Việt Nam và những “tụt hậu” vài chục năm so với khu vực

Posted: September 1, 2015 in Uncategorized
Tags:

Mạnh Nguyễn/Bizlive (NĐT) – Lần đầu tiên, sự tụt hậu được công bố một cách chính thức bởi cơ quan của Chính phủ – đó là Tổng cục Thống kê Việt Nam.

� Xem thêm: Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi + Tụt hậu so với láng giềng: Việt Nam chỉ còn cách tăng năng suất lao động + Hệ thống tuyển chọn lãnh đạo CSVN tiếp tục tụt hậu.

Nguy cơ Việt Nam đang tụt hậu trở thành chủ đề nóng tại hội thảo về “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-3035” do Bộ Kế hoạch và đầu tư tổ chức tại Hà Nội mới đây.

Tuy nhiên, phát biểu đáng chú ý của TS.Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam tại hội thảo lại cho rằng: Không nên nói nguy cơ tụt hậu vì chúng ta đã tụt hậu rồi. Thậm chí một số lĩnh vực tụt hậu xa. Phải tuyên bố rằng vấn để tụt hậu là rất gay gắt và đặt trong bối cảnh hội nhập thì nó sẽ còn nguy hiểm cỡ nào”.

Thực tế, khi điểm lại báo cáo của Tổng cục Thống kê về thực trạng kinh tế  – xã hội Việt Nam vừa được công bố có thể thấy, Việt Nam đang với thụt lùi so với các nước trong khu vực tới cả vài chục năm về thu nhập bình quân đầu người, năng suất lao động…

Ở nhiều chỉ số kinh tế – xã hội khác, Việt Nam cũng xếp hạng rất thấp so với các nước trong khu vực như chỉ số năng lực cạnh trạnh nền kinh tế; giá trị vốn hóa thị trường cổ phiếu, chỉ số giáo dục, việc làm…

Cụ thể, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.

Theo tính toán, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2014 chỉ bằng 3/5 của Indonesia, 2/5 của Thái Lan; 1/5 của Malaysia; 1/4 của Hàn Quốc và bằng 1/27 mức GDP bình quân của Singapore.

thong ke

Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, đến năm 2038, Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philippines, và đến năm 2069 mới bắt kịp của Thái Lan.

Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2014 theo giá hiện hành đạt 74,7 triệu đồng/lao động (tương đương khoảng 3.530 USD/lao động), tăng 4,9% so với năm 2013; bình quân giai đoạn 2005-2014 tăng 3,7%/năm.

Cùng với quá trình phát triển kinh tế, năng suất lao động của Việt Nam những năm qua đã cải thiện đáng kể, khoảng cách tương đối so với các nước ASEAN được thu hẹp dần.

Tuy nhiên, khoảng cách tuyệt đối tính bằng chênh lệch giữa năng suất lao động của Việt Nam với hầu hết các nước ASEAN lại đang gia tăng. Chênh lệch giữa NSLĐ của Singapore và Việt Nam tăng từ 62.052 USD năm 1994 lên 92.632 USD năm 2013; tương tự, so với Malaysia, chênh lệch tăng từ 21.142 USD lên 30.311 USD…

thong ke 1

Xếp hạng về môi trường kinh doanh, Việt Nam hiện giữ vị trí thứ 99/189 quốc gia và vùng lãnh thổ, đây cũng là vị trí thấp nhất của Việt Nam kể từ 2006 (Năm 2006 xếp thứ 104).

So với các nước trong khu vực, Việt Nam đứng sau Singapore (vị trí số 1), Malaysia (6), Hàn Quốc (7), Thái Lan (18)…

thong ke 2

Cũng theo cơ quan thống kê, mặc dù đã đạt được những thành tựu nhất định, nhưng trình độ khoa học công nghệ của Việt Nam vẫn thấp so với các nước trong khu vực.

