Khi Nhà nước “nghiện” quản

Posted: September 6, 2015 in Uncategorized
Tags:

Tư Giang (TBKTSG) – Ý kiến các chuyên gia tại hai hội thảo về cải cách thể chế cuối tuần trước.

� Xem thêm: Mô hình phát triển cho ai?


Nhà nước phải thay đổi chức năng, từ Nhà nước chỉ huy, sở hữu sang Nhà nước
kiến tạo phát triển để phục vụ người dân và doanh nghiệp. Ảnh: MINH KHUÊ

Hãy từ bỏ vòng kim cô ý thức hệ

Ông Trương Đình Tuyển vẫn cảm thấy day dứt khi nhớ về quyết định thành lập Cục Quản lý cạnh tranh nằm dưới ô của Bộ Thương mại, khi ông còn làm bộ trưởng bộ này. Cơ chế đó vô hình trung đã vô hiệu hóa vai trò và hoạt động của cơ quan vốn rất quan trọng để đảm bảo cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường mà Việt Nam đeo đuổi. Có lần, lãnh đạo Cục Quản lý cạnh tranh muốn điều tra Tổng công ty Thép do nghi ngờ doanh nghiệp nhà nước này vi phạm Luật Cạnh tranh. Tuy nhiên, khi việc điều tra còn chưa bắt đầu, thì họ đã bị một lãnh đạo bộ “tuýt còi”. “Có thứ trưởng không cho điều tra… cơ chế nhà nước như vậy thì làm sao thị trường tốt được”, ông Tuyển nói tại hội thảo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cuối tuần trước.

Cũng ông Tuyển, nói tại Diễn đàn Kinh tế mùa thu được tổ chức liền trước hội thảo trên: “Nhu cầu cải cách thể chế hiện nay là rất bức xúc. Các quốc gia chỉ giàu có lên khi có thể chế tốt”. Ông khẳng định: “ Nhà nước phải thay đổi chức năng, từ Nhà nước chỉ huy, sở hữu sang Nhà nước kiến tạo phát triển để phục vụ người dân và doanh nghiệp. Nếu chúng ta không làm được điều này, thì đất nước sẽ còn tụt hậu xa hơn”.

Nhận xét của ông Tuyển không bị bất kỳ ai trong giới quan chức chính phủ, đại biểu Quốc hội, và học giả phản bác trong hai hội thảo về thể chế rất được chú ý cuối tuần trước. Người ta đều thống nhất một điểm chung: Nhà nước phình to, ôm đồm, trùng lắp, thiếu giải trình… đang trở thành lực cản cho thị trường phát triển.

Tại diễn đàn này, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên cho rằng: “ Sự trói buộc đối với đất nước giờ nằm ở thượng tầng kiến trúc”. Một khía cạnh quan trọng của vấn đề được ông phân tích: ngân sách đang phải gánh cho hoạt động của Chính phủ và cả hệ thống chính trị, tức tương đương 2-3 nhà nước. Trong khi đó, quản trị nhà nước lại dựa trên nguyên tắc tập thể, dẫn đến tình trạng không ai chịu trách nhiệm. Theo ông, đã đến lúc phải thiết kế lại cấu trúc quyền lực trên nền tảng ngân sách, phải tuyên ngôn là tiền của dân không chịu được cách nuôi Nhà nước như vậy”.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung thì kể lại thực tế của hàng loạt doanh nghiệp ở Hải Phòng mà ông đến thăm gần đây, cùng Phó thủ tướng Vũ Đức Đam. Cơ quan thuế cứ một mực đòi doanh nghiệp trưng ra hóa đơn gốc của các đối tác nước ngoài. Hay hải quan lại có quyền xác nhận doanh nghiệp trong nước (phải) đủ điều kiện (mới được) ký hợp đồng gia công cho đối tác nước ngoài. Chỉ vào một hình, trong đó, một người è cổ, còng lưng vác bao tải nặng, cắm mặt dò dẫm bước đi trên một cây gỗ, ông Cung ví von đó là tình trạng của doanh nghiệp tư nhân. Bao tải nặng là chi phí, cầu khỉ là nền tảng thể chế. Ông nói: “Tình thế của doanh nghiệp là vậy. Họ phải cúi đầu dò dẫm để cố không rơi xuống sông, nên họ không thể vươn xa… Vấn đề hiện nay nằm ở Nhà nước”.

Ông Cung nhận xét: “ Công cụ quản lý, tư duy quản lý không đổi, là đứng bề trên, là kiểm soát thị trường, doanh nghiệp. Nhà nước đặt ra bao nhiêu rào cản để quản, họ nghiện quản”.

