Hội nhập khiến nông nghiệp không còn đường lùi

Posted: September 6, 2015 in Uncategorized
Tags:

Lê Đăng Doanh (TBKTSG) – Trong khi trân trọng những tiến bộ và thành tựu đã đạt được, cần nghiêm túc nhìn thẳng vào sự thật đau lòng là phần lớn nông, lâm, thủy sản của nước ta là những sản phẩm thô hay sơ chế, giá trị gia tăng còn hạn chế, chất lượng thấp và không đồng đều.

� Xem thêm: Việt Nam: 40 năm chưa qua khỏi cánh đồng? + Vô vàn cơ hội khởi nghiệp nông nghiệp.


Nông sản xuất khẩu của nước ta phần lớn chưa tham gia chuỗi giá trị quốc tế, chưa có
hợp đồng dài hạn. Mỗi năm, cảnh được mùa mất giá luôn lặp đi lặp lại. Ảnh: TUỆ DOANH

Từ gạo đến chè, cà phê, hạt tiêu… về khối lượng, ta xuất khẩu thuộc loại nhất, nhì thế giới nhưng đều dưới dạng nguyên liệu thô để các nước nhập khẩu chế biến thành sản phẩm mang thương hiệu của họ. Cũng vì vậy, giá các sản phẩm nông sản xuất khẩu của nước ta, nói chung, thuộc loại thấp so với nông sản Thái Lan hay các nước khác.

Trong một thế giới hội nhập sâu sắc và liên kết chặt chẽ như hiện nay, các nông sản xuất khẩu của nước ta phần lớn chưa tham gia chuỗi giá trị quốc tế, chưa có hợp đồng dài hạn hay hợp đồng giao sau (forward contract), nên chúng ta xuất khẩu khối lượng lớn nhưng rất bấp bênh và phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường đầy may rủi là Trung Quốc. Mỗi năm cảnh “được mùa mất giá” lặp đi lặp lại, từ dưa hấu đến thanh long, vải thiều. Đã xuất hiện phong trào xã hội vận động “tiêu thụ giúp” cho nông dân. Song, phong trào không thay thế được thị trường. Nhược điểm sản xuất không theo yêu cầu thị trường, chạy theo số lượng, không coi trọng chất lượng, sản xuất không kết nối với thị trường đã phải trả giá.

Những nhược điểm ấy đã bộc lộ rõ trong tám tháng đầu năm 2015 khi xuất khẩu nông, lâm, thủy sản chỉ đạt 19,31 tỉ đô la Mỹ, giảm 4,8% so với cùng kỳ năm trước. Phần lớn các sản phẩm xuất khẩu chủ lực đều giảm sút.Chỉ có vải thiều, lần đầu tiên được chiếu xạ tiệt trùng, xuất được sang Mỹ, Úc, EU đạt giá trị 2.900 tỉ đồng là một bước tiến mới đáng ghi nhận. Còn tại thị trường trong nước, việc giá gà nhập khẩu từ Mỹ rẻ hơn gà ta, trái cây Thái Lan tràn vào Việt Nam đạt tới 54 triệu đô la Mỹ là chỉ dấu cho thấy nông sản Việt Nam có thể thua ngay trên sân nhà.

Một thực trạng đáng lo ngại là tình trạng vi phạm các quy định về chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm diễn ra kéo dài và không giảm ở hầu hết các thị trường chủ yếu. Điển hình là thủy sản xuất sang Nhật Bản thường xuyên gặp khó khăn do vượt dư lượng kháng sinh cho phép, con tôm bị bơm nước hay tạp chất để tăng trọng, kể cả nhét… đinh vào đầu tôm. Ở đây, “con sâu không chỉ làm rầu nồi canh” mà còn phá hỏng thương hiệu quốc gia khi phía Nhật Bản đã nhiều lần đe dọa đình chỉ nhập khẩu tôm của Việt Nam.