Tổng chi quốc gia cho nghiên cứu phát triển cũng ở mức thấp so với khu vực và thế giới. Tỷ lệ chi cho nghiên cứu phát triển/GDP của Việt Nam năm 2011 là 0,21%, tương đương tỷ lệ của Thái Lan năm 2007, cao hơn Indonesia (0,15%) và Philippines (0,11%), nhưng chỉ = 1/3 của Malaysia (0,7%) và thấp xa so với Hàn Quốc (3,4%).

Tỷ lệ ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống còn hạn chế. Vẫn còn tình trạng nhập khẩu các thiết bị lạc hậu, không đồng bộ, kém hiệu quả. Trong giai đoạn 2000 – 2012, hệ số đổi mới của Việt Nam không có thay đổi trong 18 nước châu Á (15/18 nước).

Đánh giá của Ngân hàng Thế giới về kinh tế trí thức cho thấy, chỉ số giáo dục của Việt Nam năm 2012 là 2.99, xếp thứ 133 thế giới, thấp hơn mức bình quân 5.26 của khu vực. Trong khi đó, Hàn Quốc là 9.09; Malaysia là 5.22…

Về lực lượng lao động, mặc dù dồi dào song chủ yếu tập trung ở khu vực nông nghiệp. Tỷ trọng lao động khu vực này tuy có giảm từ 71,3% năm 1995 xuống 46,3% năm 2014, nhưng chỉ tương đương của Thái Lan năm 1995; Philippines và Indonesia đầu thập niên 90…

Xét về góc độ vị thế việc làm, lao động Việt Nam chủ yếu là làm các công việc gia đình hoặc tự làm (bếp bênh, không ổn định, thu nhập thấp) chiếm tới 62,7% tổng số việc làm. Trong khi đó, ở Malaysia con số này chỉ vào 21%, Philippines (39%), Indonesia (36%)…

Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi

Ngọc Anh (ĐSPL) – Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm.

Báo cáo tại Hội thảo “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-2035”, Tổng cục Thống kê cho biết như trên.

Theo báo cáo của cơ quan thống kê, nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá nhưng quy mô kinh tế còn nhỏ so với các nước trong khu vực. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) luôn duy trình tăng trưởng khá, bình quân thời kỳ 1990-2014 đạt 6,9% đưa Việt Nam từ một quốc gia thuộc nhóm các nước nghèo nhất thế giới trở thành nước có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt 2052 USD, gấp 21 lần mức bình quân năm 1990.

Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực, mức GDP hơn 186 tỷ USD đạt được năm 2014 vẫn còn nhỏ. GDP của Indonesia gấp 4,8 lần GDP của Việt Nam, Thái Lan gấp 2 lần, Malaysia gấp 1,8 lần, Singapore gấp 1,7 lần và Philippines gấp 1,5 lần.


Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang thụt lùi so với Hàn quốc khoảng 30-35 năm.

Mặc dù đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình nhưng khoảng cách về GDP bình quân đầu người Việt Nam so với các nước trong khu vực còn lớn và nguy cơ bị nới rộng.

Từ năm 2008, Việt Nam đã chính thức trở thành quốc gia có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người đạt 1.145 USD, đến năm 2014 tăng lên 2.052 USD. Tuy nhiên, với mức bình quân này, Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp và chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầu người của Malaysia năm 1988, Thái Lan năm 1993, Indonesia năm 2008, Philippines năm 2010 và Hàn Quốc năm 1982.

Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu (Global Competitiveness Index – GCI) của Việt Nam thấp hơn nhiều so với Thái Lan, Malaysia và Indonesia, theo Báo cáo cạnh tranh toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF).

Về năng suất lao động, trong giai đoạn 1994-2013, năng suất lao động của Việt Nam tăng trung bình 4,87%, là mức tăng cao nhất trong ASEAN. Tuy nhiên, ngoại trừ Brunei và Philippines, khoảng cách tuyệt đối tính bằng chênh lệch năng suất lao động của Việt Nam với hầu hết các nước ASEAN ở trình độ phát triển cao hơn lại gia tăng trong giai đoạn trên.

