Dối trá, tham nhũng, “rửa tai” & dân chủ

Posted: September 10, 2015 in Uncategorized
Tags:

Bùi Hoàng Tám (Basam) theo Dân Trí – Nơi nào mà thủ trưởng thích nghe lời nịnh nọt thì ở đó, sự dối trá lên ngôi và ngược lại. Nếu dối trá – tham nhũng là một cặp đồng hành thì “rửa tai” – dân chủ chính là “bài thuốc” chữa trị hữu hiệu.

� Xem thêm: Trích Tuần Việt Nam phỏng vấn với GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm.

Nếu đặt một câu hỏi, ví như điều đáng lo ngại nhất trong xã hội hiện nay là gì? Có lẽ nhiều người sẽ thốt lên: Tham nhũng!

Đúng, rất đúng bởi đã hơn một lần, nhiều vị lãnh đạo cao cấp của Đảng, Nhà nước Việt Nam từng ví tham nhũng với “giặc nội xâm”.

Thế nhưng nhìn sâu xa, tham nhũng chỉ là một hình thức của điều lớn hơn, bao trùm hơn, đó là sự dối trá. Hay nói cách khác, tham nhũng chỉ là một bộ phận của dối trá. Căn bệnh được GS Hoàng Tụy, một nhà khoa học chính trực và thanh liêm đã từng thốt lên trên báo Dân trí cách đây mấy năm, rằng dối trá “đang là một mối nhục lớn”.

Nhà báo Hữu Thọ sinh thời cũng đã hơn một lần lên tiếng lo ngại về thực trạng này. Ông từng nói dối trá thì thời nào cũng có, vấn đề là nó xuất hiện với dung lượng và tần số thế nào? Rồi khẳng định, dù chưa có con số thống kê nhưng dối trá “đang ở mức trầm trọng”.

Ngày 9/9, trên báo Vietnam Net, bài Thuốc nào ‘trị’ quan chức ‘nói một đằng làm một nẻo’?”, trả lời câu hỏi “Hiện nay những thói hư tật xấu nào, những hạn chế nào đang được đánh giá là nghiêm trọng nhất?”, GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm – Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. HCM; ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương cho biết: “Theo kết quả điều tra của chúng tôi (thuộc đề tài Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn mới – PV) với sự tham gia của gần 6.000 người thuộc các tầng lớp, ngành nghề ở cả ba miền thì bệnh giả dối, nói không đi với làm, là tật xấu nghiêm trọng nhất chiếm 81,0%. Kế đến là bệnh thành tích 75,1%. Thứ ba là bệnh thiếu ý thức pháp luật 68,2%”.

Ngạn ngữ phương Tây có câu đại để một nửa cái bánh mì là một nửa cái bánh mì, một nửa sự thật là sự dối trá.

Suy cho cùng, việc “nói không đi đôi với làm” và “bệnh thành tích” về sâu xa, đó là lời nói dối hay sự dối trá.

Về giải pháp, sinh thời Nhà báo Hữu Thọ đã từng cho rằng muốn không phải nghe những lời nói dối thì phải biết “rửa tai” để nghe lời nói thật.

“Sự thật nó không tự đến mà anh phải tìm đến nó. Rồi anh phải đủ niềm tin ở người ta thì người ta mới nói sự thật với anh. Anh cũng phải có đủ bản lĩnh để sàng lọc, tìm ra những thông tin chính xác. Muốn nghe được lời nói thật là phải công phu lắm, phải thành tâm lắm. Hãy rửa tai để nghe lời nói thật vì không có lời nói thật nào mà không có vị chua chát”. Ông Thọ nói.

Còn GS Thêm ở bài báo trên cho rằng: “Dân có thực sự làm chủ, thực sự có quyền thì quan chức sẽ không còn dám đứng trên pháp luật. Khi đó mới có thể thực thi được giá trị pháp quyền. Nếu có pháp quyền thực sự, quan cũng như dân đều bình đẳng như nhau trước pháp luật, thì quan chức sẽ phải nghiêm túc hơn khi nói và làm, sẽ không còn dám “nói một đằng làm một nẻo”, quản lý sẽ minh bạch, xã hội sẽ đi vào nền nếp, niềm tin của dân chúng sẽ được khôi phục…”.

Nói như GS Thêm, điều đó có nghĩa là ở đâu có dân chủ thực sự thì ở đó, sự dối trá sẽ không hoành hành và ngược lại, nơi nào thiếu (hoặc chưa) có dân chủ, đó là mảnh đất màu mỡ cho sự dối trá lên ngôi.

