ tay công an hộ tịch tên Thanh, yêu cầu tôi đúng 15h ngày 23.07.2015 cũng đến địa điểm cũ để “bổ túc hồ sơ nhân khẩu” cũng do “ông Thân” đón tiếp. Đúng ngày giờ, tôi đến trụ sở Công an phường Bình Trưng Tây thì không phải ông Thân tiếp mà là ông Long, công an Quận 2 tiếp chuyện. Trong suốt buổi “làm việc”, ông Long không hề nói về vấn đề nhân khẩu như trong giấy mời đã thông báo mà lại chất vấn về các bài đăng trên facebook cá nhân của tôi.

Mở đầu buổi “làm việc”, ông Long đưa cho tôi một xấp giấy A4 in sẵn những bài viết đã đăng trên FB của tôi và hỏi: “Đây có phải là những bài viết của chị hay không?” Tôi xác nhận đó là những bài viết của tôi. Ông Long bắt tôi ký xác nhận vào các bài viết đó. Sau đó ông Long đã đặt ra rất nhiều câu hỏi và bắt tôi trả lời như: “Chị lấy những hình ảnh này ở đâu ra? Và chị đã chia sẻ với những ai? Lý do vì sao chị đăng lên như vậy khi chị đang sống dưới chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải là chế độ Việt Nam cộng hòa?”

Ông Long lý luận: “Chị nên hiểu cờ vàng 3 sọc đỏ là của chế độ VNCH đã sụp đổ, thất bại lâu rồi. Nó đã đi vào quá khứ…”. Và ông này cũng kết tội tôi: “Chị là một giáo viên sống ở chế độ XHCN cờ đỏ sao vàng chứ không phải cờ vàng 3 sọc đỏ. Chị là một giáo viên dạy các cháu “mầm non” (thực ra tôi dạy bậc tiểu học) cũng đang sống trong chế độ XHCN như thế là không được, không đúng. Nếu như thế chị sẽ làm sai lệch tư tưởng của các cháu.”

Tôi trả lời mặc dù tôi đăng các bài về VNCH nhưng khi lên lớp, tôi vẫn dạy theo đúng chương trình của Bộ Giáo dục, tôi vẫn truyền đạt đúng theo nội dung sách giáo khoa của nhà nước XHCN. Và tôi luôn dạy các em những điều tốt đẹp để sau này trở thành những con người có ích cho đất nước, cho xã hội.”

Ông Long yêu cầu tôi tháo gỡ các hình ảnh và các bài viết liên quan đến Việt Nam Cộng Hòa; bắt tôi cam kết không được viết tiếp những bài về VNCH nữa. Tôi không đồng ý vì tôi thấy mình không làm điều gì sai cả. Tôi tin rằng người dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm. Hiện nay, không có quy định nào của pháp luật cấm đưa lên Facebook cá nhân những hình ảnh liên quan đến lịch sử Việt Nam bất kể là thời nào, kể cả thời Việt Nam Cộng Hòa.

Sau buổi “làm việc” với công an tôi không được giữ một bản photo “làm việc” nào mặc dù trước khi “làm việc”, tôi đã yêu cầu và được phía công an chấp thuận. Họ lấy lý do máy Photocop bị hỏng, không thể sao ra một bản cho tôi giữ. Lẽ ra trước khi hứa để tôi giữ một bản, họ nên nói rõ với tôi về việc này. Khi tôi tự đi ra cửa hàng photo thì bị 3 người là công an Long, công an Khang và cô thư ký tên Dân yêu cầu chủ tiệm không photo văn bản cho tôi.


Cô giáo Võ Thị Thanh Hải

Mọi chuyện tưởng đã chấm dứt vì không thấy họ mời gọi gì nữa. Nhưng đến sáng ngày 10.08.2015 trong buổi họp Hội đồng Sư phạm đầu năm thì tôi được bộ 3 Ban giám hiệu thông báo là Trưởng phòng giáo dục vừa gọi điện yêu cầu Nhà trường không được phân lớp cho tôi, và tôi phải chờ quyết định của Phòng điều động tôi đi nơi khác.