Với giả sử Việt Nam và một số nước vẫn duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng năng suất lao động trung bình như trong giai đoạn 2007-2012 vừa qua thì phải đến năm 2018 Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới bắt kịp Thái Lan.

Tiến sĩ Võ Đại Lược cho hay tình hình kinh tế đang phức tạp, có điểm sáng, có điểm tối, nếu chỉ bàn đến giải pháp kinh tế thì không thể giải quyết được, chẳng hạn như vẫn giữ doanh nghiệp Nhà nước làm chủ đạo thì không thể xử lý được những vấn đề tồn động tại khu vực này.

“Ở thời điểm hiện nay, muốn giải quyết thực sự vấn đề thì chuyện không phải là kinh tế mà phải chính trị, phải có sự đổi mới về tư duy quan điểm phát triển, từ đó đổi mới thể chế”, ông Lược nói.

Đồng quan điểm, ông Trương Đình Tuyển khẳng định để thể chế kinh tế tốt lên, phải cải cách chính trị, từ đó xây dựng xã hội hiện đại dựa trên ba nội dung: kinh tế thị trường, nhà nước pháp quyền và xã hội dân sự.

Ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương nhấn mạnh Việt Nam không thể chần chừ cải cách kinh tế. “Nếu chần chừ, nguy cơ tụt hậu sẽ xa so với các nước trong khu vực”.

Vị chuyên gia nổi tiếng này thẳng thắn nói: “Chúng ta tự hào về tăng trưởng bình quân 7% nhưng từ 2008 trở lại đây, tăng trưởng chỉ còn hơn 5%. Nguy cơ tụt hậu của Việt Nam rất lớn nếu không thay đổi. Nếu GDP chỉ tăng khoảng 5% thì đến năm 2035 mới bằng 75% của Thái Lan hiện nay. Cho nên phải đạt tăng trưởng 7% may ra mới đuổi kịp được Thái Lan”.

“Do đó phải cách cách sâu và rộng cải cách thể chế để phát triển, không thể chần chừ, không có còn đường nào khác, không có đường lùi” – ông Nguyễn Đình Cung nhấn mạnh.

Dù vậy, nhắc đến nghị quyết 19/NQ-CP về cải thiện môi trường đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh, ông Cung không khỏi băn khoăn.

Ông Nguyễn Đình Cung nói nhiều bộ rất ì, thậm chí không chịu làm. Cho nên sức ì của cải cách là rất lớn. Trong khi đó nhu cầu cải cách, áp lực cải cách còn rất lớn.

“Rõ ràng chúng ta đang đứng trước một mâu thuẫn lớn, vì vậy ta không thể chần chừ được nếu không đất nước tụt hậu. Đất nước tụt hậu trách nhiệm thuộc về ai?”, vị chuyên gia phát biểu mạnh mẽ.

Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh cũng cho rằng tuy kinh tế Việt Nam đang phát triển, nhưng có sự thật là năng lực cạnh tranh đang kém hơn các nước, gây nên mối nguy trong quá trình hội nhập mạnh mẽ. “Hội nhập là cạnh tranh, nếu không cạnh tranh được thì chúng ta thất bại”, ông Vinh phát biểu.

Tụt hậu so với láng giềng:
Việt Nam chỉ còn cách tăng năng suất lao động

Phương Dung (Dân Trí) – Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho rằng, để mức thu nhập bình quân đầu người tiệm cận tới 15.000 USD/người/năm vào năm 2035, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ nhanh chóng, điểm mấu chốt trong vòng 20 năm tới của Việt Nam là phải bảo đảm năng suất lao động tốt.

Số liệu mới công bố từ Tổng cục Thống kê cho thấy, mặc dù đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình nhưng Việt Nam tiếp tục thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình thấp và chỉ ngang bằng mức GDP bình quân đầu người của Malaysia năm 1988, Thái Lan năm 1993, Indonesia năm 2008, Philippines năm 2010 và Hàn Quốc năm 1982.