Tóm lại, GS Hoàng Tụy cho rằng thực trạng sự “dối trá đang là mối nhục lớn” mà “thuốc trị” nó, theo Nhà báo Hữu Thọ, cần phải bết “rửa tai để nghe lời nói thật” thì với GS Trần Ngọc Thiêm chính là tinh thần dân chủ thực sự.

Đây là những đánh giá khách quan, trung thực và những biện pháp hữu hiệu, có tầm chiến lược của các nhà khoa học, nhà báo lớn.

Còn người viết bài này thì nhận thấy, nơi nào mà thủ trưởng thích nghe lời nịnh nọt thì ở đó, sự dối trá lên ngôi và ngược lại.

Nếu dối trá – tham nhũng là một cặp đồng hành thì “rửa tai” – dân chủ chính là “bài thuốc” chữa trị hữu hiệu./.


Lễ giỗ tổ Hùng Vương tại Đền Hùng (Phú Thọ) năm 2015. Ảnh: Thể thao Văn hóa

Trích Tuần Việt Nam phỏng vấn với GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm, Giám đốc Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng, Đại học KHXH&NV, Đại học Quốc gia TP. HCM; ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương, nhìn lại 30 năm Đổi mới văn hóa: thành tựu, những yêu cầu thách thức cần vượt qua, những vấn đề cần tiếp tục đổi mới trong giai đoạn tiếp theo. (xem toàn bài theo link)

[:-/] Những dấu hiệu cấp báo VN phải có đột phá lớn “ Những điều này đang cấp báo cho chúng ta thấy phải có đột phá lớn về văn hóa. Cần phải xây dựng lại nền văn hóa cho con người Việt Nam để họ đủ sức kháng cự với cái xấu, cái ác”.

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Thời điểm chúng ta Đổi mới trùng với thời điểm thế giới hội nhập, chuyển qua giai đoạn mới. Cuộc cách mạng trong công nghệ thông tin, hệ thống Internet (mạng toàn cầu) đã tác động vào tất cả các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sống. Mạng toàn cầu cùng với sự phát triển vượt bậc của viễn thông đã giúp toàn thế giới vượt ra khỏi mọi giới hạn không gian chật hẹp, đưa thông tin liên lạc đến từng ngõ ngách, từng nhà.

Trong khi đem lại lợi ích rất lớn thì chính toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng về khoa học – công nghệ này cũng đồng thời đe dọa văn hóa dân tộc của các quốc gia. Mất văn hóa sẽ mất rất nhiều thứ, cho nên Liên Hiệp Quốc đã đề ra “Thập kỷ phát triển văn hóa” từ năm 1987 đến 1997 và kêu gọi khoan dung văn hóa, chấp nhận sự khác biệt của nhau. Bởi hội nhập sẽ có va chạm, nếu ai cũng lấy mình làm chuẩn thì làm sao hội nhập được.

Vì vậy, “khoan dung”, “chấp nhận sự khác biệt” là ứng xử cần thiết cho các nền văn hóa, các quốc gia trong quá trình giao lưu, hội nhập quốc tế. Nước mạnh hơn chấp nhận nước yếu hơn, phương Tây chấp nhận phương Đông và ngược lại, cùng tôn trọng lẫn nhau.

Toàn thế giới quan tâm đến văn hóa, nên Việt Nam chúng ta không đứng ngoài được. Vấn đề là cách quan tâm như thế nào, mức độ ra sao.

…Điều đầu tiên phải kể đến là mọi sinh hoạt trong xã hội cởi mở ra. Đời sống tinh thần và nhu cầu tâm linh được “cởi trói”. Các lễ hội được khôi phục, đình chùa miếu mạo được sửa sang, tôn giáo được phát triển…

Thứ hai, nhờ có Đổi mới cộng với sự tiến bộ của khoa học công nghệ thế giới mà đời sống tinh thần được nâng lên rất nhiều. Làm sao trước đây có thể mơ được xem tivi có hàng trăm kênh, phim ảnh dồi dào suốt cả ngày, muốn xem gì có nấy, như bây giờ? Nhờ Đổi mới, mở cửa, nhân dân ta đã được tiếp cận, thụ hưởng những thành tựu của các nền văn hóa khác nhau. Phim ảnh sách báo dồi dào khiến đời sống tinh thần nhiều màu sắc, rực rỡ, phong phú hơn xưa. Người dân có thể dễ dàng tiếp cận các giá trị văn hóa nghệ thuật mới, tiến bộ của thế giới.