Trong năm 2015, Việt Nam kết thúc đàm phán hàng loạt hiệp định thương mại tự do (FTA) và cam kết thực hiện Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) từ 1-1-2016. Nếu như các FTA mở ra cơ hội xuất khẩu sang các thị trường có cơ cấu kinh tế bổ sung cho nền kinh tế nước ta thì AEC là cộng đồng kinh tế của những nước có cấu trúc kinh tế giống ta và cạnh tranh với ta trên nhiều mặt, trong đó có nông sản. Từ ngày 1-1-2016, nông sản các nước ASEAN vào thị trường Việt Nam với thuế suất bằng 0%. Hệ thống siêu thị Metro đã được người Thái mua lại, siêu thị Parkson của Malaysia sẽ đưa vào thị trường Việt Nam những nông sản có năng lực cạnh tranh mạnh hơn nông sản Việt Nam.

Các FTA cho phép mở cửa thị trường bằng giảm thuế suất nhập khẩu, song đồng thời cũng quy định những điều kiện khắt khe về vệ sinh an toàn thực phẩm (Sanitary and Phytosanitary Standard, SPS) như dư lượng kháng sinh trong thủy sản, dư lượng thuốc trừ sâu trong chè, cũng như những yêu cầu về nhãn mác, bao bì đóng gói, mã vạch… Nếu không đáp ứng được những yêu cầu rất cao đó, nông sản Việt Nam sẽ khó nắm bắt được cơ hội xuất khẩu mà các FTA đã mở ra.

Nếu như về trồng trọt, lúa gạo, cà phê, hồ tiêu, hạt điều có cơ hội xuất khẩu nhất định thì bắp, đậu nành và mía đường sẽ khó có thể cạnh tranh ngay trên sân nhà do năng suất và chất lượng các sản phẩm này đều kém xa so với các sản phẩm quốc tế. Việc tái cấu trúc các sản phẩm này là không thể tránh khỏi.

Tình hình đối với 10 triệu hộ chăn nuôi gà, heo, bò thịt và bò sữa khó khăn đến mức một quan chức của Tổng cục Chăn nuôi đã phải thốt lên “Ngành chăn nuôi đã được hy sinh là vật tế thần để gia nhập TPP”! Thực vậy, gà lông đỏ của Việt Nam chỉ có thể tồn tại ở những chợ truyền thống, dựa vào thói quen “ăn gà vặt lông cả con” chứ không thể cạnh tranh với gà lông trắng đông lạnh trong siêu thị.

Nông nghiệp nước ta đang đứng trước tình trạng không còn chỗ để lùi, phải gấp rút tái cơ cấu, chuyển sang canh tác trên những cánh đồng mẫu lớn, chuyển nông dân và ngư dân hoạt động theo truyền thống trở thành những công nhân nông nghiệp, ngư nghiệp được đào tạo, có kỹ năng và biết tuân thủ kỷ luật thị trường. Vai trò của Nhà nước từ trung ương đến địa phương cực kỳ quan trọng trong cuộc thay đổi bước ngoặt này.

Cơ hội to lớn đang mở ra là hợp tác sâu rộng giữa nông nghiệp Việt Nam và Nhật Bản để trở thành hai nền nông nghiệp “cộng sinh” với nhau. Việt Nam sẽ tiếp thu công nghệ và đầu tư từ Nhật Bản để cung cấp rau quả, hoa tươi, cá ngừ, tôm sang thị trường Nhật Bản và cùng nhau xuất khẩu sang thị trường thứ ba. Những ví dụ thành công đầu tiên mở ra khả năng hiện thực to lớn cho hiện đại hóa nông nghiệp nước ta.

Việt Nam: 40 năm chưa qua khỏi cánh đồng?

(VNN) -Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Lời tựa bài này là niềm tự hào và cũng là nỗi buồn nặng trĩu tâm tư của người viết vì đã có đủ thời gian nếm trải. Tự hào là vì ông cha ta khôn ngoan mở mang bờ cõi về phương Nam, để lại cho con cháu làm chủ cánh đồng lúa nước rộng lớn và tốt thuộc hàng đầu Đông Nam Á. Còn nỗi buồn hay nói đúng ra là lời tự thán là ta đi 40 năm mà chưa thoát ra khỏi “cánh đồng nông nghiệp” và vẫn là nước nghèo, đang phát triển!