Vào lúc 14 giờ 16 phút ngày 12 tháng 8, ông Hiệu trưởng Trần Văn Dàng gọi điện và hẹn tôi 7h30’sáng ngày 13.08.2015 có mặt tại Phòng Giáo dục quận 2 để họp trao đổi về nội dung điều động công tác. Trong buổi trao đổi, Trưởng phòng giáo dục đề nghị chuyển tôi về trường Bồi dưỡng thường xuyên (những giáo viên, cán bộ bị kỷ luật thường bị chuyển về đây) để phụ việc quản lý về chuyên môn của ngành. Tôi thắc mắc tại sao rất nhiều giáo viên không thuyên chuyển ai lại chọn ngay tôi? Tại sao không chuyển tôi đi trường khác vẫn là giáo viên dạy lớp lại về Trường BDTX làm công việc phụ quản lý về công tác chuyên môn? Sao không chọn những giáo viên trẻ năng nổ, xông sáo có nhiều năng lực hơn mà lại chuyển tôi?

Tôi có yêu cầu được giữ một bản sao nội dung làm việc nhưng ông Tùng, Trưởng phòng Giáo dục từ chối yêu cầu trên của tôi. Ông này hứa là sẽ chuyển văn bản này về Ủy ban Nhân dân quận 2. Tôi không hiểu vì sao tôi không được giữ văn bản làm việc liên quan đến mình mà lại phải chuyển về Ủy ban quận? Hơn nữa, ông Trưởng phòng Giáo dục còn “nhắn nhủ” với tôi mình làm cha mẹ cần chú ý làm những gì để không ảnh hưởng đến tương lai của con cái. Và tôi trả lời, tôi là người mẹ tuyệt vời, các con tôi luôn tự hào về mẹ của chúng. Tôi cũng luôn dạy các con tôi rằng, không được làm những điều trái với lương tâm và trách nhiệm của một con người.

Tôi biết, con đường phía trước của mình rất nhiều khó khăn thậm chí hiểm nguy. Xét thấy tôi không làm gì vi phạm pháp luật, không làm gì trái với đạo đức của một nhà giáo. Nhưng chỉ vì bày tỏ quan điểm một cách ôn hòa mà tôi bị trù dập, sách nhiễu. Bằng lương tâm và trách nhiệm của một nhà giáo chân chính, tôi tuyên bố sẽ không khuất phục và sẽ tham gia vào công cuộc tranh đấu cho nhân quyền và quyền lợi của học sinh nghèo.

Sài Gòn ngày 15 tháng 8 năm 2015.

“Dân tộc gặt hái bất hạnh vì các ông quen thói dối trá”

Thịnh Toàn (VNTB)“Các ông có thể đã rất quen với thói dối trá nhưng đừng để cả dân tộc này, đất nước này phải gặt hái một số phận bất hạnh từ tính cách đó của các ông!” – bà Nguyễn Thị Oanh trong một status phản ứng với ông Nguyễn Trùng Khánh, Cục trưởng Cục hợp tác quốc tế (Bộ VH-TT & DL) cùng với ông Trần Văn Tân (Tổng đại diện VN tại Expo Milan) trong vụ liên quan đến Expo Milan 2015.

Phẫn nộ căn bệnh thể chế

Sự phẫn nộ của bà Oanh liên quan đến cách trả lời của ông Cục trưởng Cục hợp tác quốc tế và ông Tổng đại diện VN tại Expo Milan về vấn đề liên quan đến công tác tổ chức gian hàng Việt Nam tại Expo Milan 2015 “sơ sài, đơn điệu và bất cập”, vấn đề là dù hai ông nằm trong ban tổ chức – tức đã nắm tình hình, tuy nhiên 2 ông đã thể hiện sự “vô cảm, vô trách nhiệm với đất nước” khi cho rằng, hình ảnh bà Oanh chụp được là hình ảnh đã cũ, đánh giá bà Oanh thiếu thiện chí trong phản ánh, quan điểm Expo là cơ hội cho tư nhân vào bán hàng thay vì quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam…

Dối trá của những người quan chức như ông Nguyễn Trùng Khánh hay cách ông Trần Văn Tân khỏa lấp sự thật chỉ là mảng rất nhỏ, rất nhỏ trong cái xã hội này. Khi mà lời hứa và việc làm đã không đi đôi với nhau, mà có xu hướng, trào lưu là nghịch chiều nhau. Hàng tá lý do để nhìn ra căn bệnh này, và đều đi đến một kết luận duy nhất, là khi sự thật không gây dựng và bảo vệ được thể chế, thì nó sẽ bị thể chế và con người thuộc về thể chế phủ nhận.

