Đối tác TPP bày mưu cho CSVN lừa công nhân

Posted: September 11, 2015 in Uncategorized
Tags:

(NV) – Nhà cầm quyền CSVN có thể sửa đổi luật lao động, cho thành lập công đoàn độc lập nhưng giới công nhân lao động sẽ khó có thể được thành lập và hoạt động độc lập.

� Xem thêm: Vài nhận định từ bài báo “Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết” + Nếu không đổi mới, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa.


Gần 100 ngàn công nhân hãng da giày Pouyuan ở quận Bình Tân, Sài Gòn,
đình công ngày 26/3/2015 chống luật Bảo hiểm xã hội. (Hình: VNExpress)

Đây là điều có thể hình dung ra được khi đọc một cuộc phỏng vấn của báo điện tử Tuần Việt Nam với ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội CSVN về những vấn đề lao động khi Việt Nam tham gia các hiệp định tự do mậu dịch thường được gọi tắt là FTA (Free Trade Agreements).

Ngày 3/8/2015, nhiều báo ở Việt Nam đồng loạt loan tin Việt Nam đã hoàn tất đàm phán song phương với tất cả các đối tác để tham gia hiệp định Đối Tác Xuyên Thái Bình Dương TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement) sau nhiều năm đàm phán. Lời loan báo vừa kể do quan chức CSVN tham gia đàm phán đưa ra trong khi báo chí quốc tế nói cuộc họp sau cùng tổ chức ở Hawaii không đạt kết quả cuối cùng, và chưa biết bao giờ có thể ký kết.

Đến cuối Tháng 8 vừa qua, nhân đến tham dự cuộc hội thảo “Diễn đàn kinh tế mùa thu” được tổ chức ở Thanh Hóa, ông Nguyễn Đức Kiên trả lời cuộc phỏng vấn của ký giả Tư Giang báo Tuần Việt Nam, trong đó, ông nói lý do chế độ Hà Nội phải đàm phán một loạt các hiệp định FTA vì “chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết”.

Trong cuộc phỏng vấn này, nhà báo đã hỏi ông Kiên về cái kẹt của chế độ độc tài đảng trị tại Hà Nội khi miễn cưỡng chấp nhận sửa luật lao động (một trong những điều kiện để vào TPP) để cho giới công nhân lao động được tự do thành lập và gia nhập các tổ chức nghiệp đoàn, công đoàn không phải là hệ thống công đoàn “quốc doanh” do đảng CSVN thành lập chỉ phục vụ quyền lợi và nhu cầu của đảng CSVN.

Chính vì vậy mà hơn 7,000 cuộc biểu tình, đình công lớn nhỏ của giới công nhân Việt Nam chống bóc lột sức lao động và sự đối xử bất nhân của giới chủ nhân, trong hơn chục năm qua, đều bị coi là “bất hợp pháp”. Những kẻ cầm đầu hệ thống công đoàn không hề đứng ra tổ chức đình công mà hoàn toàn do công nhân “tự phát”.

Ông Kiên hé lộ cho thấy chế độ Hà Nội không mặn mà với việc cởi trói cho công nhân để người ta tự do thành lập và gia nhập các tổ chức nghiệp đoàn chỉ vì “Đảng và các tổ chức chính trị xã hội đi cùng không tự vươn lên, không trở thành thỏi nam châm để thu hút người lao động, thì người lao động họ sẽ tách ra và đi theo guồng máy của lực hút khác. Những thách thức đó còn khốc liệt hơn nhiều, thách thức toàn diện, không chỉ trên lĩnh vực kinh tế mà sang cả chính trị,…”

Nó là sự sống còn của một chế độ toàn trị dựa trên một bản hiến pháp người dân có đầy đủ các quyền tự do căn bản nhưng khi biến thành luật thì siết chặt lại. Quyền viết trên hiến pháp, cho từ tay này thì lại lấy lại từ tay kia bằng một mớ luật.