Tư duy tầm thế kỷ 19-20

Cách đây ít lâu, tôi đọc báo Tuổi Trẻ, Lao Động, Người Lao động…thấy đăng phát biểu của Chủ tịch QH Nguyễn Sinh Hùng, Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, Chủ tịch Hội đồng Dân tộc Ksor Phước, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý…về tình hình kinh tế đất nước nói chung, nông nghiệp nói riêng thấy gần đúng với… sự thật. Gần đúng vì theo tôi, là một người gần như suốt cuộc đời “bám” sản xuất nông nghiệp, đời sống nông dân, tôi thấy bức tranh nông nghiệp nông thôn còn không ít gam xám.

Như Chủ nhiệm Ủy ban An ninh quốc phòng Nguyễn Kim Khoa nói “Chúng ta cứ vẽ bức tranh đẹp quá mà thực ra QH hay nhà nước đều cần bức tranh tả chân”. “Muốn đánh giá đúng tình hình phải xuống nông thôn xem đồng bào sống thế nào” – như ông vừa mới đi xuống 17 tỉnh, ba quân khu mới trở về.

Việc Đoàn thanh niên cách đây ít lâu đi bán “giải cứu” dưa hấu, hành tím cho dân là câu chuyện thật rất nhân văn nhưng cũng đượm u buồn. Bộ trưởng Kế hoạch & Đầu tư nói: “Các nước tái cơ cấu cao, còn ta thì chậm, cho nên 06 tháng cuối năm 2.015 gặp nhiều thách thức, khó duy trì mức 6,5% nếu không có giải pháp đột phá”. Vậy mà hàng ngày đọc báo nghe đài, thấy hội nghị nào từ các Bộ xuống tỉnh, huyện, xã cũng nói “tái cơ cấu” rất hay, bây giờ vậy là sao? Chính phủ và các Bộ đang “bàn chuyện giải cứu nông sản” thì giải cứu sao đây?

Bởi đây là vấn đề tích tụ dài lâu từ cơ chế quản lý chứ không phải do một cá nhân nào, cho dù là những người đứng đầu của hệ thống chính trị đất nước tài ba lỗi lạc đi nữa.

10 năm (1975-1985) ta phải “dò đường”, đi trên ruộng nhà mà đói là do chúng ta luẩn quẩn chưa thoát ra khỏi tư duy bao cấp. 30 năm đổi mới, cả nước đi trên hai chân mà ta tự hào là “tam nông”, nghĩa là nông dân làm nông nghiệp và xây dựng nông thôn. Đây là đường lối xuyên suốt qua tất cả các kỳ đại hội và trong các báo cáo về kinh tế xã hội bao giờ cũng bắt đầu từ “sản xuất nông nghiệp”.

Từng thời kỳ, nhất là những kế hoạch 05 năm sau đổi mới, chọn nông nghiệp làm đột phá vì nông nghiệp luôn luôn là nền tảng kinh tế. Nhưng điều đáng nói, nó hình thành cái nếp tư duy bất biến “nông nghiệp” theo truyền thống “trọng nông”. Giai cấp thì coi trọng cố nông- bần nông, kinh tế thì hạn điền và hộ sản xuất, văn hóa thì làng xã, hành chính là hộ khẩu, nhân tài – cán bộ là huyết thống… Nghĩa là tư duy và cách làm vẫn ở tầm thế kỷ 19 – 20.

Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI là “đến năm 2020 nước ta phải trở thành nước có thu nhập trung bình và cơ bản trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại”. Chỉ còn 05 năm nữa thôi, nhưng hiện nay ta chỉ mới đạt 2.000 USD/ người, trong khi những nước đạt 5.000 USD/ người, các nhà kinh tế vẫn cho là chưa thoát cái “bẫy thu nhập trung bình”.