Vì thế, dối trá trở thành căn bệnh của xã hội này và là chứng nan y của giới lãnh đạo. Sự dối trá nó lấp liếm nhiều tác hại và ngụy biện về hành vi sai trái, đến nỗi, đã có thời kỳ, người ta tái lặp sự dối trá liên tục để trở thành “tuyên truyền”. Những hệ quả của sự dối trá được đút kết thành những kinh nghiệm mà người ta thường gọi tắt là “sai lầm, duy ý chí”.

Chủ trương sự dối trá

Người Việt Nam rất “may mắn” khi được chứng kiến hầu hết các thể loại “dối trá” từ trong xã hội cho đến hành vi ứng xử của lãnh đạo, và bậc cao nhất của sự dối trá được trang trí một cách tỉ mĩ và đầy tính chính trị tập thể, gọi nôm na là “chủ trương và sự cần thiết.”

Nếu sự dối trá của ông Tân, ông Khánh trong Expo Milan 2015 khiến cho Việt Nam đánh mất một phần cơ hội trong thu hút khách du lịch, thì dối trá qua ngôn từ “chủ trương” từng chút một rút cạn nguồn lực của xã hội.

Dối trá của lãnh đạo qua chủ trương phản chiếu sự vô tắc, vô trách từ trong bộ máy được bầu bán. Giống như câu chuyện đường ống nước Sông Đà vỡ lần thứ 13 kể từ khi đưa vào sử dụng từ năm 2012, , ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt của hơn 70.000 hộ dân,  và mỗi lần vỡ thì tiền tỷ lại được chi ra để sửa chữa. Ống sẽ vỡ đến 1x lần nữa, mặc cho các cơ quan lên tiếng trấn an, lãnh đạo lên tiếng chỉ đạo nghiêm khắc, những con tốt thí tiếp tục ra tòa nhưng những thông tin cần nhất nhằm cung cấp cho dân thì bị “ém”… và đến một lúc, người dân đến sẽ coi đó là chuyện “thường ngày” và nghiễm nhiên “trách nhiệm thuộc về toàn dân.”

Hệ quả “trách nhiệm” tập thể từ sự dối trá trong điều hành và chỉ đạo của giới lãnh đạo đã góp phần đưa nợ công của Việt Nam đứng thứ 12 trong nhóm rủi ro cao nhất thế giới theo bản đồ mới nhất vừa được ngân hàng Bank of America công bố. Tổng nợ công (nợ của Chính phủ, nợ do Chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương) đã tăng từ 54,5% GDP 2013 lên mức 59,6% năm 2014. Theo đó, mỗi người dân Việt Nam hiện đang “hưởng” hơn 1.200 USD nợ công.

Dối trá vẫn ngang nhiên tồn tại, nó bám chặt vào thể chế, dối trá cá nhân là sự cụ thể hóa dối trá thể chế, thể chế tác động ngược lại và tương hỗ cho cá nhân. Gần đây nhất, người dân Việt Nam tiếp tục được xem bản tin “thời sự hàng ngày” theo mô-tuýp như thế. Theo đó, mặc dù gặp nhiều sự phản đối nhưng bảo tàng Lịch sử Quốc gia được người đứng đầu chính phủ đánh giá đây là đầu tư “cần thiết và là chủ trương của Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm nay”. Và việc xây dựng là để xứng tầm với lịch sử ngàn năm dựng nước, giữ nước của dân tộc.

Những câu nói, quyết định, chỉ đạo đầy quen thuộc. Bởi người dân biết tỏng những dự án “cần thiết và là chủ trương” đến từ sự dối trá về “lợi ích” đã và đang đi đến đâu, lỗ và đang lỗ như thế nào.

