World Bank: Điều không bình thường của kinh tế Việt Nam

Posted: August 27, 2015 in Uncategorized
Tags:

Phương Nguyên (BĐV) – Quá nhiều doanh nghiệp nhỏ là một trong những thách thức lớn đối với hội nhập kinh tế của Việt Nam.

� Xem thêm: Một năm chi vài nghìn tỷ để… lập quy hoạch + Việt Nam vô địch về đàm phán hội nhập + Giá xăng dầu neo cao tác động xấu tới doanh nghiệp + Xăng nhập chưa đến 9000 đồng, bán gấp đôi: Vẫn hiểu được.


Diễn đàn kinh tế mùa thu 2015 thu hút sự quan tâm của nhiều chuyên gia hàng đầu về kinh tế

Đây là đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Diễn đàn kinh tế mùa thu 2015 với chủ đề: “Kinh tế Việt Nam: hội nhập và phát triển bền vững”, đang diễn ra trong ngày 27/8 tại Thanh Hóa.

Diễn đàn Kinh tế Mùa thu do Ủy ban Kinh tế, Ủy ban Đối ngoại của Quốc hội, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam đồng tổ chức.

Ông Sandeep Mahajan, Chuyên gia Kinh tế trưởng của WB nêu một thực tế ở Việt Nam có 94% là doanh nghiệp nhỏ (có chưa đến 50 lao động), nên rất khó tận dụng được các cơ hội từ hội nhập. Tuy nhiên, vấn đề còn phức tạp hơn khi ngay cả các doanh nghiệp lớn (có trên 300 lao động) có hiệu suất kinh doanh còn thấp hơn so với các doanh nghiệp nhỏ.

Theo ông Sandeep Mahajan, điều đó là không bình thường so với quy luật chung về hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp trên thế giới.

Các doanh nghiệp lớn trên thế giới có nhiều nguồn lực để tận dụng tốt hơn các cơ hội kinh doanh, nên thường họ có hiệu suất kinh doanh cao hơn so với doanh nghiệp nhỏ. Thế nhưng doanh nghiệp lớn ở Việt Nam lại đi ngược lại quy luật này.

Từ nhìn nhận của WB, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) Nguyễn Đình Cung tỏ ý không đồng tình.

Ông Cung cho rằng, lâu nay nói hội nhập thì hay phê phán là doanh nghiệp không tích cực chuẩn bị rồi rất yếu trong cạnh tranh.

Theo TS Nguyễn Đình Cung, nói như vậy, có thể đúng nhưng hoàn toàn chưa đủ. Bởi doanh nghiệp Việt Nam “như đang đi trên cái cầu khỉ, trên lưng bị đè nặng bởi khối đá đó là chi phí, họ cúi đầu dò dẫm từng bước một để sao cho khỏi rơi xuống sông nên không thể nhìn xa đến bên ngoài được”.

Nhấn mạnh vấn đề nền tảng  của hội nhập là nhà nước, ông Cung nhấn giọng “nói không ngoa là toàn bộ hệ thống của ta không chú ý đến hội nhập”.

Chứng minh cho nhận định này, ông Cung nêu thực tế Nhà nước vẫn giữ nguyên như 30 năm trước, vẫn tư duy quản lý là đứng bề trên để quản lý doanh nghiệp, đặt ra bao nhiêu rào cản chứ không đồng hành với doanh nghiệp.

“Bộ máy của ta nghiện quản lý, nghiện ra lệnh, nên cơ cấu tổ chức không thay đổi nên năng lực quản lý không thay đổi, không phải doanh nghiệp mà là nhà nước đang cản trở hội nhập”, ông Cung nhấn mạnh.

Theo Viện trưởng CIEM thì cải cách lần hai phải nhiều hơn ở phía nhà nước chứ không ở phía thị trường, làm sao để Nhà nước không làm méo mó thị trường.

 Không nên phê phán doanh nghiệp mà trong tâm là phải thay đổi thể chế và bộ máy nhà nước phải thay đổi”, ông Cung nói thằng.

[:-/] Một năm chi vài nghìn tỷ để… lập quy hoạch (VNN) – Riêng theo kế hoạch lập quy hoạch năm 2012 do các Bộ, ngành và địa phương đề xuất thì ngân sách cần phải chi tới 5.140 tỷ đồng cho 2.604 dự án quy hoạch.