Một thông tin cũng không mấy vui là, trong giai đoạn 1994 – 2013, năng suất lao động của Việt Nam tăng trung bình 4,87%, là mức tăng cao nhất trong ASEAN. Tuy nhiên, với giả sử Việt Nam và một số nước vẫn duy trì liên tục tốc độ tăng trưởng năng suất lao động trung bình như trong giai đoạn vừa qua thì phải đến năm 2018 Việt Nam mới bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới bắt kịp Thái Lan.

Trao đổi bên lề Diễn đàn kinh tế mùa Thu diễn ra tuần qua, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề về xã hội của Quốc hội Bùi Sỹ Lợi cho rằng, hiện nay, trong thị trường lao động của Việt Nam đang hoàn thiện, chưa đạt đến đỉnh cao của thị trường lao động. Trong ASEAN, chi phí lao động của doanh nghiệp Việt Nam là 18%, cao hơn của ASEAN là 16%, tức là chi phí lao động của Việt Nam cao hơn trong khi năng suất lao động quá thấp.

Trong buổi làm việc với Uỷ ban Kinh tế Quốc hội mới đây, đại diện Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho rằng, để mức thu nhập bình quân đầu người tiệm cận tới 15.000 USD/người/năm vào năm 2035, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ nhanh chóng, điểm mấu chốt trong vòng 20 năm tới của Việt Nam là phải bảo đảm năng suất lao động tốt.

“Paul Krugman, một chuyên gia kinh tế đạt giải Nobel về kinh tế đã nói rằng, năng suất lao động không phải là tất cả nhưng về lâu dài nó gần như là tất cả. Khả năng nâng cao mức sống về lâu dài của 1 quốc gia hầu như phụ thuộc hoàn toàn vào năng lực nâng cao sản lượng tính trên mỗi lao động. Như vậy thì theo ông Faul, điểm mấu chốt là phải bảo đảm năng suất lao động”, đại diện World Bank nói.

Theo đại diện World Bank, trong giai đoạn 20 – 25 năm qua, năng suất lao động của Việt Nam theo chiều hướng đi xuống. Theo đó, việc thay đổi xu hướng về năng suất lao động là điều vô cùng quan trọng. Và để đạt được tăng trưởng năng suất lao động thì phải có tăng trưởng nâng suất lao động từng ngành.

Theo đánh giá của World Bank, thập kỉ 90, hầu hết các ngành mức tăng trưởng năng suất lao động tương đối tốt nhưng từ năm 2000 trở đi, tăng trưởng nâng suất lao động trong các ngành chính đều giảm, trong 4 ngành thậm chí mức tăng trưởng âm là khai mỏ, dịch vụ công ích, xây dựng và tài chính. Một đặc điểm chung là hầu hết các ngành này bị chi phối bởi khu vực doanh nghiệp nhà nước, khu vực công. Tuy nhiên, năng suất lao động khu vực tư nhân trong vòng 15 năm qua cũng giảm mạnh, hoạt động kém hiệu quả như khu vưc công.

Một điểm đáng lưu ý, những ngành có năng suất lao động thấp nhất cũng là ngành phân bổ nguồn lực nhiều nhất bao gồm: bất động sản, tài chính ngân hàng, xây dựng. Một số ngành có năng suất lao động cao như: ngành chế biến thực phẩm, dệt may và điện tử – có năng suất, hiệu suất cao hơn thì lại thu hút được ít nguồn lực hơn. Vấn đề ở đây là hệ thống tổng thể không bảo đảm hiệu quả bởi những ngành có hiệu suất thấp nhất lai hút nhiều nguồn lực nhất và ngược lại.