“Cái chúng ta lo ngại nhất là tổ chức công đoàn trong việc tập hợp người lao động. Trong suốt thời gian dài, chúng ta đã hành chính hóa bộ máy công đoàn. Họp cái gì cũng phải có bộ tứ đảng, chính, công, thanh, và quyết thay mọi mong muốn của công nhân. Chúng ta đã quen cái nếp là một người nghĩ cho cả nghìn người. Bây giờ không thể thế được nữa, một người phải xin ý kiến của 1,000 người.” Ông Nguyễn Đức Kiên thú nhận thực tế hệ thống công đoàn quốc doanh từ trước đến nay vận hành như vậy và cái thực tế Việt Nam sẽ phải đối diện khi gia nhập TPP.

Tuy nhiên, để giải tỏa sự lo ngại sâu xa, cả về những hệ quả chính trị do TPP tác động đến Việt Nam sau này, ông Nguyễn Đức Kiên không nêu tên ai, viên chức nước nào, mà chỉ nói “một cố vấn pháp luật của một đoàn đàm phán” TPP đã mách nước cho Hà Nội thế nào.

“Cố vấn pháp luật của một đoàn đàm phán ngồi riêng nói với chúng tôi, tại sao các ngài cứ lo về cái điều mà chúng tôi có bắt các ngài làm ngay sáng hôm sau đâu. Cam kết ở đây là để các ngài xây dựng luật, phù hợp với các hệ thống luật khác của các ngài.”

Ông Nguyễn Đức Kiên trả lời phỏng vấn của Tuần Việt Nam như vậy và tiếp rằng “Các ngài có thể đồng ý cho công nhân thành lập công đoàn, nhưng các ngài quy định, người đứng ra thành lập công đoàn cơ sở đó phải 25 tuổi trở lên; phải làm việc trong doanh nghiệp đó ít nhất 3 năm; không có tiền án, tiền sự; có gia sản ít nhất bằng này, vì có gia sản mới lấy tiền đó đi hoạt động được, mà không phải lấy đóng góp từ người lao động. Xong 4 điều kỹ thuật đó, lại quy định tiếp là người đó phải lấy được ít nhất 10% ý kiến của người lao động ở doanh nghiệp, họ ký vào đây đồng ý, thì Nhà nước mới cho ông lập.”

Ông Nguyễn Đức Kiên còn cho biết chế độ Hà Nội đã từng nghĩ đến chuyện ký hiệp định trước rồi lừa cả đối tác và giới công nhân Việt Nam sau, chứ chế độ Hà Nội không phải không biết khi ông nói “Nói thực ra là nhiều người Việt Nam cũng nghĩ đến điều này…”

Trước các áp lực của Hoa Kỳ đòi phải thay đổi luật lệ để thích hợp với các điều kiện gia nhập TPP, Hà Nội đang “lấy ý kiến” sửa một số luật như “Luật Hình Sự”, “Luật Tôn Giáo Tín Ngưỡng”, và có thể cả “Luật Báo Chí”, “Luật Biểu Tình”. Các luật này đều bị dư luận đả kích kịch liệt vì quyền của người dân bị cột chặt vào các điều kiện “xin-cho” hoặc không có trong luật.

Tư nhân vẫn không được quyền ra báo hay lập công ty truyền thông mà phải do một cơ quan, đoàn thể của nhà cầm quyền đứng chủ xị làm “cơ quan chủ quản”. Luật hình sự đang sửa đổi chỉ đổi vị trí điều 258 (Lợi dụng các quyền tự do dân chủ…) xuống thành điều 343. Điều 79 cũ (Hoạt động lật đổ…) biến thành điều 109. Điều 88 cũ (Tuyên truyền chống nhà nước…” biến thành điều 117 (làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu nhằm chống nhà nước…). Điều 87 (Phá hoại chính sách đoàn kết…) biến thành điều 116 ở dự luật sửa đổi v.v…

Nói chung những gì bị các chính phủ và các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế lên án là đi ngược lại các quyền căn bản của công dân được ghi trong hiến chương LHQ và Công ước Quốc tế về các Quyền Dân Sự và Chính Trị mà chế độ Hà Nội đã đặt bút ký cam kết tuân hành, thì vẫn còn nguyên. Có thay đổi gì chỉ là ít từ ngữ và đảo vị trí cho ra vẻ mới cái vỏ.