LTS: Từ trận lũ ở khu mỏ Quảng Ninh, đến việc xây dựng một dự án mới, triển khai chính sách kinh tế – phát triển… đều động đến một vấn đề đang và sẽ còn tồn tại: quy hoạch. Xuất phát từ những hạn chế, yếu kém về công tác quy hoạch, Bộ Kế hoạch và đầu tư đã soạn thảo và đưa ra lấy ý kiến dự thảo Luật quy hoạch. Tuần Việt Nam giới thiệu góc nhìn của GS-TS Đặng Hùng Võ về vấn đề này.


Quy hoạch dự án đường sắt trên cao ở Hà Nội. Ảnh: KTĐT

Trong kinh tế bao cấp, quy hoạch – kế hoạch là công cụ để điều khiển các hoạt động kinh tế – xã hội của đất nước. Cái gì có trong quy hoạch, kế hoạch mới được làm và các cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước có quyền lực trong dàn dựng kế hoạch hóa. Các nhà kinh tế học gọi đây là nền kinh tế có điều khiển.

Ngược lại, kinh tế thị trường là nền kinh tế tự điều chỉnh theo các quy luật của thị trường, kế hoạch hóa không còn đóng vai trò điều khiển nền kinh tế nữa và vai trò của quy hoạch cũng đã thay đổi. Nhà nước chỉ quy hoạch những yếu tố có tác động chung tới toàn xã hội như sử dụng các nguồn lực công, phát triển hạ tầng và dịch vụ công.

Lúc đó, quy hoạch được hiểu theo nghĩa xây dựng kịch bản sử dụng không gian lãnh thổ sao cho hiệu quả và bền vững nhất. Xây dựng quy hoạch cần có sự tham gia của tất cả các bên có quyền và lợi ích liên quan, trong đó nhân dân là yếu tố tham gia quan trọng nhất. Nói cách khác, vai trò của quy hoạch – kế hoạch đã thay đổi hoàn toàn khi chuyển đổi cơ chế kinh tế từ bao cấp sang thị trường.

Từ năm 1991, Nhà nước Việt Nam đã quyết định xóa bỏ kinh tế bao cấp và áp dụng cơ chế kinh tế thị trường. Một số thể chế kinh tế đã thay đổi phục vụ cho sự phát triển của cơ chế thị trường, nhưng tư duy bao cấp vẫn còn tồn dư khá nặng nề trong bộ máy quản lý, nhất là trong quản lý quy hoạch – kế hoạch. Theo thói quen quản lý hiện nay, dự án hay công trình nào đã đưa được vào quy hoạch, kế hoạch thì mới được duyệt, được cấp vốn từ ngân sách. Thế là quy hoạch nở rộ, chồng chéo, thiếu tính hệ thống, thiếu nhất quán giữa các cấp, các ngành. (…)

Việt Nam vô địch về đàm phán hội nhập

Kỳ Duyên (VNE) – Các chuyên gia đều nêu lên thực tế này tại Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu sáng nay, nhưng không phải để khen ngợi, hoan hỉ.

Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu 2015 khai mạc sáng nay tại Thanh Hoá, thoạt tưởng sẽ nhạt nhoà vì chủ đề quá vĩ mô, chung chung – “Kinh tế Việt Nam – Hội nhập và Phát triển”, thay vì bàn về những vấn đề cụ thể của thời sự kinh tế như thường lệ. Kịch bản ban đầu cũng được dự báo kém hấp dẫn, khi chủ toạ chương trình – Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội Nguyễn Văn Giàu – định bố trí để lãnh đạo các bộ ngành và doanh nghiệp đối thoại.

Tiến sĩ Lưu Bích Hồ, từng tham gia nhiều kỳ diễn đàn kinh tế, phải đứng lên chê bài phát biểu đề dẫn của đại diện Bộ Công Thương về hội nhập kinh tế quốc tế không có gì mới mẻ, cụ thể trong khi nhiều vấn đề thời sự kinh tế quốc tế không được đề cập. Ông đề nghị chủ toạ phải cân đối, dành thêm thời gian cho các chuyên gia tham kiến.


Diễn đàn Kinh tế Mùa thu ghi nhận nhiều ý kiến thẳng thắn của các chuyên gia. Ảnh: Chí Hiếu

Không khí diễn đàn thực sự nóng lên, nhưng không chỉ vì lời phát biểu thẳng thắn của vị chuyên gia lão niên. 9 đại biểu tham gia ý kiến sau đó đã cùng nhau phân tích về thực tế đầy mâu thuẫn là trong khi Việt Nam đang tăng tốc đàm phán, ký kết các hiệp định hợp tác quốc tế thì trong nước lại thiếu quan tâm, thiếu chuẩn bị để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức mà hội nhập mang lại.