Vị này cũng cho rằng, cần phải tăng tỷ trọng các doanh nghiệp tư nhân lớn với hiệu quả và năng suất lao động cao hơn để tăng năng suất lao động. Tại Việt Nam, có rất ít doanh nghiệp tỷ nhân trong nước có quy mô lớn với khoảng 94% có quy mô dưới 50 nhân viên và người lao động.

“Tuy nhiên, một điểm cũng đáng lưu ý, tình hình ở Việt Nam cũng rất phức tạp bởi có một số doanh nghiệp tư nhân lớn hoạt động kém hiệu quả hơn doanh nghiệp tư nhân nhỏ. Đây là điều vừa gây ngạc nhiên vừa khiến người ta dễ nản lòng. Cái khiến người ta băn khoăn là ở chỗ: “không biết trông cậy vào đầu để tăng năng suất tổng thể vì họ trông đợi vào những doanh nghiệp lớn kéo năng suất tổng thể lên nhưng doanh nghiệp lớn Việt Nam không làm được nhiệm vụ của mình””, vị này nói.

Hệ thống tuyển chọn lãnh đạo CSVN tiếp tục tụt hậu

Ngọc Ẩn /Danlambao (Việt Quốc) 26/3/2015 – Đảng CSVN bắt toàn dân tiến lên XHCN thì đồng nghĩa là CSVN đưa đất nước thụt lùi. Câu hỏi được đặt ra là nguyên nhân nào đưa đến tụt hậu? Có phải do dân Việt Nam lười biếng, do người lãnh đạo ngu đần, lãnh đạo tham lam, do hệ thống lựa chọn lãnh đạo không đúng, do độc tài, độc đảng, do không có tự do báo chí, tự do ngôn luận, do VN thiếu tài nguyên thiên nhiên, do VN nằm ở vùng động đất hay cuồng phong, do VN không giao hảo với bạn bè tốt, do nền giáo dục lạc hậu? Chúng ta phân tích vài nguyên nhân giúp thanh lọc được lý do cốt lõi đưa đến tụt hậu, tham nhũng, nghèo đói.

Người dân VN không lười biếng mà ngược lại họ rất siêng năng làm việc. Công ăn việc làm ở VN thì không dễ có, khiến dân phải bôn ba ra nước ngoài để làm những công việc rất cực nhọc với đồng lương ít ỏi. Mời quý vị theo dõi những cuộc phỏng vấn các công nhân VN làm việc tại Nga để thấy người VN rất siêng năng. Họ làm việc 16-17 giờ mỗi ngày và 7 ngày trong 1 tuần. Chúng ta cứ nghe đảng CSVN tố cáo, lên án chế độ thực dân, tư bản, phong kiến bóc lột, hành hạ công nhân. Trong các cuộc phỏng vấn có các đường links dưới đây, chúng ta biết được chính những con người XHCN của nước VN bóc lột, hành hạ công nhân.

Nước VN có nhiều tài nguyên thiên nhiên. VN có mỏ nhôm, mỏ thang, mỏ dầu khí. Trong vùng biển Hoàng Sa và Trường Sa chứa đầy tôm cá và dầu hỏa. Ruộng lúa ở miền Nam thì trù phú nếu canh tác và khai thác tốt thì dư thừa gạo lúa cho cả nước và xuất khẩu. Nếu so sánh tài nguyên thiên nhiên của VN với Nhật Bản và Singapore thì VN được nhiều lợi thế hơn rất nhiều. Nếu so sánh về thiên tai thì Nhật Bản và Philippines hằng năm phải chịu những trận bão cấp 5 và bị động đất liên miên đưa đến tàn phá cơ sở vật chất và sinh mạng rất khủng khiếp. Nhật Bản và Philippines là những quốc gia được kết nối bởi chuỗi hải đảo khiến sự vận chuyển khó khăn, tốn kém. Địa thế của VN tốt hơn Nhật Bản và Phillipines và VN là một dải đất liền giúp cho giao thông dễ dàng, nhanh chóng và ít tốn kém.