Bây giờ, người ta thấy chế độ Hà Nội vẫn đem cái khôn ngoan mánh lới cũ để áp dụng vào các cuộc đàm phán FTA đòi hỏi CSVN tuân theo các chuẩn mực quốc tế. Ông Nguyễn Đức Kiên kêu gào “Mở cửa hay là chết” thì rõ ràng mở cửa là cứu chế độ còn vẫn có thể công nhân vẫn chết. (TN)

Vài nhận định từ bài báo
“Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết”

Hồng Việt (Thông Luận)“…luật về hội dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 7 năm 2016 tại kỳ họp thứ 2 của quốc hội khóa 14. Tuy nhiên, với bản chất gian trá của họ, đảng cộng sản sẽ thêm vào các điều khoản để gây khó dễ cho phe đối lâp…”

Sau buổi hội thảo Diễn đàn kinh tế mùa thu vừa diễn ra tại Thanh Hóa, phóng viên của báo Vietnamnet đã có bài phỏng vấn ông Nguyễn Đức Kiên, phó chủ nhiệm ủy ban kinh tế của quốc hội Việt Nam. Với chức vụ như vậy, ông Kiên có thể được coi là một trong những người điều hành chính của nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Báo Vietnamnet đã đăng tải buổi phỏng vấn trên với tựa đề : “Chúng ta chỉ còn hai lựa chọn, mở cửa hay là chết”. Nghe qua tiêu đề, chúng ta có thể nghĩ đến một kịch bản tự chuyển đổi của chế độ này. Nhưng thực chất bên trong, chế độ cộng sản vẫn như vậy, vẫn chỉ biết nghĩ cho quyền lợi của họ đầu tiên. Sau đây là một vài thông tin mà chúng tôi rút ra được từ bài phỏng vấn trên và muốn đặc biệt lưu ý với các bạn:

Một là, kinh tế Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào nước ngoài với tổng kim ngạch xuất nhâp khẩu bằng tới 1,8 GDP do sức mua của thị trường nội địa quá thấp, tức là người dân Việt Nam vẫn còn rất nghèo, kể cả so với Lào. Thay vì cố gắng nâng cao mức sống của người dân để phát triển thị trường nội địa, chính quyền chỉ làm duy nhất một việc là ký thật nhiều các hiệp định FTA để mở rộng thị trường xuất khẩu (một việc nên làm) và khiến cho kinh tế Việt Nam phụ thuộc vào nước ngoài nhiều hơn.

Chủ trương của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên là đẩy mạnh sự phát triển của thị trường nội địa, lấy thị trường trong nước làm bàn đạp để tiến lên. Với gần 100 triệu dân, nước ta là một thị trường rất lớn và sự trao đổi giữa những người Việt Nam với nhau tự nó đã là một động cơ kinh tế vô cùng quan trọng. Trong bất cứ một nền kinh tế nào, ngay cả trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, trừ trường hợp rất đặc biệt của các nước xuất khẩu dầu lửa, thị trường nội địa bao giờ cũng quan trọng hơn hoạt động xuất nhập cảng. Thị trường nội địa vừa quan trọng về khối lượng, vừa là nơi thử nghiệm cho hàng xuất khẩu, lại vừa là kho trái độn cần thiết để đương đầu với những biến thiên của thị trường quốc tế. Thị trường nội địa có mạnh thì hoạt động xuất cảng mới phát triển được. Thị trường nội địa sẽ được kích thích do sự giải tỏa mọi cưỡng chế về kinh doanh và sự thúc đẩy những chương trình công cộng quan trọng. Các ngành nông nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp thực phẩm, dệt, may mặc, sản xuất đồ gia dụng, vật liệu xây dựng, vật dụng thiết bị và trang trí nội thất sẽ là những bàn đạp đầu tiên cho thị trường nội địa của ta.