Thứ ba, trong thời gian 30 năm qua, công cuộc Đổi mới đã khẳng định được nhiều giá trị văn hóa dân tộc, thể hiện qua số lượng các di sản được thế giới công nhận rất nhiều và rất ấn tượng. Tiềm năng về văn hóa dân tộc có dịp bung ra. Cảnh quan thiên nhiên kỳ vĩ như Hạ Long, Phong Nha Kẻ Bàng; sản phẩm văn hóa vật chất lâu đời như cố đô Huế, hoàng thành Thăng Long; sản phẩm văn hóa tinh thần độc đáo như không gian cồng chiêng Tây Nguyên, quan họ Bắc Ninh, hát xoan Phú Thọ, đờn ca tài tử Nam Bộ… Đó là những giá trị văn hóa dân tộc vô cùng đa dạng, phong phú của chúng ta đóng góp vào quá trình hội nhập quốc tế.

Những thành tựu này ít nhiều đã mang lại những giá trị và lợi ích, tác động đến người dân và xã hội ta thời gian qua. Đặt trong bối cảnh nền kinh tế thị trường của nước ta còn chưa hoàn thiện, chênh lệch giàu nghèo gia tăng, xã hội còn có nhiều bất công thì vai trò của văn hóa vô cùng quan trọng.

Nhờ có Đổi mới, văn hóa truyền thống được quan tâm nhiều hơn. Từ chỗ trước đây đặt nặng “lợi ích quốc tế” một cách có phần cực đoan, chúng ta có những lúc đã xem nhẹ yếu tố văn hóa dân tộc, thì nay văn hóa dân tộc được đặt đúng vị trí để phát huy vai trò của nó. Dù rằng quan tâm đến văn hóa là xu thế tất yếu trong giai đoạn toàn cầu hóa, song nếu không có Đổi mới, không thay đổi tư duy, thì sẽ không nắm bắt kịp thời xu thế, và chắc chắn chúng ta đã bị gạt ra bên lề.

…Chiến tranh là một phần thôi, còn lại chủ yếu là do nhận thức còn hạn chế. Trước khi đất nước bị chia đôi, nước ta đã có Đào Duy Anh, Nguyễn Văn Huyên… có nhiều công trình nghiên cứu học thuật về văn hóa. Đề cương văn hóa của Đảng năm 1943 đã coi trọng văn hóa.

Song trong suốt thời kỳ đất nước bị phân đôi, ở miền Bắc, ngoài những nghiên cứu khảo cổ học rất xuất sắc về thời đại Hùng Vương, việc nghiên cứu về văn hóa dân tộc gần như bị lãng quên. Trong khi đó ở phía Nam thì việc nghiên cứu văn hóa dân tộc lại rất sôi nổi với hàng loạt công trình của Kim Định, Toan Ánh, Lê Văn Siêu, Bình Nguyên Lộc, Nguyễn Duy Cần…

Sự hạn chế này không phải của riêng gì chúng ta, ở các nước XHCN có hoàn cảnh giống ta thì cũng đều có hạn chế tương tự. Chẳng hạn như trong khi Bắc Triều Tiên đề cao yếu tố quốc tế vô sản, coi văn hóa dân tộc là lạc hậu, cổ hủ; ngay cả cách ăn mặc của giới lãnh đạo ở Bắc Triều Tiên cũng đều học theo Trung Quốc mà mặc áo đại cán… Trong khi ở Nam Triều Tiên (Hàn Quốc) thì, ngược lại, văn hóa dân tộc được phát triển và đề cao, góp phần nâng cao vị thế của Hàn Quốc trên trường quốc tế.

Từ khi có Đổi mới, không chỉ dân chúng được “cởi trói” mà Đảng ta cũng có điều kiện để xây dựng một đường lối độc lập tự chủ hơn. Chủ trương xây dựng một nền văn hóa vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc không chỉ là việc điều chỉnh lại nhận thức về văn hóa dân tộc, mà còn xác định vai trò đặc biệt quan trọng của văn hóa trong giai đoạn mới, giai đoạn hội nhập với thế giới.

…Bên cạnh một số thành tựu tích cực, các mặt khác kết quả chưa cao. Thậm chí nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội của chúng ta bị xuống cấp còn nặng nề hơn trước. Đáng tiếc rằng nghịch lý này đang diễn ra ngày một trầm trọng. Chúng ta cứ nhìn vào cuộc sống, xã hội diễn ra hàng ngày sẽ thấy rõ điều này.