Sau hiệp định thương mại song phương với Mỹ (BTA), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), đến nay Việt Nam đã ký tổng cộng 15 hiệp định thương mại tự do (FTA) – một kỳ tích đứng đầu ASEAN và cũng thuộc loại dẫn đầu thế giới theo giáo sư Võ Đại Lược – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương.

“Một cường quốc như Trung Quốc mới ký 15 FTA. Nhỏ như chúng ta cũng đạt chừng ấy. Điều đó cho thấy vấn đề, trong khi chúng ta hội nhập quốc tế rộng như vậy, sâu như vậy thì khả năng cạnh tranh của nền kinh tế không theo kịp”, giáo sư Lược quan ngại.

Theo ông, hội nhập cần đi liền với đổi mới, nhưng Việt Nam quá chú trọng tới ký kết hiệp định mà chậm trễ đổi mới từ bên trong. Hội nhập khiến hàng rào thuế quan xuống gần như bằng 0, ông cho rằng cả đất nước chứ không riêng doanh nghiệp phải đối diện với áp lực cạnh tranh toàn cầu.

“Để cạnh tranh không chỉ phụ thuộc vào nỗ lực của doanh nghiệp, mà phải xác định cạnh tranh về thể chế, về điều hành ở cấp quốc gia. Chúng ta đang lo giảm thời gian làm thủ tục hải quan, nhưng đó là chuyện nhỏ. Cái đột phá lớn hơn là cải cách về thể chế thì giờ này chưa làm được bao nhiêu”, ông nói.

Vị chuyên gia cũng chỉ ra hàng loạt bất cập trong chính sách tiền tệ, quản lý vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) và vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) để cho thấy nội tại nền kinh tế Việt Nam chưa đồng điệu với tốc độ hội nhập quốc tế. Theo ông, doanh nghiệp Việt Nam khó có thể cạnh tranh khi vẫn phải vay vốn với lãi suất lên tới 10% một năm trong khi thế giới chỉ cho vay 3%. Trong khi các nước đang đẩy mạnh phá giá nội tệ để hỗ trợ nền kinh tế thì Việt Nam lại dè dặt.

“Các nước đua nhau phá giá thì đồng tiền của chúng ta về cơ bản lại ổn định. Chúng ta ổn định trong khi các nước không ổn định thì có thể gây tổn thương cho sản xuất, cho cả nền kinh tế chứ không chỉ xuất khẩu. Khi hàng rào thuế quan vì hội nhập phải giảm xuống thì hàng rào tỷ giá cần phát huy vai trò bảo vệ nền kinh tế trong nước”, ông phân tích.

Doanh nghiệp hội nhập như đi trên cầu khỉ

Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung cũng cho rằng nguyên nhân chậm đổi mới, chậm cải cách không nằm ở doanh nghiệp mà xuất phát từ nền tảng nhà nước.

“Doanh nghiệp Việt Nam khi hội nhập giống như đi trên cầu khỉ chênh vênh mà trên lưng bị đè nặng bởi một khối đá – chính là gánh nặng chi phí. Họ cứ cố gắng cúi đầu dò dẫm từng bước để khỏi trượt chân rơi xuống sông, chứ không thể nhìn xa để vươn tới thị trường trường nước ngoài”, ông ví von để phản bác lại những chỉ trích lâu nay rằng doanh nghiệp Việt Nam kém cạnh tranh, không chủ động, không tích cực chuẩn bị cho hội nhập.

Ông cũng chua xót chỉ ra thực tế hội nhập đang được xem là chuyện của các nhà đàm phán chứ chưa phải mối quan tâm hàng đầu và bức thiết của cả hệ thống. Chính vì thế mà thể chế nhà nước 30 năm qua kể từ ngày bắt đầu công cuộc đổi mới vẫn chưa thay đổi nhiều. “Chúng ta vẫn giữ tư duy quản lý nhà nước theo kiểu bề trên, đứng trên doanh nghiệp để quản lý, để kiểm soát chứ không đồng hành với doanh nghiệp, là đối tác hỗ trợ doanh nghiệp đi kinh doanh. Tôi có cảm giác là bộ máy của chúng ta nghiện quản lý, nghiện ra lệnh”, ông bức xúc.

Theo ông, trọng tâm của cải cách lần hai phải là nhằm vào phía nhà nước, với mục tiêu nhà nước phải hỗ trợ thị trường, không làm cho thị trường méo mó.