Công nghiệp ô-tô, ta đã bỏ qua chiếc La Dalat những năm trước 1975 và chiếc Mê-Công những năm 1990 đã tự sản xuất để đi làm thợ lắp ráp cho Toyota, Hyundai… Ngay như công tác xóa đói giảm nghèo sau 30 năm thừa gạo, dư cá mà vẫn còn chương trình “xóa đói giảm nghèo” và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn cao. Nhất là ở ngay vựa lúa- cá Đồng bằng Cửu Long mà chỉ sánh bằng với Tây Nguyên.

Và năm nào cũng vậy, kể cả 2014 vừa rồi tuy không có thiên tai lớn như các năm trước nhà nước vẫn phải cứu đói cả vạn tấn gạo cho các tỉnh miền ngoài. Ông Ksor Phước còn chỉ cách thống kê: “Các đồng chí thử lấy lượng gạo Thủ tướng quyết định cứu đói hàng năm chia ra xem bao nhiêu hộ đang trong tình trạng phải chờ cứu”.


ĐBSCL là vựa lúa của cả nước. Ảnh: SGGP

Dân là gốc

Cái gì cũng có giới hạn: Ở lâu trong tối dễ mờ mắt, trong ánh sáng chói lâu cũng dễ bị lòa mắt. Từ thiếu đói vụt cái VN ta xuất khẩu gạo, rồi cá tra, cà phê, cao su, hồ tiêu, hạt điều… đều vào loại tốp đầu thế giới. Việc đầu tư xây dựng điện đường trường trạm, nhà ở mái ngói mái bằng, xe máy, ô tô… cho đến đầu những năm 2.000 đem lại sự đổi đời thấy rõ. Chúng ta có quyền tự hào về sự đổi thay diện mạo cuộc sống đó.

Tự hào là chính đáng, nhưng tự hào mà quên mất những khiếm khuyết của cơ chế quản lý, cùng những bất cập, non kém của ngành nông nghiệp nên mới dẫn đến không ít hệ lụy. Ông Lý Quang Diệu ngay ngày đầu lập quốc đã thấy viễn cảnh không xa Hồng Công sẽ về Trung Quốc nên âm thầm xây dựng Singapore thay vị trí ấy của Hồng Công.

Ông thành công, nhưng ông cũng thấy trước vai trò trung chuyển các dịch vụ tài chính, hàng hải của Singapore sắp giảm, ông chuyển qua thu hút giáo dục, y tế… Những chuyến đi sau khi thôi chức Thủ tướng, cho đến trước khi qua đời không lâu ông vẫn còn làm việc này cho đảo quốc. Đó là tấm gương có tầm nhìn xa và không thỏa mãn thành quả.

Muốn tái cơ cấu kinh tế, trước hết phải tái cấu trúc mô hình hệ thống quản trị trên tinh thần dân chủ, lấy “dân là gốc”

Nguyên phó Thủ tướng Vũ Khoan có lần đã nói, đại ý: “Suy thoái kinh tế thế giới thì đâu cũng bị ảnh hưởng, nhưng tại sao Lào và Campuchia không khó khăn như ta”.

Bốn mươi năm thống nhất đất nước, 30 năm đổi mới cơ chế quản lý, mà chúng ta đi không qua khỏi cánh đồng là do tư duy và nền quản trị quốc gia có những vấn đề chưa tương thích?

Còn nguyên nhân kinh tế trực tiếp là do con đường huyết mạch xuyên Việt (QL 1A) chưa xong và cảng cho cánh đồng “vựa lúa” chưa có cho tàu một vạn tấn thì làm sao cả nước thoát nghèo? Người viết đã kinh qua từ xã đến tỉnh suốt 40 năm làm nông nghiệp và sống với nông dân để viết ra ra những lời tâm huyết này.

Nguyễn Minh Nhị (nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang)

Vô vàn cơ hội khởi nghiệp nông nghiệp

Đức Tâm (TBKTSG Online) – Thế giới đang tiến đến giai đoạn yêu cầu phải sản xuất nông sản nhiều hơn với nguồn tài nguyên ít hơn. Điều đó đặt ra nhiều thách thức nhưng cũng mang lại vô vàn cơ hội khởi nghiệp trong nông nghiệp.