Dối trá và khoảng trống thông tin

“Chủ trương và sự cần thiết” độc tôn về ngôn ngữ và ý nghĩa, độc tôn về quyền lực và vai trò, đỉnh cao của sự ngụy biện và dối trá. Nó tồn tại như một quy luật tất yếu và khách quan trong một xã hội chưa trưởng thành, một nền dân trí bị “u mê” bởi sự áp đặt lâu nay. Phê phán “chủ trương”, đánh thẳng vào sự dối trá đến cùng cực, đều đó đồng nghĩa với việc đánh đổi quyền lợi của chính người đang phê phán.

Gần đây, trong một bài viết liên quan đến mục “Chống diễn biến hòa bình” trên báo Nhân Dân, có trích dẫn chia sẻ của bạn Trần Thị Thúy, sinh viên Học viện Báo chí và Tuyên truyền, trong đó bạn cho rằng, mình “nhận rõ hơn những âm mưu, thủ đoạn thông tin mà các thế lực thù địch, phản động đang tiến hành trên internet. Quả thực, những âm mưu và thủ đoạn ấy vừa tinh vi, vừa trắng trợn…” trong đó, có “một thủ đoạn khác đang phát huy tác dụng là việc họ lợi dụng những “khoảng trống thông tin” để tấn công vào sự hiếu kỳ của công chúng.” Thực ra, khoảng trống thông tin mà cô sinh viên Học viện báo chí và Tuyên truyền nêu ra sẽ không có nếu báo chí chính thống có sự kịp thời khi bản thân giá trị quyền lực này được hưởng tự do hoạt động trong nghề nghiệp của mình mà không phải cần bị đặt lên chức vụ, công cụ cho ai đó nhằm bôi dầu, tra mỡ cho sự dối trá của lãnh đạo – cũng như chính cái tên trường mà cô đang học vậy. Và khoảng trống thông tin vẫn sẽ tồn tại, cho đến khi “tuyên bố” từ các quan chức không còn mang tính quyền lực áp đặt, để biến trắng thành đen, mà là sự đúng sai đến từ luật định; cũng như thay vì sự dối trá lẩn khuất sau cụm từ “chủ trương, quyết tâm” là sự rõ ràng, thẳng thắn, khoa học khi “chỉ đạo” bất kỳ vụ việc, hiện tượng nào nảy sinh ra trong xã hội.

Còn nếu không, dân tộc này vẫn sẽ tiếp tục “gặt hái” hệ quả từ những tuyên bố, hứa hẹn, quyết tâm dối trá nêu trên dưới bình phong đầy quyền uy, trịch trượng mang tên “lãnh đạo nhà nước”.

‘Điêu tàn’ không còn là từ ngữ ám chỉ bộ mặt đất nước trong thời kỳ chiến tranh nữa, mà nó hiện hữu ngay trong hòa bình. Bởi một khi “lãnh đạo” coi sự dối trá là điều bình thường, người dân coi sự dối trá của quan chức là hiển nhiên thì, “Một xã hội không có sự trung thực là một xã hội không an toàn, không lành mạnh và không thể sống.”, theo như quan điểm của Tiến sĩ Bùi Trân Phượng, Hiệu trưởng trường Đại học Hoa Sen.

Lạm bàn về Triết Lý Sống

FB Nguyễn Đình Cống(Basam) – Ngày 13 tháng 8 Bauxite đăng bài “Đi tìm Triết lý sống của dân Việt”, của Hữu Mạnh, trong loạt bài “Nói thật không sợ mất lòng ”. Tôi không phải chuyên gia trong lĩnh vực triết lý nên không dám bàn sâu, chỉ xin “lạm bàn” vài điều để trao đổi với tác giả và những ai quan tâm.

Về tổng thể tôi tán thành, ủng hộ bài viết, thấy được tác giả là “người vẫn nặng lòng với đất nước” (lời của Hữu Mạnh trong bài viết). Tuy vậy, theo tôi, tác giả còn né tránh, để trống hoặc chưa chặt chẽ trong một vài nhận định.