4 chữ thường xuyên được nhắc tới trong yêu cầu hội nhập của Việt Nam đó là chủ động và tích cực. Tuy nhiên, chuyên gia Lê Đăng Doanh chỉ ra rằng dường như đang có sự hiểu chưa đúng về khái niệm chủ động hội nhập. Theo ông, kinh tế học phân biệt hai loại hình hội nhập là chủ động và thụ động. Những nền kinh tế có lợi thế cạnh tranh về khoa học công nghệ và sức mạnh doanh nghiệp thường chủ động hội nhập để tranh thủ cơ hội từ bên ngoài giúp trong nước phát triển hơn. Còn nền kinh tế hội nhập thụ động lại chủ yếu dựa vào lao động giá rẻ, tài nguyên thiên nhiên và các ưu đãi hơn mức bình thường để thu hút vốn đầu tư nước ngoài.

“Chúng ta rất chủ động, rất tích cực đàm phán. Nhưng khi đàm phán chúng ta vẫn nhận mình là chậm phát triển đấy thôi. Chúng ta chủ động, tích cực hội nhập với xuất phát điểm yếu chứ không mạnh về cạnh tranh. Chúng ta cứ chăm chăm đàm phán để bảo vệ ở biên giới, còn các công cụ, các rào cản kỹ thuật để bảo vệ bên trong thì chúng ta không làm”, ông cảnh báo.

Diễn đàn sáng nay thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia kỳ cựu về hội nhập, trong đó có nguyên Bộ trưởng Thương mại Trương Đình Tuyển – người từng dẫn dắt đàm phán thành công BTA, WTO. Nhắc lại 3 yêu cầu quan trọng trong tiến trình hội nhập của Việt Nam là cải cách thể chế, dân chủ hoá đời sống xã hội gắn liền với nhà nước pháp quyền và hợp tác quốc tế, ông cũng cho rằng trong khi hội nhập rất nhanh thì 2 nhiệm vụ còn lại triển khai rất chậm vì vậy đã không tận dụng được cơ hội và vượt qua thách thức mà hội nhập mang tới.

“Chúng ta đứng đầu ASEAN và không thua bất cứ nước nào trên thế giới về tốc độ đàm phán, ký kết các hiệp định. Hầu hết các hiệp định này đều đòi hỏi mức độ hội nhập rất cao nhưng trong nước chúng ta chưa chuẩn bị đồng bộ”, ông nhấn mạnh.

Ông dẫn lại các số liệu nghiên cứu mới đây cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam không biết, không quan tâm và không nghĩ tới những ảnh hưởng khi Cộng đồng Kinh tế ASEAN đi vào hoạt động từ đầu năm tới, cho phép xoá bỏ các hàng rào thuế quan để hàng hoá, dịch vụ và vốn đầu tư được dịch chuyển tự do trong khu vực. Nhưng điều ông lo hơn cả, đó là bản thân các quan chức nhà nước, bộ ngành cũng rất “lơ mơ” về sự kiện này, vì thế cũng không giúp được doanh nghiệp.

“Các quốc gia chỉ giàu lên khi có một thể chế tốt. Philippines những năm 1970 là nước phát triển nhất ở khu vực. Nhưng do thể chế kinh tế yếu kém, họ đã tụt hậu dần và giờ chỉ đứng trên Việt Nam một chút”, ông nói.

Liên quan tới yêu cầu cải cách thể chế, Viện phó Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành đặc biệt quan tâm tới vấn đề con người, mà cụ thể ở đây là công chức, những người hằng ngày đang thực thi công việc quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp.

“Điều tôi đặc biệt lo ngại khi hội nhập không phải là doanh nghiệp. Vì doanh nghiệp nếu không cạnh tranh được thì chết. Nhưng 100.000 doanh nghiệp hôm nay chết, ngày mai sẽ có 200.000 doanh nghiệp khác mọc lên. Mà tôi lo ở con người”, ông nói.

Theo ông, muốn chủ động hội nhập thì không chỉ đi theo các luật chơi và đàm phán dựa trên luật chơi các nước đã đặt ra, mà đã đến lúc Việt Nam phải bắt tay vào việc xây dựng luật chơi, phải đưa được người Việt tham gia vào các tổ chức quốc tế để cùng thiết lập ra sân chơi mới.

“Mấy ngày nay người ta chỉ hỏi tôi 2 vấn đề, tỷ giá và lãnh đạo đất nước sắp tới là ai. Chẳng ai hỏi tôi về hội nhập cả. Thực sự tôi lấy làm cảm kích vì Diễn đàn Kinh tế Mùa Thu đã chọn hội nhập, để mọi người cùng bàn thảo về một vấn đề vô cùng bức thiết nhưng không phải ai cũng biết và quan tâm”, Viện phó Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành nói.