Đó là ý kiến chung của nhiều diễn giả trong phiên thảo luận chủ đề “Sức sáng tạo và cơ hội khởi nghiệp của các bạn trẻ Đồng bằng Sông Cửu Long (ĐBSCL)” tại Diễn đàn kết nối các doanh nghiệp ĐBSCL (Mekong Connect CEO Forum) do Câu lạc bộ Doanh nhân dẫn đầu phối hợp với Hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam Chất lượng cao tổ chức chiều 4-9 tại Thành phố Cần Thơ.


Ông Nguyễn Khắc Minh Trí – người cầm micro – say sưa kể về
những ứng dụng công nghệ trong nông nghiệp – Ảnh: Đức Tâm

Phát biểu tại phiên thảo luận, ông Huỳnh Quang Vinh – Phó Tổng Giám đốc Công ty CP Rau quả thực phẩm An Giang chia sẻ, ĐBSCL luôn là một vùng trũng của cả nước xét trên mọi khía cạnh từ thu hút vốn đầu tư, phát triển hạ thành cơ sở cũng như phát triển nông nghiệp. Câu chuyện nông nghiệp hiện tồn tại vô số vấn đề, đó là thách thức nhưng cũng chính là cơ hội cho các bạn trẻ khởi nghiệp, ông Vinh nói.

Dẫn chứng cho phát biểu của mình, ông Vinh lấy ngay chính câu chuyện công ty ông thường xuyên phải trả lại một lượng xoài nhất định khi mua xoài của nông dân do sản phẩm bị dập, không đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu. Vậy, làm sao sử dụng vật liệu phù hợp để chế tạo các sọt đựng xoài để giải bài toán va đập chính là một cơ hội cho các bạn trẻ, ông Vinh phân tích.

“Đó chỉ là một ví dụ nhỏ. Nông nghiệp ĐBSCL đối mặt vô sô vấn đề, và mỗi một vấn đề là một cơ hội cho các bạn trẻ khởi nghiệp.” một lần nữa ông Vinh nhấn mạnh.

Ở góc nhìn của một người nước ngoài về câu chuyện khởi nghiệp Việt Nam, bà Meirav Eilon Shahar – Đại sứ Đặc mệnh Toàn quyền của Israel tại Việt Nam, trong một clip phỏng vấn do BSA đưa vào ngay phiên thảo luận, nhận xét: “Qua theo dõi các hoạt động khởi nghiệp tại VN, tôi thấy chủ yếu thuộc lĩnh vực điện thoại và web, đó là điều bình thường.

Nhưng tôi phải nói rằng ở một đất nước mà 70% dân số tham gia hoạt động nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và các ngành liên quan, các bạn không thể cầm cự nếu thiếu đi những hoạt động khởi nghiệp và đổi mới trong nông nghiệp.”

Theo bà Shahar, thế giới đang tiến đến giai đoạn cần phải sản xuất nhiều hơn trong điều kiện tài nguyên ít hơn do sự gia tăng dân số toàn cầu, điều đó đòi hỏi sự chính xác cao trong nông nghiệp, hay nói cách khác chính là cần công nghệ và sự đổi mới trong công nghệ.

Vậy thế nào là sự chính xác cao trong nông nghiệp?

Nói nôm na, theo ông Nguyễn Khắc Minh Trí, Giám đốc Công ty MimosaTek, một công ty khởi nghiệp công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp, thì nông nghiệp chính xác cao là cung cấp nguyên liệu đầu vào cho cây trồng/vật nuôi đúng liều lượng, đúng thời điểm tương ứng với từng giai đoạn phát triển của cây trồng/vật nuôi.

Để dễ hiểu hơn, ông Trí đưa ra một ví dụ minh họa từ câu chuyện nghe qua khá nghịch lý trong việc nuôi tôm. “Người dân thường, vì thương con tôm mình nuôi, nên cho ăn nhiều hơn lượng cần thiết. Cho ăn nhiều hơn với mong muốn tôm phát triển tốt hơn nhưng ngược lại tôm lại chậm phát triển. Nghịch lý chăng? Điều này không hề nghịch lý vì khi lượng thức ăn thừa sẽ phân hủy và ảnh hưởng đến môi trường sống của tôm. Điều này làm tôm chậm phát triển, chưa kể một lượng thức ăn dư thừa bị dùng phí đi không cần thiết.” ông Trí chia sẻ.