Bà Phạm Chi Lan tỏ ra lo ngại: “Đến bây giờ thì bản thân người dân thường cũng thấy được những vấn đề của đất nước. Họ hiểu các vấn đề của hệ thống, của bộ máy… Khi cam kết hội nhập quá nhiều mà trong nước không làm được do thể chế không thay đổi, thì thị trường này sẽ chỉ là cơ hội cho doanh nghiệp nước ngoài để họ dẫn dắt chúng ta”. Bà nói: “ Đừng để lúng túng về lý luận hôm nay cản trở sự phát triển”.

Ông Võ Đại Lược đồng tình: “ Chúng ta có nhiều chuyện nhưng chuyện kinh tế không thể chỉ giải quyết được bằng các vấn đề kinh tế...”. Ông Lược giải thích, khu vực doanh nghiệp nhà nước không sao cải cách được, khi vẫn còn xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Ông nói: “ Nếu tư duy cũ thì không thể vẽ ra mô hình mới… Nếu chúng ta không nghĩ như thế giới thì chúng ta không tiến cùng được. Tụt hậu về tư duy là tụt hậu quan trọng nhất”.

Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch góp lời: “ Nếu cải cách thể chế chỉ toàn kinh tế thế này, bộ máy và con người không cải cách thì sửa 100 cái luật cũng không cải cách được gì”. Ông Lịch khẳng định, bộ máy công quyền phải là trọng tâm cải cách nếu muốn nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

Trọng tâm cải cách nằm ở phía Nhà nước

Đây là thời điểm cho cải cách lần hai mà trọng tâm là nâng cao chất lượng của nền kinh tế Việt Nam theo hướng kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại, và hội nhập. Nội dung của cuộc cải cách này nằm ở cả thị trường và Nhà nước. Về phía Nhà nước, không chỉ thu hẹp lại quy mô và phạm vi của Nhà nước, mà còn phải đổi mới toàn diện khu vực nhà nước, nhất là quản trị quốc gia ở các lĩnh vực sau:

Đổi mới vai trò, chức năng của Nhà nước phù hợp với vai trò, chức năng của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường đầy đủ, hiện đại và hội nhập. Nhà nước bổ sung cho thị trường, kết hợp với thị trường.

Đổi mới cơ cấu tổ chức nhà nước, nhất là tổ chức chính phủ, cơ cấu của các bộ, cơ quan thuộc Chính phủ.

Đổi mới, thay thế công cụ quản lý nhà nước lạc hậu, di sản của kế hoạch hóa tập trung, của thể chế hành chính xin – cho bằng các công cụ quản lý nhà nước khác hướng đến duy trì kỷ cương, trật tự xã hội, thiết lập và duy trì cạnh tranh thị trường công bằng, khắc phục khiếm khuyết của thị trường.

Đổi mới và nâng cao năng lực của bộ máy nhà nước, nhất là thái độ và động lực làm việc, thực thi công vụ của công chức.

Trọng tâm cải cách nằm ở phía Nhà nước vì cải cách ở phía Nhà nước là điều kiện cần cho các cải cách ở phía thị trường. Việc thu hẹp, giảm quy mô của kinh tế nhà nước phải tiến hành đồng bộ với đổi mới quản lý nhà nước và phát triển, nâng cấp trình độ thị trường của nền kinh tế, nếu không sẽ làm cho chủ nghĩa thân hữu nặng nề hơn.

(Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Nguyễn Đình Cung)

Mô hình phát triển cho ai?

Trần Ngọc Thơ (TBKTSG) – Câu chuyện mô hình phát triển của Việt Nam hiện nay là gì rất ít khi được Nhà nước bàn đến, bài viết dưới đây thử khái quát một số dòng chính nghiên cứu về thể chế kinh tế thị trường trên thế giới để tìm cách trả lời xem liệu chúng có tồn tại ở Việt Nam.