Diễn đàn kinh tế được Ủy ban Kinh tế Quốc hội phối hợp với các cơ quan tổ chức mỗi năm hai lần, vào mùa xuân và thu. Khác với thông lệ, Diễn đàn Mùa thu 2015 chỉ diễn ra một ngày và phần lớn thời gian dành cho các ý kiến trao đổi trực tiếp, thay vì nhiều tham luận và kéo dài tới 2 ngày.

[:-/] Giá xăng dầu neo cao tác động xấu tới doanh nghiệp (TP) – Chuyên gia kinh tế Lê Đăng Doanh cho rằng, việc giá dầu thô liên tiếp giảm sâu, trong khi giá xăng dầu trong nước vẫn neo cao sẽ tác động xấu tới cộng đồng doanh nghiệp trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng khốc liệt.


Doanh nghiệp chịu chi phí sản xuất cao vì giá xăng giảm chậm. Ảnh: Hồng Vĩnh

Vị chuyên gia này đánh giá: “Trong bối cảnh đất nước đang thực hiện hàng loạt các hiệp định thương mại với nhiều đối tác nước ngoài, giá xăng dầu neo cao làm chi phí của doanh nghiệp Việt Nam cao hơn nhiều so với đối thủ ở các nước ngay trong khu vực ASEAN. Vì thế, hàng hóa sẽ khó cạnh tranh được ngay cả trên sân nhà”, ông Doanh nhìn nhận…

Theo Bộ Công Thương, hiện thuế nhập khẩu áp dụng với mặt hàng xăng, dầu diesel, dầu hỏa và mazut lần lượt ở mức 20%, 10%, 13% và 10%. Thuế tiêu thụ đặc biệt 10% với mặt hàng xăng. Thuế bảo vệ môi trường với xăng là 3.000 đồng/lít, dầu diesel 1.500 đồng/lít, dầu hỏa 300 đồng/lít, dầu mazut 900 đồng/kg.

[:-/] Xăng nhập chưa đến 9000 đồng, bán gấp đôi: Vẫn hiểu được (BĐV) – Giá dầu thế giới tiếp tục lao dốc xuống còn 40 USD/thùng, kéo theo giá xăng nhập khẩu giảm mạnh, chưa đầy 9000 đồng/lít.

Xang nhap chua den 9000 dong, ban gap doi: Van hieu duoc
Giá xăng trong nước đang bán đắt gấp đôi

Kết thúc phiên giao dịch ngày 21/8, giá dầu ngọt nhẹ WTI của Mỹ giảm 1,8 USD (giảm 4,3%) xuống 40,7 USD/thùng, thấp nhất kể từ tháng 3/2009. Giá dầu Brent giảm 1,65 USD (giảm 3,4%) xuống 47,16 USD/thùng, thấp nhất kể từ tháng 1 năm nay.

Theo tính toán của tờ Người Lao Động, với giá dầu giảm mạnh, hiện giá xăng A92 nhập từ Singapore chỉ còn khoảng 62,76 USD/thùng, tương đương 8.858 đồng/lít. Trong khi đó, giá xăng trong nước dù đã được điều chỉnh 6 lần giảm (giá xăng RON 92 bình quân giảm khoảng 3.600 đồng/lít so với giá xăng xuối năm 2014) thì hiện nay người tiêu dùng vẫn đang phải mua với giá gấp đôi tương đương 18.536 đồng/lít.

Theo công bố của các cơ quan quản lý, một lít xăng RON 92 về Việt Nam phải chịu thuế nhập khẩu (18%), thuế tiêu thụ đặc biệt (10%), thuế bảo vệ môi trường (1.000 đồng), thuế giá trị gia tăng (10%), tương đương 8.244 đồng. Ngoài ra, mức chiết khấu cho các đại lý xăng dầu hiện tại là trên dưới 1.000 đồng/lít.

Thực tế đã ghi nhận từ đầu năm rất nhiều lần giá xăng dầu thế giới giảm sâu nhưng giá xăng trong nước đứng im hoặc giảm nhỏ giọt, còn các doanh nghiệp xăng dầu đầu mối đều liên tiếp tăng chiết khấu cho đại lý, đạt tới mức trên dưới 1000 đồng/lít. Mới đây, một đại lý bán lẻ còn tiết lộ mức chiết khấu có thể còn cao hơn nữa, lên tới 1.500 đồng/lít dù theo qui định của Bộ Tài chính thì mức chiết khấu cho các DN kinh doanh xăng dầu là khoảng 600 đồng. Đó chính là lý do giá xăng hiện tại gần gấp đôi giá nhập.

…TS Lê Đăng Doanh thẳng thắn, lãi này là ăn lẹm vào túi tiền người tiêu dùng và cơ chế điều hành giá ở đây cũng phải xem lại.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s