Tác giả viết, đại ý là trên thế giới, trong lịch sử nhân loại có nhiều Triết lý sống (TLS) khác nhau, có thể quy về 2 dạng chính là : sống vì nhân quần hay sống vì lợi ích riêng, vì cá nhân mình. (theo tôi sẽ là tốt hơn khi kết hợp hài hòa 2 TLS ở trên). Trên cơ sở phân tích đặc điểm của các TLS tác giả phân chia thành TLS tiến bộ, tích cực và TLS phản tiến bộ, tiêu cực.

Tác giả cho rằng ngoài các nhu cầu bình thường thì mọi người đều có nhu cầu quan trọng là tìm được TLS phù hợp. Thế rồi tác giả viết: “Hiện nay đa phần người Việt có chung một niềm day dứt khôn nguôi là: chưa tìm được triết lý sống mà chỉ có thủ đoạn sống thấp hèn”. Cuối cùng tác giả than thở “Tiếc thay và buồn thay, một dân tộc anh hùng, một đất nước có mấy ngàn năm văn hiến…, thế mà nay người dân chỉ sống và phải sống bằng các thủ đoạn sống, tức là cách sống thấp hèn”.

Về điều này tôi nghĩ hơi khác. Đúng là trong hơn nửa thế kỷ vừa qua một số người dân VN có đầu óc dân chủ, tự do gặp rất nhiều khó khăn khi tìm TLS trong hoàn cảnh đất nước xây dựng CNXH dưới sự lãnh đạo của ĐCS, nhưng đó chỉ là số ít (tôi ước tính chưa đến 5% dân số). Đa phần người Việt đã xác định được TLS phù hợp với bản chất của họ, phù hợp với hoàn cảnh xã hội họ đang sống, chỉ cần phân tích xem đó là TLS tích cực hay tiêu cực mà thôi. Các TLS của dân Việt hiện nay có thể chia làm 5 loại.

Loại 1- Là đa số quan chức của Đảng và Nhà nước ở các cấp các ngành, quyền lợi của họ gắn chặt với chế độ. TLS của họ là tích cực bảo vệ chế độ để lợi dụng quyền lực nhằm vinh thân phì gia, một số trong bọn họ trở thành những tư sản đỏ, làm giàu trên cơ sở chiếm đoạt tài nguyên quốc gia và liên kết chặt chẽ với số người giàu khác. Không ít kẻ thuộc loại “miệng nam mô, bụng bồ dao găm” hoặc “Bề ngoài thơn thớt nói cười. Mà trong nham hiểm giết người không dao – Kiều”

Loại 2- Là đa số trong tầng lớp nhà giàu mới nổi lên nhờ tài năng hoặc những sự may mắn nào đó. Đi theo họ, ăn theo họ là những người làm trong các tập đoàn kinh tế, các công ty trong nước và nước ngoài, có thu nhập khá. Loại này có TLS là lo kiếm được càng nhiều tiền càng tốt, không cần biết đến đời sống chung của toàn dân, không quan tâm đến hậu quả công việc, đấy là TLS “sống chết mặc bay, tiền này bỏ túi”. Một mặt họ có đóng góp tích cực cho xã hội, mặt khác, một số trong họ cũng nêu vài gương xấu, tiêu cực.

Loại 3- Những người tự cho là chân chính, một lòng theo Đảng làm CM, xây dựng CNXH, họ vui vẻ chấp nhận khó khăn gian khổ, mất tự do và dân chủ hiện tại (mà họ không thấy được) để hướng tới xã hội tốt đẹp mà Đảng hứa hẹn trong tương lai. Trước đây loại này chiếm đại đa số, bị phân hóa và thu hẹp dần, nay cũng chỉ còn thiếu số (ước tính chỉ dưới 15% của toàn dân), họ tự hào là đã theo ĐCS và có một TLS tiến bộ nhất thế giới (một nhầm lẫn quá tai hại). Một số đông cán bộ, nhân viên cấp thấp trong các cơ quan, đoàn thể được ghép vào loại này.

Loại 4- Tương đối đông, sống với triết lý “an phận thủ thường, mũ ni che tai”, lo sợ đủ thứ, chỉ mong kiếm đủ bát cơm và chỗ ngủ hàng ngày mà không bị bắt bớ, không bị quấy rầy, họ không cần đến tự do tư tưởng, tự do ngôn luận, không cần đến đời sống dân chủ, không cần lao động sáng tạo.