Phát triển thị trường nội địa phải đi đôi với phát triển kinh doanh nội địa. Chúng ta không có những nhà tư bản lớn cho nên cần tích cực thúc đẩy, nâng đỡ và khuyến khích các xí nghiệp cá nhân và các công ty tầm cỡ nhỏ, giúp họ phát đạt và gia tăng tầm vóc, dần dần trở thành những nhà tư bản lớn.

Một bắt buộc khẩn cấp của chính sách phát triển thị trường nội địa là phải tu sửa và tăng cường hệ thống đường giao thông và truyền thông, các phương tiện chuyên chở và truyền tin.

Hai là, do tình thế ép buộc đảng cộng sản không còn lựa chọn nào khác ngoài việc mở cửa để tránh nguy cơ sụp đổ. Mở cửa ở đây phải hiểu là mở cửa về chính trị bởi vì Việt Nam đã mở cửa về kinh tế. Các thị trường xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như Mỹ, EU, Nhật Bản, Úc… đều là các nước dân chủ và họ đang liên tục gây sức ép buộc Việt Nam phải tôn trọng các nguyên tắc tự do, dân chủ. Đảng cộng sản không còn lựa chọn nào khác nên buộc phải chấp nhận luật chơi dân chủ trong một tương lai gần, điều này thể hiện qua đoạn phát biểu của ông Kiên:

“Đến thời điểm này chúng ta đã hiểu rõ hơn quyền tự do cá nhân, quyền mưu cầu hạnh phúc, và quyền sống của một con người. Và chúng ta tin là chúng ta đã hiểu hội nhập, và chúng ta chấp nhận cuộc chơi ấy”.

Ngoài ra, luật về hội dự kiến sẽ được thông qua vào tháng 7 năm 2016 tại kỳ họp thứ 2 của quốc hội khóa 14. Tuy nhiên, với bản chất gian trá của họ, đảng cộng sản sẽ thêm vào các điều khoản để gây khó dễ cho phe đối lâp. Dưới đây là lời của ông Kiên:

“Cố vấn pháp luật của một đoàn đàm phán ngồi riêng nói với chúng tôi, tại sao các ngài cứ lo về cái điều mà chúng tôi có bắt các ngài làm ngay sáng hôm sau đâu. Cam kết ở đây là để các ngài xây dựng luật, phù hợp với các hệ thống luật khác của các ngài. Các ngài có thể đồng ý cho công nhân thành lập công đoàn, nhưng các ngài quy định, người đứng ra thành lập công đoàn cơ sở đó phải 25 tuổi trở lên; phải làm việc trong doanh nghiệp đó ít nhất 3 năm; không có tiền án, tiền sự; có gia sản ít nhất bằng này, vì có gia sản mới lấy tiền đó đi hoạt động được, mà không phải lấy đóng góp từ người lao động. Xong 4 điều kỹ thuật đó, lại quy định tiếp là người đó phải lấy được ít nhất 10% ý kiến của người lao động ở doanh nghiệp, họ ký vào đây đồng ý, thì Nhà nước mới cho ông lập”.

Giai đoạn sắp tới sẽ rất thuận lợi cho phong trào dân chủ, những người dân chủ phải biết tận dụng cơ hội này. Hãy cố gắng mưu tìm sự đồng thuận về mục tiêu, phương pháp đấu tranh và kết hợp lại với nhau. Chế độ độc tài hiện nay đang rất chao đảo, nếu chúng ta biết đoàn kết lại thì nó sẽ phải đầu hàng.