Đọc báo chí, xem truyền hình hàng ngày chúng ta sẽ cảm nhận rõ hơn những bất ổn, trắc trở đang vận hành song song với xã hội ta. Dường như chúng ta chưa ngăn chặn sự xuống cấp, tha hóa, và, vì vậy, chúng cũng chưa có biểu hiện giảm bớt.

Nếu đặt sự phát triển trong tư duy văn hóa của Việt Nam chúng ta, những điều này đang cấp báo cho chúng ta thấy phải có đột phá lớn về văn hóa. Cần phải xây dựng lại nền văn hóa cho con người Việt Nam để họ đủ sức kháng cự với cái xấu, cái ác. Nói cách khác, con người là nhân vật trung tâm mà văn hoá phải hướng đến như tinh thần của các nghị quyết đã đề ra.

Cho nên, theo tôi, bên cạnh những chuyện đau lòng vì sự xuống cấp của văn hóa diễn ra khắp ngõ ngách của đời sống xã hội, thì nói cách nào đó, cái được rất lớn của chúng ta 30 năm qua là đã có những trải nghiệm thực tế, kiểm chứng từ thực tiễn những gì mà các nghị quyết về văn hóa đã xác định, giúp cho chúng ta thấy những nguyên nhân gốc rễ của tình trạng này để phải nhanh chóng sửa chữa, điều chỉnh lại. Muốn vậy, phải mổ xẻ nghiêm túc thực trạng và những căn nguyên từ thiết chế xã hội cho đến tổ chức, xây dựng con người như thế nào. Bởi suy cho cùng, con người vẫn là gốc rễ của văn hóa.


Nói về văn hóa, đầu tiên phải nói là con người. Ảnh minh họa: Chung Hoàng

[:-/] Thế giới phát triển vũ bão, VN vẫn chuộng ‘ổn định’ “Văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa ổn định, luôn hướng tới sự ổn định, và rất tốt khi phục vụ cho sự ổn định. Thế nhưng, khi chúng ta bước vào Đổi mới, thì không còn thời đại của sự ổn định nữa”. (ổn định như chống tham nhũng ở CHXHCNVN?)

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Nói về văn hóa, đầu tiên phải nói là con người. Con người là quan trọng nhất nhưng lĩnh vực con người lại phức tạp, mơ hồ, không có cơ quan tổ chức nào trực tiếp phụ trách, cho nên thành ra lại ít được quan tâm nhất. Đây là cái sai lầm, thiếu sót lớn của chúng ta bấy lâu nay chưa sửa được, kể cả trong giai đoạn Đổi mới.

Về lý luận, văn hóa là những giá trị vật chất và tinh thần do con người tạo ra. Vì chúng ta chưa có con người hoàn thiện, chưa có con người tốt theo đúng nghĩa là có đủ tầm văn hóa, nên những giá trị vật chất và tinh thần tạo ra tất nhiên cũng chưa thể hoàn thiện được.

Cộng thêm vào đó, từ sau Đổi mới, Việt Nam chuyển biến mạnh mẽ từ một xã hội nông nghiệp sang công nghiệp, nông thôn sang đô thị; mà kinh tế thì có thể chuyển được nhanh chứ văn hóa thì không thể chuyển nhanh được. Từ đó dẫn đến sự xung đột mạnh mẽ giữa văn hóa nông nghiệp – nông thôn trong truyền thống với văn hóa công nghiệp – đô thị trong tương lai, dẫn đến những bất cập trong mọi mặt xã hội.

So sánh hai thời kỳ trước và sau Đổi mới, có thể thấy thế này. Trước Đổi mới, con người có lý tưởng, có niềm tin hơn dù không phải là tuyệt đối. Sự lựa chọn của từng con người lúc đó cũng ít hơn, khiến cho con người thời đó “thuần” hơn.

Bây giờ được “cởi trói”, được tự do hơn, cùng với những cái tốt được phát huy, phát triển về KTXH thì nhiều mặt xấu cũng bung ra nhiều hơn. Bản năng được giải phóng, ít bị kiềm chế. Tính xấu trong những con người đã đi ra khỏi làng xã, nhưng vẫn còn bị văn hóa tiểu nông chi phối, tiếp sức, như luôn vun vén cho cá nhân, o bế người thân… nay được dịp bung ra. Tệ trạng này biểu hiện đa dạng, phức tạp ở từng gia đình cho đến tổ chức, cơ quan.