Loại 5- Một số ít có TLS mà họ cho là tích cực, đấu tranh cho tự do, dân chủ, bất chấp sự nguy hiểm cho bản thân và gia đình, nhưng họ lại bị loại 1 và 3 quy kết là phản động, được một số người này cảm phục, kính trọng và bị một số khác xa lánh. Các cán bộ, quan chức và nhà doanh nghiệp, đa số thuộc loại 1, 2 hoặc 3, tuy vậy cũng có một số không ít thuộc loại này.

Những người mà theo Hữu Mạnh day dứt không nguôi, chưa tìm được TLS phù hợp là vì họ gặp phải mâu thuẩn giữa cuộc sống thực tại và lý tưởng cao đẹp, họ không lý giải được nguyên nhân sâu xa dẫn tới sự dối trá tràn lan, sự xuống cấp về đạo đức, làm nhiều người trước đây rất tin vào chế độ và sự lãnh đạo, nay niềm tin đó đã bị mất hết.

Triết lý sống cũng như phong tục, tập quán không phải tự nhiên mà có. Tất cả đều bắt đầu bằng nhận thức, việc làm và chỉ đạo của một người hoặc vài người có vai trò, có ảnh hưởng trong địa phương, trong xã hội. Từ đó, bằng cách tự phát lan truyền, bằng sự tuyên truyền hoặc các chỉ thị mà phát triển rộng ra nhiều người, ra toàn xã hội. Trong mấy chục năm vừa qua, đối với dân Việt thì người có vai trò, có ảnh hưởng là đảng viên ĐCS từ cao xuống thấp.

Lời than của tác giả “Tiếc thay và buồn thay… cách sống thấp hèn” thật ai oán, não nùng. Tôi chỉ muốn bổ sung câu hỏi “Vì đâu nên nỗi”, hay ngữa mặt lên trời mà kêu “Xanh kia thăm thẳm từng trên. Vì ai gây dựng cho nên nỗi này” (Chinh phụ ngâm). Phải tìm cho đúng nguyên nhân gốc rễ thì may ra mới có được biện pháp hữu hiệu để chữa, còn chỉ mới thấy hiện tượng thì chỉ có thể ôm hận và than thở hoặc sửa chữa một cách vá víu.

Thực ra tác giả đã đề cập: “Một quốc gia luôn đề cao thái độ nhẫn nhịn, ươn hèn trước kẻ thù mạnh hơn mình thì làm sao mà tạo dựng cho người dân một TLS vừa Minh vừa Dũng được? Một đất nước luôn dung dưỡng bất công, tham nhũng, dối lừa, độc đoán chuyên quyền, luôn đề cao đồng tiền… thì đừng hy vọng mọi người dân đều có được TLS tiến bộ, cao đẹp!”. Riêng đoạn này tôi nghĩ tác giả đã né tránh, mới dám nhìn thẳng vào một phần sự thật. Xin đừng đổ lỗi cho quốc gia và đất nước. Quốc gia, đất nước không can dự gì vào việc này cả.

Phải thẳng thắn chỉ ra vai trò của những người lãnh đạo, mà cụ thể là của Đảng Cộng sản VN, một đảng theo Chủ nghĩa Mác lênin (CNML), chủ trương vô sản chuyên chính, đấu tranh giai cấp, tôn sùng vật chất, phản đối tâm linh, tuyên truyền dối trá, nặng về dùng mưu mô và đàn áp, nhẹ về lòng nhân ái, bao dung. Nhân đây xin phép được nhắc lại một kết luận mà tôi đã rút ra và công bố trong một số bài trước đấy: “Nguyên nhân gốc nhiều tệ nạn của xã hội VN hiện nay là sự kết hợp, sự cộng hưởng giữa một bên là phần yếu kém trong nền văn hóa dân tộc, một bên là những độc hại của CNML”. Tôi nghĩ đây cũng là nguyên nhân gốc của tệ nạn trong việc lựa chọn TLS của người Việt hiện tại. Chính vì ĐCSVN kiên trì CNML, giữ chặt sự độc quyền toàn trị, làm sinh ra một đội ngũ quan chức mà phần lớn yếu năng lực, kém đạo đức, thiếu gương mẫu, tham nhũng, mua quan bán tước và dối trá. Thì chính Hữu Mạnh cũng nhận xét về sự hư hỏng của lớp trẻ là do: “bắt chước các cha anh hư đốn nhưng lại có vai vế trong xã hội”.