[:-/] Nếu không đổi mới, Việt Nam có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa (VOV.VN) – Theo ông Vũ Ngọc Hoàng, chúng ta đã, đang tụt hậu và có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa nếu như không đổi mới.

(CS chỉ biết còn đảng còn mình, quen thói tuyên truyền bưng bít dối trá nên khi chúng công khai một phần sự thật thì có thể thấy sự bế tắc và lo sợ sụp đổ. Không ít chuyên gia của đảng đã khuyên đảng quay đầu theo thế giới văn minh, chấp nhận trong toan tính giảm bớt quyền lực độc tài để tồn tại.)

Báo cáo của Tổng cục Thống kê tại Hội thảo: “Cải cách thể chế kinh tế Việt Nam để hội nhập và phát triển giai đoạn 2015-2035” mới đây có lẽ khiến tất cả những ai đón nhận thông tin đều cảm thấy buồn và lo. Buồn vì theo Tổng cục Thống kê, thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam đang tụt hậu với Hàn Quốc khoảng 30-35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan khoảng 20 năm, Indonesia và Philippines khoảng 5-7 năm. Còn theo báo cáo Năng lực cạnh tranh toàn cầu 2015 vừa được công bố, năng lực cạnh tranh của Việt nam cũng thấp hơn nhiều so với Thái lan, Indonesia.

Thực tế này cho thấy nếu không có những giải pháp thích hợp, thì nguy cơ tụt hậu của Việt nam so với khu vực sẽ càng lớn.

Ông Vũ Ngọc Hoàng: Liệu có bi quan hay không nói rằng chúng ta đang đứng trước nguy cơ tụt hậu? Tôi nghĩ rằng nói vậy không có gì là bi quan. Không phải là nguy cơ tụt hậu mà chúng ta đã tụt hậu, chúng ta đang tụt hậu và chúng ta có nguy cơ tụt hậu xa hơn nữa nếu như không đổi mới.

Chúng ta đang rơi vào bẫy thu nhập trung bình thấp và việc này thể hiện trên nhiều mặt: năng xuất lao động thấp, thu nhập bình quân đầu người thấp. Sau 30 năm, hàng công nghiệp để xuất khẩu, có uy tín trên thị trường quốc tế không đáng kể.

Chúng ta có thế mạnh về nông nghiệp, nhưng sản phẩm thô về nông nghiệp của ta thấp hơn so với nhiều nước. Chúng ta chỉ có 70 triệu/ha giá trị sản phẩm, trong khi các nước đã có hàng mấy tỷ, có chỗ mấy chục tỷ rồi. Hay như chúng ta có thế mạnh về phát triển du lịch, nhưng cho tới giờ này vẫn rất ít, trong khi ở khu vực người ta hơn chúng ta hàng chục lần. Nợ nhiều, hiệu quả đầu tư thấp, chưa biết lấy nguồn tài chính ở đâu để trả nợ…Tất cả những vấn đề như vậy báo hiệu đã tụt hậu, đang tụt hậu và nguy cơ sẽ tụt hậu xa hơn.

– 20 năm đầu chúng ta đã đạt được khá nhiều thành tích. Nói khá nhiều là đúng chứ không phải cao lắm, bởi vì có nhiều nước đạt trên 10%, GDP tăng, trong khi chúng ta đạt 8-9%. Đúng là như vậy, điều đó đã làm cho đất nước thay đổi nhiều mặt, nhưng 10 năm sau lại chững lại. Nguyên nhân của câu chuyện này, theo tôi cũng có một phần khách quan do tình hình thế giới khủng hoảng, song chủ yếu vẫn là do chúng ta chậm chạp, dập dừng trong đổi mới.