Sau khi so sánh nguồn tài nguyên thiên nhiên, địa thế giữa Việt Nam, Singapore, Nhật Bản, Philippines thì chúng ta có thể loại trừ lý do Việt Nam bị tụt hậu là do địa thế khắc nghiệt và thiên tai. Chúng ta cũng loại bỏ được lý do VN tụt hậu là do người dân VN lười biếng.

Một gia đình có kinh tế sung túc, đời sống đạo đức thì cần có cha mẹ tài giỏi, khôn ngoan, đạo đức, biết giáo dục, hướng dẫn con cháu. Một công ty phát triển mạnh và uy tín cần có người lãnh đạo thông minh, sáng tạo, có óc tổ chức, có sản phẩm tốt và phục vụ khách hàng tận tâm, trung thực. Một quốc gia muốn phát triển kinh tế, chính trị, giáo dục, đạo đức cũng cần những người lãnh đạo tài giỏi, đạo đức.

Đất nước VN dưới thời cộng sản không có những người lãnh đạo tài giỏi và đây là lý do VN bị tụt hậu. Làm cách nào để chọn được người tài giỏi nhất cho một công việc cho dù nhỏ hay lớn? Chúng ta cần phải có một hệ thống chọn lựa công bằng và một nền giáo dục hiệu quả. Làm sao để đạt được một hệ thống chọn lựa nhân tài thật tốt và công bằng? Việc đầu tiên phải làm là cạnh tranh theo luật lệ công bình. Cạnh tranh bình đẳng thì cần đa đảng, hệ thống ứng cử và bầu cử tự do. Muốn có hệ thống ứng cử và bầu cử tự do thì cần thiết nhất là quyền tự do ngôn luận để người dân được hiểu rõ ràng từng ứng cử viên trước khi bỏ phiếu. Hiện tại các ứng cử viên đã qua gạn lọc của độc đảng CSVN chứ không qua sự gạn lọc của người dân. Người dân hoàn toàn không có quyền công dân để bầu các chức vụ quan trọng như Thủ Tướng và Chủ Tịch Nước. Người dân chỉ cúi đầu chấp nhận bất cứ ai mà đảng CSVN đặt để vào các chức vụ vận hành đất nước.

Chế độ độc đảng lại sinh ra chức vụ Tổng Bí Thư (TBT) của đảng, không do dân bầu chọn mà quyền lực của TBT còn cao hơn cả Thủ Tướng và Chủ Tịch Nhà Nước. Nếu đã có Thủ Tướng và Chủ Tịch Nước thì cần gì phải có thêm chức vụ TBT cùng ban bệ phò tá TBT thì quá hao tốn ngân quỹ. Người dân cần tranh đấu bỏ chức vụ TBT. Khi quyền chọn lựa những chức vụ quan trọng không nằm trong tay người dân mà nằm trong tay của vài cá nhân thì chuyện chạy chức, chạy quyền không thể tránh khỏi. CSVN có một hệ thống chọn lựa nhân tài tuyệt đối hư hỏng, không công bằng và nó đưa đến vấn nạn những kẻ bất tài, thất đức tham nhũng lên cầm quyền.