Trước đây tất cả cùng nghèo, và cũng chưa phải là thật công bằng, nhưng vẫn còn trong phạm vi ranh giới chấp nhận được. Còn sau này không còn cái gì là ranh giới nữa, mạnh anh nào anh nấy lo. Trước Đổi mới, tầng lớp quan chức cũng có những đặc quyền đặc lợi hơn dân thường, cơ chế cho họ được như thế. Họ ngồi vào chiếc ghế bộ trưởng là nghiễm nhiên có tiêu chuẩn nhà cửa, tem phiếu, có xe, có đất. Đó là sự “bất công một cách chính thức”.

Sau Đổi mới, cơ chế không phù hợp, quản lý chưa bắt kịp, ai cũng thấy mà nói thẳng ra thì không dễ, cho nên một số quan chức sinh ra bị hư hỏng, và hình thành các nhóm lợi ích.

Như vậy, chúng ta thấy, con người thường dân thường là do kinh tế thị trường, lợi ích vật chất lôi kéo; rượu bia, ma túy, phim ảnh tiếp tục tác động làm cho hư hỏng. Còn quan chức suy thoái, tham ô tham nhũng đã thành tệ nạn nhức nhối hơn là do thành trì đạo đức, lý tưởng đã bị lung lay, trong khi luật pháp chưa chặt chẽ, quản lý thì chưa minh bạch, thiếu dân chủ. Vì quan chức là tấm gương của xã hội để người dân nhìn vào, noi theo, nên sự tha hóa của họ vô cùng nguy hiểm cho đất nước, và khiến cho sự tha hoá ở một bộ phận dân chúng phát triển theo với tốc độ nhanh hơn, phạm vi rộng hơn.

…Toàn bộ thành tựu của 4.000 năm văn hiến của dân tộc ta là thành tựu của văn hóa làng xã. Nó tạo ra một một nền văn hóa hướng tất cả thói quen, luật tục, luật pháp đến một mục tiêu là tạo ra sự ổn định. Ổn định từ trong gia đình, ra tới làng, tới nước.

Đây là quy luật chung, có ở nhiều nơi, ở nhiều thời đại. Nhưng ở một nền văn hóa làng xã, văn minh lúa nước, như Việt Nam, thì cái đặc tính “ưa ổn định” này nó nặng nề hơn rất nhiều. Khi chưa nắm chính quyền thì cố gắng kích thích sự phát triển, cạnh tranh, huy động các thành phần tạo ra sức mạnh để đánh bại kẻ thù. Nhưng khi đã nắm được chính quyền rồi thì lại lập tức quản cho thật chặt, xiết cho thật cứng để giữ “ổn định”. Và để giữ cho bằng được “ổn định”, người ta có thể chấp nhận hy sinh, thủ tiêu nhiều thứ có lợi khác miễn sao giữ được cái sự “ổn định” của mình.

Văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa ổn định, luôn hướng tới sự ổn định, và rất tốt khi phục vụ cho sự ổn định. Thế nhưng, khi chúng ta bước vào Đổi mới, thì không còn thời đại của sự ổn định nữa. Thế giới đang phát triển như vũ bão, Internet đã kết nối toàn cầu thành một mái nhà chung, xu hướng hội nhập diễn ra mạnh mẽ, nhanh chóng… Diễn biến này mâu thuẫn với văn hóa truyền thống của chúng ta. Sự xung đột giữa văn hóa ổn định và văn hóa phát triển là nguyên nhân thứ nhất.

Nguyên nhân thứ hai nằm ở chỗ xuất phát điểm của chúng ta vốn là văn hóa nông thôn, giờ đây khắp nơi đang đô thị hóa, gây nên sự xung đột giữa hai văn hóa này.

Nguyên nhân thứ 3 là sự xung đột giữa văn hóa truyền thống của chúng ta là văn hóa nông dân, nông nghiệp, sản xuất theo thời vụ, bây giờ chúng ta bước vào thời đại công nghiệp và trí thức.

Tất cả những xung đột, những mâu thuẫn gốc đó đều liên quan đến con người. Song lâu nay chúng ta lại không chú ý giải quyết các mâu thuẫn gốc đó lại chăm chăm giải quyết những chuyện mang tính vụ việc rất cụ thể – đó chính là nguyên nhân của mọi nguyên nhân.

…Nhận thức và hành động là hai việc không phải lúc nào cũng đi đôi với nhau. Văn hóa nông nghiệp trồng lúa nước là văn hóa cực kỳ âm tính. Mà con người của văn hóa âm tính sẽ phát huy sức mạnh và làm việc rất hiệu quả khi bị đẩy vào thế không còn lựa chọn.