Chưa bao giờ giữa doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp tư nhân có sự bình đẳng, khi khu vực
doanh nghiệp nhà nước được khẳng định giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế. Ảnh: Uyên Viễn

1. Mô hình môi trường đầu tư thân thiện (Market-friendly approach)

Có. Đây là mô hình mà các nhà kinh tế hàn lâm của Ngân hàng Thế giới luôn cổ xúy cho Việt Nam và các nền kinh tế đang phát triển trong vài thập kỷ qua. Cách tiếp cận này cho rằng các quốc gia đang phát triển còn nhiều khiếm khuyết trong các yếu tố cấu thành nền kinh tế thị trường nên nhà nước phải đóng vai trò nhất định trong việc tạo ra cơ sở hạ tầng, hệ thống bệnh viện, trường học để tạo lập và cung cấp một môi trường đầu tư thân thiện cho khu vực tư nhân. Các nhà lãnh đạo Việt Nam gần đây có nói đến thuật ngữ nhà nước kiến tạo phát triển thay cho một nhà nước chỉ huy chắc cũng hàm ý mô hình này. Các thành quả đạt được trong thời gian qua như số lượng doanh nghiệp khu vực tư nhân ngày càng phát triển cùng với hàng loạt cải cách thủ tục hành chính cho thấy cách tiếp cận kinh tế thị trường theo kiểu này có kết quả bước đầu tương đối khá.

Không. Mặc dù là định chế luôn tư vấn cho Việt Nam đi theo mô hình kinh tế này nhưng tại Diễn đàn Kinh tế mùa thu mới được tổ chức tuần rồi, ông Sandeep Mahajan, kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam, lại khẳng định “chưa bao giờ giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và doanh nghiệp tư nhân có sự bình đẳng”. Về phía Việt Nam, các văn kiện chính thức luôn khẳng định vai trò chủ đạo của DNNN. Sự công khai như thế đồng nghĩa với hàm ý không thể nào có chuyện khu vực không chủ đạo là kinh tế tư nhân lại bình đẳng với khu vực các DNNN giữ vai trò chủ đạo.

2. Mô hình sự lựa chọn trong chính sách công (Public-choice approach)

Có. Mô hình này xuất phát từ lý thuyết sự lựa chọn trong chính sách công (Public-choice theory). Theo đó các chính trị gia hay công chức nhà nước chẳng qua cũng chỉ là con người kinh tế chứ không phải là những chính trị gia lãng mạn hay thần thánh gì cho cam. Các hành động của họ luôn dựa trên những kỳ vọng hợp lý với nguyên lý tối đa hóa lợi ích hữu dụng cho riêng bản thân mình thay vì cho người dân và xã hội. Nguồn lực xã hội vì vậy luôn bị phân bổ một cách méo mó, tùy tiện và gây ra nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sự phát triển dài hạn của một quốc gia.

Vấn đề nhóm lợi ích cấu kết với các giới chức chính quyền tạo ra các đặc quyền đặc lợi làm giàu bất chính đã được các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước công khai chính thức nhiều lần trước công chúng. Chủ nghĩa tư bản thân hữu có xu hướng ngày càng nguy hiểm ở chỗ họ có mong muốn tột cùng là tối đa hóa lợi ích bản thân trong thời gian ngắn nhất. Kinh doanh đất đai, mua bán dự án hay đào tài nguyên lên để bán là con đường cực ngắn và dễ dàng nhất để tối đa hóa lợi ích bản thân. Mô hình này đặt trong bối cảnh Việt Nam phải hiểu đúng là mô hình dĩ công vi tư [lấy của công làm của tư].

Không. Ở Việt Nam, các chính trị gia và công chức luôn được đào tạo với kỳ vọng trở thành những nhà chính trị lãng mạn chứ không phải là con người kinh tế (Politics without romance). Còn nếu họ có tham nhũng thì sẽ có công cụ phòng ngừa hữu hiệu là luân chuyển cán bộ cùng với hàng loạt cơ chế giám sát nội bộ phức tạp để ngăn ngừa không cho điều này xảy ra. Họ còn thường xuyên được huấn luyện thông qua các phong trào học tập rầm rộ. Mô hình dĩ công vi tư vì vậy sẽ không thể tồn tại hay chí ít khó có đất sống ở Việt Nam. Hệ thống lý thuyết của Nhà nước kỳ vọng là như vậy!

3. Mô hình thay đổi cấu trúc (Structural-change model)

Có. Mô hình này có nguồn gốc từ các lý thuyết cho rằng các quốc gia chậm phát triển cần phải tập trung vào việc thay đổi cấu trúc kinh tế nội địa từ việc lệ thuộc nặng vào nông nghiệp để chuyển sang một nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ phát triển đa dạng hóa. Cách nay vài chục năm Việt Nam đã phát triển theo mô hình này nhưng cho đến giờ vẫn còn nhiều méo mó: nông nghiệp vẫn là một nền sản xuất nhỏ tiểu nông còn công nghiệp cũng chỉ biết gia công lắp ráp với giá trị gia tăng vô cùng thấp. Để chỉnh sửa các méo mó này, gần đây Việt Nam công bố với người dân và thế giới mình đang chuyển sang mô hình mới để tái cấu trúc sâu rộng nền kinh tế với các trọng tâm ưu tiên là tái cấu trúc DNNN, tái cấu trúc đầu tư công và tái cấu trúc hệ thống tài chính.