Trong hệ thống tuyển chọn người lãnh đạo của CSVN thì một cá nhân bất tài có thể mua chuộc một vài người để có chức quyền. Một hệ thống tuyển chọn tốt hơn thì một kẻ bất tài, hư hỏng không thể đút lót toàn dân, đó là một việc bất khả thi và nhờ đó mà loại bỏ được bọn bất tài, tham nhũng, thối nát. Hệ thống tuyển chọn người lãnh đạo của CSVN hiện nay đã và tiếp tục đưa đến kẻ nhận hối lộ phải kết bè cánh với kẻ đưa hối lộ để hình thành những nhóm lợi ích bảo vệ nhau. Những nhóm lợi ích cần tiền để mua nhiều biệt thự, đi du lịch, mua sắm xe đắt tiền, du thuyền. Những chi tiêu xa xỉ đó khiến cán bộ phải bóc lột từ người dân, cướp nhà, cướp đất của dân kể cả việc khai thác gổ ngay trong thành phố Hà Nội. Rừng thì cán bộ đã cho Trung cộng mướn thì đâu dám bén mảng vào khai thác gổ. Khi cán bộ CSVN cướp tài sản, bóc lột sức lao động của người dân thì đương nhiên người dân phải chống lại kẻ cầm quyền độc ác. Kẻ cầm quyền phải nuôi một đội ngũ công an khổng lồ cực kỳ tốn kém để áp bức người dân. Số tiền cung phụng cho các nhóm lợi ích và nuôi đội ngũ công an khổng lồ đưa đến cạn kiệt ngân sách quốc gia, cảnh sát giao thông ăn cướp của dân. Đại đa số dân nghèo bị cướp nhà, mất ruộng vườn cùng lúc TQ vịn vào công hàm dâng Hoàng Sa của HCM mà cấm ngư phủ VN đánh cá ở Hoàng Sa và Trường Sa thì lấy đâu ta tiền để đóng thuế nuôi quá đông công an? Đảng CSVN đưa dân ra nước ngoài làm việc để thu tiền và bớt miệng ăn. Tương lai của dân Việt quá ảm đạm khi đất nước bị phá tan nát bởi bọn người lãnh đạo tồi.

Nói đến hệ thống tuyển chọn người lãnh đạo công bằng và lành mạnh thì chúng ta phải nghĩ đến ngành giáo dục và đào tạo. Ở các nước tiên tiến có hệ thống giáo dục được gạn lọc từ tiểu học. Học sinh phải thi đua học tập từ tiểu học, trung học và đại học. Những học sinh siêng năng và thông minh ở bậc trung học sẽ vượt trội. Ở Mỹ thì 5% thành phần xuất sắc nhất ở bậc trung học sẽ được nhận vào các đại học danh tiếng thế giới như Yale, Havard, Stanford, MIT, Berkeley. 20% kế tiếp được nhận vào các đại học nổi tiếng ở Mỹ. Những thành phần còn lại được nhận vào các đại học của tiểu ban hoặc các đại học cộng đồng và một phần còn lại tiếp tục học nghề hoặc làm nhân viên sản xuất. 5% xuất sắc tiếp tục thi đua học tập ở các đại học danh tiếng để chỉ còn chưa đến 1% hoàn tất học vị Tiến Sĩ. Những vị Tiến Sĩ sẽ được các công ty mời về làm việc và giao cho những chức vụ quan trọng. Sau khi qua quá trình đại học thì bước thử thách kế tiếp là trắc nghiệm khả năng làm việc ở các công ty. Nếu có bằng cấp cao mà làm việc hư hỏng thiếu hiệu quả thì vẫn bị giáng chức hoặc cho thôi việc. Một hệ thống giáo dục lành mạnh giúp các hãng xưởng mướn người đúng trình độ cho công việc và nhờ thế công việc hoàn tất tốt đẹp và kinh tế phát triển nhờ sức cạnh tranh cao. Một hệ thống giáo dục yếu kém, gian lận bằng cấp, tình trạng bằng thật nhưng học giả sẽ khiến rối loạn cả hệ thống thuê mướn nhân viên. Những người bị thiệt thòi là những người có bằng cấp thật và học thật, họ bị vàng thau lẫn lộn. Bằng cấp thật học giả sẽ đưa đến người thiếu năng lực làm việc và kết quả là kinh tế yêu kém vì không đủ sức cạnh tranh với những quốc gia có hệ thống giáo dục trong sạch. Nhân viên VN phải chịu nhận giá lương thấp so với nhân công các quốc gia láng giềng chỉ vì hệ thống giáo dục mất uy tín.