Trong các cuộc chiến tranh, Việt Nam luôn chiến thắng vì đó là khi cả một dân tộc bị đẩy vào thế không còn lựa chọn, nó như cái lò xo bị nén, trước mặt chỉ có một con đường. Lúc đó, nhận thức và hành động trùng nhau, văn hóa ổn định được huy động toàn lực để bảo vệ sự ổn định, cái lò xo bị nén đã bung ra với sức mạnh kinh hồn.

Trước Đổi mới, đời sống kinh tế của nhân dân ta đã chạm đáy, bởi vậy, trong giai đoạn đầu của Đổi mới (những năm 1990), nhận thức và hành động cũng trùng nhau, cái lò xo bị nén đã bung ra. Nhưng đến khi đạt được thế quân bình (khoảng giữa những năm 2000) thì đã khác. Con người Việt Nam lúc này đã mang tất cả hành trang là văn hóa ổn định để xây dựng xã hội phát triển, mang con người nông thôn đi xây dựng đô thị, con người nông dân đi xây dựng công nghiệp và hoạt động trí tuệ. Trong khi cái công cụ cần thiết là văn hóa phát triển, văn minh đô thị, văn minh công nghiệp thì chưa có.

Trong sự xung đột, va đụng ấy, do con người nông thôn nay đã sống trong môi trường đô thị, nên những thói hư tật xấu, những mặt trái của văn hóa truyền thống nay không có gì kìm giữ nên được dịp bung ra.

Sống trong thể chế kinh tế thị trường, nhưng luật pháp lại không nghiêm, quản lý thì thiếu minh bạch, một bộ phận không nhỏ quan chức, công chức thì tham nhũng, cho nên những mặt trái của kinh tế thị trường, những cái xấu tiềm tàng của chủ nghĩa tư bản (mà ở các nước phát triển nó không bung ra được bởi luật pháp của họ rất nghiêm minh) được dịp hoành hành, phần bản năng không quản lý được, hoặc quản lý không hiệu quả, ở con người thừa cơ bùng phát.

Trong khi về nhận thức, ta đã xác định văn hóa là gốc rễ của mọi vấn đề, nhưng trong hành động, chúng ta lại chỉ tập trung lo xây dựng kinh tế mà xem nhẹ văn hóa. Chỉ khi nào biết chăm lo cái gốc, xây dựng được văn hóa phát triển, con người công nghiệp và đô thị phù hợp thì mới có hy vọng giải quyết được tất cả những phần còn lại.

Đây là công việc rất lớn, rất lâu dài, đòi hỏi phải có một hệ thống giải pháp đồng bộ gồm nhiều khâu, từ cơ chế, tổ chức, đến xây dựng môi trường xã hội, tuyên truyền – giáo dục, pháp lý và hành động…


Nếu có pháp quyền thực sự, quan cũng như dân đều bình đẳng như nhau trước pháp luật. Ảnh minh họa

[:-/] Thuốc nào ‘trị’ quan chức ‘nói một đằng làm một nẻo’? “Dân có thực sự làm chủ, thực sự có quyền thì quan chức sẽ không còn dám đứng trên pháp luật. Khi đó mới có thể thực thi được giá trị pháp quyền.”

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Chuẩn để xây dựng con người là hệ giá trị. Thời nào có hệ giá trị của thời đó. Trước đây, với mục tiêu là ổn định thì ta đã có hệ giá trị văn hóanông nghiệp – nông thôn. Bây giờ để đạt mục tiêu phát triển bền vững trong một thế giới phẳng thì phải có hệ giá trị văn hóa công nghiệp – đô thị – hội nhập.

Việc điều chỉnh chuẩn giá trị được thực hiện bằng hai con đường. Thứ nhất là điều chỉnh tự nhiên diễn ra một cách tự phát cùng với sự thay đổi nhận thức và hành động của dân chúng. Thứ 2 là điều chỉnh có định hướng diễn ra dưới tác động có ý thức của hai lực lượng là nhà cầm quyền và tầng lớp trí thức.

Tùy hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn mà vai trò của hai lực lượng này có thể có sức mạnh tác động khác nhau, có thể đồng hướng với nhau hoặc ngược hướng. Trong mọi trường hợp, ý chí nguyện vọng của dân chúng luôn luôn là nhân tố quyết định, nhất là khi có mâu thuẫn giữa các lực lượng tác động.