Không. Tái cấu trúc DNNN nói thẳng là thất bại khi các chỉ tiêu cổ phần hóa DNNN hàng năm đều không bao giờ đạt được mục tiêu. Tái cấu trúc đầu tư công cũng có số phận tương tự khi các địa phương vẫn đầu tư tràn lan, ngân sách nhà nước ngày càng phình to, bội chi ngân sách, nợ công ngày càng có xu hướng đáng ngại. Tái cấu trúc hệ thống tài chính và ngân hàng vẫn còn nhiều điều chưa rõ ràng với tình trạng sở hữu chéo vẫn vô cùng phức tạp. Đối với hệ thống tài chính, tình trạng còn đáng ngại hơn, với việc nền kinh tế vẫn dựa vào kênh huy động vốn thông qua ngân hàng là chủ yếu, thay vì thông qua kênh thị trường chứng khoán. Nhìn chung quá trình tái cấu trúc hiện nay có thể khái quát lại thành ba không: không có chủ thể chỉ huy (đầu tư công), không có phương tiện (không có hệ thống tài chính đúng nghĩa để hấp thu cổ phần phát hành của các DNNN) và không còn động lực tái cấu trúc [sẽ bàn ở phần kết]. Còn về cấu trúc tổng thể của nền kinh tế thì các yếu tố dẫn dắt tăng trưởng ở Việt Nam hiện nay hoàn toàn tập trung vào đầu tư tài sản vật chất mà bỏ qua yếu tố đầu tư cho con người, giáo dục và y tế.

4. Mô hình hội nhập kinh tế quốc tế (International-dependence revolution)

. Mô hình này dựa trên sự tương thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trên thế giới nên các nước cần phải mở cửa thị trường để buôn bán và hợp tác qua lại. Thời gian qua Việt Nam tham gia hàng loạt hiệp định mở cửa thương mại quan trọng như WTO cùng với hàng chục Hiệp định Thương mại tự do (FTA), sắp tới sẽ là TPP và hàng loạt những FTA thế hệ mới với một loạt đối tác thương mại hàng đầu thế giới như Hoa Kỳ, EU.

Không. Tuy hội nhập nhanh và sâu rộng nhưng về mặt xuất khẩu cũng chỉ khoảng 30% doanh nghiệp Việt được hưởng ưu đãi thuế quan theo FTA còn thị trường nội địa thì lại tràn ngập hàng hóa và dịch vụ nước ngoài. Điều đáng ngại hơn nữa là sự lệ thuộc ngày càng mạnh vào nền kinh tế Trung Quốc đầy bất ổn và nguy cơ. Hội nhập quốc tế sâu rộng như thế thì có cũng xem như không.

Tăng trưởng thấp dẫn đến hết động lực cải cách thể chế

Tất cả chiến lược và tầm nhìn phát triển hiện nay đều được các nhà lý luận hướng đến mục tiêu dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ. Nhưng điều mà ai cũng thấy là tất cả đều kiệt sức quá nhanh trước khi đến đích. Cải cách thể chế toàn diện để dẫn đến tăng trưởng là giải pháp ai cũng thấy. Nhưng tại sao nhà nước đã rất quyết liệt cải cách thể chế mà kết quả vẫn không thay đổi bao nhiêu? Mối quan hệ nhân quả ngược từ chiều tăng trưởng đến cải cách thể chế có thể là nguyên nhân chính nhưng chưa bao giờ được các nhà lý luận của nhà nước nhìn nhận thấu đáo. Theo đó, cải cách thể chế dẫn đến tăng trưởng cao và ngược lại khi tăng trưởng [bền vững] ngày càng đuối dần thì cải cách thể chế cũng mất luôn động lực. Chính quyền địa phương và các bộ ngành trung ương có cần cải cách thể chế gì đâu mà nhiệm kỳ này vẫn đảm bảo mục tiêu tăng trưởng. Chỉ bằng cách cho thuê đất, chỉ định thầu cho nhanh các công trình lớn hay đào tài nguyên đem bán là hoàn thành ngay sứ mệnh. Chủ nghĩa tư bản thân hữu, các chaebol tư nhân ngày càng phát triển mạnh như hiện nay chính là từ mối quan hệ nhân quả ngược này. Nếu thật sự là như thế thì đó sẽ là nguy cơ lớn nhất cho tăng trưởng.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s