Hệ thống độc tài, độc đảng như hiện nay ở VN chỉ có thể tuyển chọn ra thành phần tham nhũng, phe phái. Các quốc gia giàu mạnh dùng hệ thống đa đảng, tự do, dân chủ để chọn người lãnh đạo; kết quả là người có khả năng cao nhất và thích hợp nhất với công việc sẽ được người dân bầu lên làm lãnh đạo. Một hệ thống tuyển chọn nhân tài lành mạnh cũng chưa đủ mà cần phải cân bằng quyền lực giữa hành pháp, lập pháp và tư pháp để tránh việc lộng quyền. Thiếu cân bằng quyền lực và độc đảng đã và đang đưa đến tình trạng vô pháp luật và lộng quyền của công an như hiện nay tại CHXHCN VN. Người tài giỏi và đạo đức sẽ soạn thảo hiến pháp công bình và bác ái giúp xã hội an lạc.

Nhìn qua lịch sử của hệ thống tuyển chọn người lãnh đạo của đảng CSVN thì kết quả là Chủ Tịch Hồ Chí Minh ra lệnh cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký công hàm năm 1958 dâng Hoàng Sa và Trường Sa cho Tàu. Tổng Bí Thư Lê Duẫn học lực tiểu học lại là người hoạch định kinh tế quốc gia và ông phát động kinh tế “làm chủ tập thể” biến miền Nam trù phú từ no ấm đến đói kém. TBT Nguyễn Văn Linh và TBT Đỗ Mười ký hiệp ước Thành Đô để biến Việt Nam thành thuộc địa của Tàu. TBT Nông Đức Mạnh và TBT Nguyễn Phú Trọng thì ca ngợi Trung cộng là bạn 16 vàng và 4 tốt trong khi Trung cộng bắt, giết ngư phủ VN ở Hoàng Sa. Ngoài biển đảo thì giặc Tàu xâm chiếm trong đất liền thì TBT NPT cho Tàu mướn đất rừng biên giới. Trên cao nguyên vị trí chiến lược nằm ngay giữa nước thì Thủ Tướng Dũng và TBT NĐM cho quân xâm lược Tàu vào khai thác Bauxite. Anh binh nhì Phùng Quang Thanh (PQT) chỉ giỏi bấm cò súng và chửi thề trên bàn nhậu trở thành Đại Tướng kiêm Bộ Trưởng Quốc Phòng. PQT và NPT gọi tàu Trung cộng là “tàu lạ” húc chìm tàu ngư phủ VN, và NPT im như thóc cả 2 tháng sau khi Trung cộng kéo giàn khoang vào vùng biển VN. Trong hội nghị các Bộ Trưởng ở Shangri-La thay vì tố cáo Trung cộng xâm lược trước cộng đồng quốc tế thì PQT đã xem việc Trung cộng húc chìm tàu ngư dân, húc tàu của cảnh sát biển kéo dàn khoang HĐ 981 vào thềm lục địa VN là chuyện nhỏ, chuyện xích mích trong gia đình. PQT đúng nghĩa là “Dại Tướng” và cần lột lon đưa ông ta trở về chức vụ Binh Nhì cho đúng vị trí.

Một người thiếu thông minh, không sáng kiến làm lãnh đạo cao cấp thì chỉ tàn hại tổ quốc, làm nghèo khổ người dân và khiến thế giới khinh miệt người dân VN. Làm sao những tư tưởng xuất chúng có thể phát ra từ những bộ óc tối đen, đóng kín, meo móc giáo điều Mác-lenin? Người lùn trí tuệ, thiếu đạo đức mà giữ chức cao thì chỉ sản sinh ra những công việc ngu đần và độc ác. Trồng cây trăm năm chặt cây vài giờ đang xảy ra ở Hà Nội là thêm một minh chứng của hệ thống tuyển chọn người lãnh đạo của độc tài, độc đảng CSVN đang phá sản. Ủng hộ các tổ chức đấu tranh đòi nhân quyền và đòi tự do dân chủ là con đường sáng để chọn người tài đức ra lãnh đạo quốc gia.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s