Chúng ta chưa đổi mới một cách mạnh mẽ tiếp theo những động lực cũ của 20 năm trước, nhiều cái đã hết tác dụng thì cần tạo ra những động lực mới tiếp tục phát triển mạnh hơn. Có những cơ chế phát huy tác dụng trong một thời gian nhất định. Trước đây chúng ta tập trung phát triển theo chiều rộng, bây giờ là phát triển theo chiều sâu. Chính vì vậy, phải có những cơ chế phù hợp với nó, trong khi quá trình đổi mới chưa được khẩn trương, mạnh mẽ, còn chậm chạp, dập dừng.

Việc lựa chọn cách ưu tiên ngành và sản phẩm để phát triển cũng không phải được chúng ta lựa chọn đúng và tốt. Nhân lực chất lượng cao thiếu, nền giáo dục yếu, quản trị quốc gia vẫn còn nhiều mặt yếu… tất cả những việc đó làm chậm lại.

– Để đổi mới thì chúng ta phải vượt qua thách thức. Thứ nhất là chúng ta đã nhìn thấy tình hình rõ chưa? Tôi nghĩ nhiều người đã nhìn thấy tình hình nhưng không phải tất cả đã nhìn thấy. Và nhìn thấy rồi có dám đương đầu, có dám đối mặt với nó để giải quyết không hay lảng tránh, hay vì các lẽ khác?

Để đổi mới phải chống bảo thủ, vượt qua được tư tưởng bảo thủ vì có những thứ đã thành thói quen, thành sức ì, có những cái do tư duy thiển cận không theo kịp những bước tiến mới của tình hình đất nước và của thời đại. Do đó phải đổi mới mạnh mẽ, bắt đầu từ tư duy.

– Trong các nguy cơ thì nguy cơ lớn nhất thuộc về lợi ích nhóm. Còn trong các giải pháp, giải pháp lớn nhất thuộc về đổi mới căn bản, mạnh mẽ.

Đổi mới thì mới giải quyết căn bản tình hình lợi ích nhóm. Nếu không đổi mới, không có những cơ chế mới mà cứ giải quyết từng vụ việc thì cứ bị động. Phải có tư duy đổi mới để trên cơ sở đó đổi mới cơ chế quản lý.

– Trong quản lý có nhiều mặt chúng ta còn chậm, lạc hậu và cần phải nghiên cứu nghiêm túc câu chuyện này. Ngay cả việc lúc trực thuộc chỗ này, mai trực thuộc chỗ kia… bản thân việc đó đã thể hiện sự lúng túng. Đến giờ này, tôi cũng không hiểu tại sao cứ phải trực thuộc các cơ quan hành chính, trong khi đã nhiều lần chúng ta nói đến chuyện tách ra giữa quản lý nhà nước với quản trị của các doanh nghiệp, các tập đoàn.

– Yếu tố con người là quyết định nhất, vì có con người thì sẽ có tất cả. Và trong những con người ấy, người lãnh đạo có vị trí quan trọng nhất. Và sự thay đổi tư duy, quyết tâm, tâm huyết trong sáng, gương mẫu của những người lãnh đạo có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của đất nước.


Một vài người nói, lãnh đạo chưa nghe nhưng vạn người nói thì lãnh đạo sẽ nghe

Cũng phải nói thêm rằng, trách nhiệm của mọi người, của tất cả cán bộ đảng viên, của nhân dân cũng hết sức quan trọng. Vì khi một vài người nói, lãnh đạo chưa nghe nhưng vạn người nói thì lãnh đạo sẽ nghe. Do vậy, phải có trách nhiệm của tập thể, của cộng đồng chứ không phải riêng của lãnh đạo, song các vị lãnh đạo ở vị trí quan trọng nhất, chịu trách nhiệm lớn nhất.

Tất cả người dân Việt Nam dù ở cương vị, lĩnh vực nào hãy tha thiết và quyết tâm đổi mới để đất nước tiến lên. Bởi vì chúng ta hoàn toàn có khả năng thúc đẩy đất nước ta trở thành một nước phát triển, miễn là làm đúng và tâm huyết.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s