Tác giả rất quan tâm đến lớp trẻ, nhận xét là họ đang bị hư hỏng vì thiếu TLS, phải được trang bị kỹ năng sống. Tác giả viết: “Chúng ta không thể trách chê một chiều thế hệ trẻ ngày nay, mà ngược lại, chúng ta cần phải dang tay nâng các em lên, chỉ cho các em điều hay lẽ phải, bằng những phương thức giáo dục thích hợp”. Vấn đề này tôi chỉ đồng ý với tác giả khoảng trên 50%, còn nữa xin bàn thêm.

Đúng là một bộ phận lớp trẻ đang có phần hư hỏng (chỉ một bộ phận thôi chứ không phải số đông), nhưng lớp già hư hỏng nhiều hơn. (xin nhắc lại câu: lớp trẻ bắt chước các cha anh hư đốn nhưng lại có vai vế trong xã hội). Có phải một phần lớp trẻ TỰ HƯ HỎNG hay có cái gì đấy, có ai đấy làm cho họ trở nên hư hỏng. Ai phải chịu trách nhiệm chính về việc này. Về điều này tác giả cũng đã viết: “Xã hội nhiễu nhương, tha hóa về các giá trị văn hóa tinh thần, xuống cấp nghiêm trọng về đạo đức… thì rất khó để các em có thể trở thành “Hoa Sen giữa bùn lầy”. Mà trong lúc chỉ có một phần nhỏ bị hư hỏng trong một vài cách xử sự còn phần lớn lớp trẻ vẫn là lực lượng tích cực trong nhiều công việc.

Tác giả cho rằng: “Chúng ta cần phải dang tay nâng các em lên, chỉ cho các em điều hay lẽ phải…”. Tôi nghĩ bản thân tác giả có thể làm điều đó, tôi và một số người lớn khác cũng có thể làm điều đó nhưng CHÚNG TA thì chưa chắc đã làm được. Chúng ta là ai, phải chăng là thế hệ người lớn, là ông bà, cha mẹ, chú bác v.v…, trong đó có nhiều người hư đốn lại có vai vế trong xã hội. Ngươi đang ốm yếu, lấy sức đâu mà nâng người khác, ngươi đang hư đốn lấy gì để chỉ cho người khác điều hay lẽ phải. Nếu người đang thực sự hư đốn mà lại rao giảng điều hay lẽ phải cho người khác thì đó là sự dối trá, bịp bợm, ai mà nghe được.

Như vậy thì chúng ta, những người lớn phải tự hoàn thiện mình để làm gương trước đã. Khi người lớn đã thực sự gương mẫu thì thế hệ trẻ sẽ theo đó mà tốt lên. Mà người lớn cần làm gương trước hết là những nhà lãnh đạo đất nước ở các cấp, lãnh đạo các đoàn thể, các thầy cô trong trường, các ông bà, cha mẹ, anh chị trong gia đình.

Để tạọ cơ sở cho việc làm gương này thì về chính trị phải xây dựng một thể chế thật sự dân chủ để dân bầu ra được những người lãnh đạo có phẩm chất, phải thi hành chế độ Tam quyền phân lập, như vậy những người có chức quyền mới làm gương sáng được. Còn nếu quan chức đạt được quyền lực bằng mưu chước gian dối, bằng thế lực hoặc tiền tài trong một chế độ độc quyền toàn trị thì phần lớn họ chỉ có thể nêu gương đen tối, nêu gương xấu xa, bẩn thỉu mà thôi.

Xin cám ơn tác giả Hữu Mạnh đã viết bài, do đó tôi có dịp bày tỏ vài ý kiến lạm bàn. Cũng còn một vài điều nữa có thể bàn thêm, nếu có dịp sẽ xin trao đổi riêng với tác giả.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s