Chúng ta hãy xem lại sự điều chỉnh và hình thành hệ giá trị mới trong lịch sử nước ta thì sẽ hiểu. Chẳng hạn, giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20, trong khi nhà cầm quyền thực dân muốn xây dựng hệ giá trị kiểu phương Tây để thực hiện mục đích thực dân, thì tầng lớp trí thức và dân chúng đã thành công trong việc xây dựng một hệ giá trị theo hướng ngược lại: tiếp nhận những tinh hoa của phương Tây để hoàn thiện hệ giá trị truyền thống của mình, phục vụ cho công cuộc giải phóng dân tộc.

…Hệ giá trị mà chúng ta cần xây dựng hiện nay phải mang tính chất của một hệ giá trị văn hóa công nghiệp – đô thị – hội nhập với mục tiêu cuối cùng là mang lại cuộc sống hạnh phúc cho toàn dân. Nó sẽ phải được thực hiện bằng sự phối hợp của cả tự phát lẫn tự giác, của cả dân chúng lẫn đội ngũ trí thức và chính quyền.

Đội ngũ trí thức sẽ nghiên cứu kỹ những giá trị truyền thống, hiện trạng biến động của chúng, những thói hư tật xấu đang hoành hành và cách khắc phục, các xu hướng của thời đại, nguyện vọng của dân chúng để xây dựng hệ giá trị cho tương lai.

Hệ giá trị này bao gồm hai nhóm chính là những tinh hoa của văn hóa truyền thống vẫn có thể phát huy giá trị trong hiện tại và tương lai; và những tinh hoa của văn hóa nhân loại có thể giúp khắc phục các thói hư tật xấu đang hoành hành, giúp hình thành cách tư duy, cách hành động, lối sống thích hợp với nền văn minh đô thị, văn minh công nghiệp và công cuộc hội nhập vào quá trình toàn cầu hóa. Các giá trị này bao gồm cả giá trị chung cho toàn xã hội lẫn giá trị cho việc hoàn thiện từng cá nhân.

Một mớ “nếu” để “cần” chuyển được từ văn hóa âm tính qua dương tính:

Nếu nền văn hóa truyền thống của ta mang tính cộng đồng làng xã thì chúng ta vẫn có thể giữ nguyên tính chất cộng đồng, nhưng chuyển tính chất làng xã thành cộng đồng xã hội, sẵn sàng giúp đỡ, hợp tác với nhau ngay cả khi không quen biết, cùng nhau vì mục tiêu chung.

Nếu nền văn hóa truyền thống mang tính trọng âm và ưa hài hòa, thì chúng ta vẫn có thể giữ nguyên tính ưa hài hòa, nhưng là một sự hài hòa thiên về dương tính.

Nếu nền văn hóa truyền thống có cách tư duy và hành động theo kiểu kết hợp xuề xòa, đại khái, thì cần thay vào đó là một tác phong công nghiệp, suy nghĩ và làm ăn bài bản, khoa học.

Nếu nền văn hóa truyền thống mang đậm tính linh hoạt, nhiều khi tùy tiện, thì cần hướng tính linh hoạt này vào những khuôn khổ, nguyên tắc nhất định trong giới hạn mà pháp luật đã quy định.

Xây dựng triệt để hai giá trị Dân chủ và Pháp quyền

Vậy đâu là những hệ giá trị mới chúng ta có thể bắt đầu đột phá, khởi phát từ đó để giải quyết những phần tiếp theo?  

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Theo kết qunghiên cứu của chúng tôi, để thực hiện được các mục tiêu trên, trong giai đoạn trước mắt, có thể tập trung phát triển và xây dựng 10 giá trị cơ bản chia thành 5 nhóm là: (1) Dân chủ và Pháp quyền; (2) Nhân ái và Yêu nước; (3) Trung thực và Bản lĩnh; (4) Trách nhiệm và Hợp tác; (5) Tính khoa học và Sáng tạo.

Hiện nay những thói hư tật xấu nào, những hạn chế nào đang được đánh giá là nghiêm trọng nhất? Và giải pháp khắc phục chúng như thế nào?

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Theo kết quả điều tra của chúng tôi (thuộc đề tài Xây dựng hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn mới – PV) với sự tham gia của gần 6.000 người thuộc các tầng lớp, ngành nghề ở cả ba miền thì bệnh giả dối, nói không đi với làm, là tật xấu nghiêm trọng nhất chiếm 81,0%. Kế đến là bệnh thành tích 75,1%. Thứ ba là bệnh thiếu ý thức pháp luật 68,2%.