Không dừng lại ở vấn đề nêu ra, ông Trí còn kể thêm giải pháp mà các bạn Úc đã thực hiện thành công là họ lắp các cảm biến để giám sát việc tôm ăn thức ăn. Cụ thể, khi tôm ngừng ăn, các cảm biến sẽ truyền tín hiệu đến máy cho tôm ăn ngừng hoạt động.

Câu chuyện thứ hai được ông Trí kể không kém phần thú vị đó là bệnh phấn trắng ở cây nho Ấn Độ. Khi nho sắp thu hoạch, lại bị bệnh phấn trắng, nông dân lo lắng xịt thuốc trừ sâu với khối lượng lớn để xử lý và vô tình để lại hàm lượng thuốc trừ sâu quá mức cho phép. Đơn hàng không thể xuất khẩu. Mùa vụ thất bại. Và sau đó Ấn Độ giải quyết bài toàn này nhờ nông nghiệp chính xác bằng cách lắp cảm biến để kiểm soát quá trình phát triển của bệnh và đưa ra phương án xử lý từ sớm để tiết kiệm lượng thuốc mà lại tăng tính hiệu quả.

Cơ hội khởi nghiệp trong nông nghiệp là điều không thể bàn cãi. Tuy nhiên số lượng các bạn trẻ quan tâm đến lĩnh vực này còn khá khiêm tốn. Vậy đâu là nguyên nhân và giải pháp cho vấn đề này?

Từ góc nhìn của một doanh nhân trong nước, ông Nguyễn Tuấn Quỳnh, Tổng Giám đốc Công ty CP Nhiên liệu Sài Gòn cho rằng có 2 nguyên nhân chính khiến ít bạn trẻ dám khởi nghiệp trong nông nghiệp; một là lĩnh vực này đòi hỏi vốn đầu tư lớn nhưng thời gian thu hồi vốn lâu; hai là điều kiện vay vốn, nhận hỗ trợ vốn khó khăn.

Xin hãy nghe ý kiến của bà Shahar, một người con của đất nước Israel nổi tiếng với tinh thần khởi nghiệp, chia sẻ: “Đôi khi thế hệ trẻ Việt Nam nghĩ rằng nông nghiệp không dành cho họ. Họ muốn trở thành doanh nhân. Hay mọi người đều muốn làm trong ngành ngân hàng. Điều đó cũng tốt thôi. Nhưng tôi cho rằng ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản, bằng những đột phá công nghệ, có thể làm mới (re-brand) chính mình. Các bạn cần đột phá công nghệ khi trước khi làm ra sản phẩm. Nhưng các bạn cũng phải làm mới nông nghiệp, chỉ cho thế hệ trẻ thấy rằng nông nghiệp không nhất thiết phải làm theo cách cũ. Rằng nông nghiệp chính là tương lai. Đây không chỉ là nhu cầu riêng của Việt Nam mà còn là nhu cầu của toàn thế giới.”

Vậy các bạn trẻ nên làm nông nghiệp như thế nào? Từ kinh nghiệm bản thân, ông Vinh khuyên các bạn trẻ hãy nên bằng đầu bằng những dự án thật nhỏ, để tồn tại, tích lũy rồi mới tính đến chuyện phát triển mở rộng thị trường. Còn những bạn thích làm lớn, hãy tự dự phòng ngân sách chi tiêu của mình ít nhất trong một năm trong điều kiện chưa có doanh thu.

Trước câu hỏi, chính xác hơn là một lời than của một bạn trẻ cho rằng khởi nghiệp trong nông nghiệp quá khó khăn, ông Vinh thẳng thắn: “tôi không đồng ý cách suy nghĩ như vậy. Khởi nghiệp chẳng có gì dễ cả, nếu dễ người ta đã làm hết rồi. Khởi nghiệp là để biến khó khăn thành cơ hội. Còn nếu ngại khó khăn thì đừng nên khởi nghiệp.”

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s