Bệnh giả dối, nói không đi với làm sẽ được khắc phục nếu xây dựng được các giá trị Trung thực và Bản lĩnh. Con người có bản lĩnh thì mới có thể trung thực, nhìn thẳng vào sự thật, từ bỏ thói ưa nịnh, thích khen, tôi đã có lần trao đổi trên diễn đàn của Tuần Việt Nam.

Bệnh thành tích (có phần liên quan đến tính giả dối) có thể được khắc phục nhờ giá trị Trung thực và Trách nhiệm. Người có tinh thần trách nhiệm sẽ không chạy theo thành tích bằng bất cứ giá nào. Người trung thực sẽ không nói không thành có, nói ít thành nhiều, sẽ không ưa nổ, chém gió.

Tương tự như vậy, bệnh thiếu ý thức pháp luật có thể được khắc phục nhờ giá trị Pháp quyền.

Tôi xin đặc biệt nhấn mạnh thêm, kết quả 30 năm Đổi mới về văn hóa cho thấy một thực tế rằng, sự phát triển của đất nước đã “đụng” phải trần vì thiếu phần “gốc” vững mạnh, bền vững. Gốc đó là văn hóa và nhân vật trung tâm của văn hóa –  con người.

Thưa Giáo sư, về mặt quản lý, cần phải thay đổi như thế nào để không rơi vào trạng thái như giai đoạn vừa qua “nhận thức không đi đôi với hành động”? Vì để hội nhập chúng ta phải thay đổi từ môi trường văn hóa cho đến con người, một công việc vô cùng rộng lớn và khó khăn với khối lượng khổng lồ?

GS.TSKH. Trần Ngọc Thêm: Để cho nhận thức và hành động đi đôi, về mặt lãnh đạo và quản lý cần cần xây dựng một cách triệt để hai giá trị Dân chủ và Pháp quyền. Trong đó, dân chủ là giá trị có ý nghĩa quyết định.

Dân chủ là một trong ba đặc trưng của thể chế chính trị Việt Nam hiện đại, nhưng lại là đặc trưng duy nhất chưa được thực hiện một cách đầy đủ. Thiếu một nền dân chủ thực sự, sự tự do mà Đổi mới mang lại, có nguy cơ dẫn đến vô tổ chức, mất kiểm soát. Truyền thống dân chủ làng xã như “phép vua thua lệ làng” của văn hóa truyền thống Việt Nam trong bối cảnh pháp luật không nghiêm và trình độ dân trí chưa cao đang có nguy cơ phát triển quá đà. Trong nhiều trường hợp dẫn đến bệnh vô chính phủ như “Thủ kho to hơn thủ trưởng”, “Trên bảo dưới không nghe”…

Thực hiện được dân chủ thực sự như các nghị quyết của Đảng ta đã khẳng định thì sẽ khắc phục được bệnh vô chính phủ ở bên dưới, và kiểm soát được quyền lực ở bên trên, khắc phục được nạn quan liêu, cửa quyền. Có dân chủ thực sự thì sẽ đảm bảo được sự bình đẳng, công bằng và các quyền tự do cơ bản như tự do chính trị, tự do kinh tế, tự do lựa chọn dịch vụ, quyền con người. Bởi vậy mà dân chủ cũng là giá trị xã hội quan trọng hàng đầu, phổ biến ở mọi xã hội hiện đại.

Dân có thực sự làm chủ, thực sự có quyền thì quan chức sẽ không còn dám đứng trên pháp luật. Khi đó mới có thể thực thi được giá trị pháp quyền. Nếu có pháp quyền thực sự, quan cũng như dân đều bình đẳng như nhau trước pháp luật, thì quan chức sẽ phải nghiêm túc hơn khi nói và làm, sẽ không còn dám “nói một đằng làm một nẻo”, quản lý sẽ minh bạch, xã hội sẽ đi vào nền nếp, niềm tin của dân chúng sẽ được khôi phục, và con người mới sẽ sớm hình thành.

Đây cũng có thể xem là hai công cụ hữu hiệu để khắc phục tình trạng “nói không đi đôi với làm” hết sức tai hại như thời gian qua!

(Nhờ có “đổi mới” mà dân chúng được đảng quang vinh “cởi trói” nhưng bọn khốn nạn nào đã trói dân ta? Nếu “Dân có thực sự làm chủ, thực sự có quyền” và “nếu có pháp quyền thực sự” thì… nhưng làm thế nào để có “Dân chủ và Pháp quyền” trong chế độ ưu việt XHCN đảng chủ đảng quyền không công nhận tam quyền phân lập, văn kiện đảng cao hơn hiến pháp?)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s