Việt Nam xuất khẩu giáo sư, tiến sĩ?

Posted: September 12, 2015 in Uncategorized
Tags:

  GS Nguyễn Văn Tuấn(Basam) – Nhiều khi đọc báo trong nước, tôi không chắc là tác giả muốn nói chơi hay nói thật. Chẳng hạn như bài này, đọc tựa đề “Việt Nam hãy học Ấn Độ xuất khẩu Thạc sĩ, Tiến sĩ” (1) giống như là một câu đùa cho vui, nhưng đọc kĩ thì có vẻ nói thật, vì tác giả khẳng định một cách tự tin rằng “Với năng lực, trình độ của các GS.TS VN thì chúng ta hoàn toàn có khả năng xuất khẩu sang nước ngoài, để nâng cao hiệu quả lao động.”

� Xem thêm: Việt Nam xuất khẩu tiến sĩ + Việt Nam hãy học Ấn Độ xuất khẩu Thạc sĩ, Tiến sĩ? + Việt Nam học Ấn Độ xuất khẩu ThS, TS: Rất nên làm.

Thú thật, tôi không biết rằng Ấn Độ xuất khẩu tiến sĩ và thạc sĩ. Khái niệm “xuất khẩu” mấy vị này thật là mới đối với tôi. Tôi biết rằng trong thực tế có rất nhiều người Ấn Độ tìm một vị trí tiến sĩ hoặc hậu tiến sĩ ở nước ngoài. Hầu như tuần nào tôi cũng nhận được một email từ Ấn Độ và đặc biệt là Tàu xin một vị trí nghiên cứu. Mà, chẳng riêng gì tôi, các đồng nghiệp khác cũng thế, cũng nhận email từ hai nước này rất nhiều. Dĩ nhiên, họ chỉ gửi hàng loạt email đến nhiều nơi như là “câu cá” và cầu may, chứ khả năng xin được một vị trí nghiên cứu ở các nước phương Tây rất thấp.

Khả năng thấp là vì các nước phương Tây đang trải qua một giai đoạn khủng hoảng về đào tạo tiến sĩ. Khủng hoảng do đào tạo ra nhiều tiến sĩ mà không có công việc cho họ. Chỉ tính riêng ngành y sinh, mỗi năm các đại học Mĩ ghi danh 16000 nghiên cứu sinh tiến sĩ; trong số này, khoảng 9000 người tốt nghiệp sau 6-7 năm miệt mài nghiên cứu. Trong số 9000 tốt nghiệp, khoảng 5800 có vị trí postdoc, và 30% không làm postdoc. Tính trung bình, mỗi tiến sĩ tiêu ra 4 năm làm nghiên cứu postdoc, trước khi trở thành độc lập (xuống núi hành hiệp). Hiện nay, chỉ tính riêng ngành y sinh học, có khoảng 37000 đến 68000 postdoc, và họ phải cạnh tranh tìm việc làm.

Tuy chẳng ai biết Mĩ hiện đang có bao nhiêu postdoc cho tất cả các bộ môn khoa học, nhưng con số ước tính có thể lên đến 90000, và phân nửa số này là người nước ngoài. Theo một chuyên gia kinh tế, trong thời gian 2005-2009, các đại học Mĩ chỉ có 16,000 vị trí giáo sư còn trống. Số còn lại phải lây lất tìm việc hoặc làm việc ngoài ngành nghề. Nên nhớ là những postdoc ở phương Tây ai cũng có một lí lịch khá, thậm chí rất khá, với hàng chục bài báo khoa học dưới dây lưng. Vậy mà họ còn phải cạnh tranh vất vả với nhau cho một vị trí assistant professor hay lecturer. Tôi còn nhớ lúc tôi còn ở UCSD, khi bộ môn có một vị trí assistant professor, quảng cáo trên Nature chưa đầy 1 tuần, có hơn 200 ứng viên xin! Đọc CV nhiều ứng viên, tôi còn thấy choáng váng vì thành tích khoa học xuất sắc và đến từ những địa chỉ danh tiếng.

Còn các giáo sư và tiến sĩ VN thì rất khó so sánh cả về kiến thức lẫn kĩ năng với các đồng môn ở các nước phương Tây. Chưa chắc là họ dở, nhưng vì khác “bộ lạc” và khác cách đào tạo, nên các giáo sư / tiến sĩ VN rất khó thích ứng với môi trường ở nước ngoài nếu không qua một thời gian tái huấn luyện. Có rất nhiều người mang danh GS và PGS (chưa nói đến tiến sĩ) ở bên nhà, mà lí lịch khoa học còn kém hơn một postdoc ở bên này. Với một lí lịch toàn những công bố trên các tập san trong nước, hay các tập san làng nhàng ở nước ngoài, thì làm sao cạnh tranh nổi với đồng môn phương Tây.

Do đó, nói chuyện xuất khẩu GS, TS Việt Nam sang nước ngoài chắc chỉ là mua vui. Nếu không mua vui thì người viết chẳng hiểu gì về tình trạng cạnh tranh trong khoa học ở nước ngoài. Do đó, báo Lao Động (2) đặt câu hỏi chính đáng là nếu xuất khẩu thì có ai nhận hay không? Câu trả lời là “không”.

(1) Việt Nam hãy học Ấn Độ xuất khẩu Thạc sĩ, Tiến sĩ? (ĐV).
(2) Việt Nam xuất khẩu tiến sĩ (LĐ).

[:-/] Làm sao để bằng đại học y, dược của Việt Nam được thế giới công nhận? (VOV.VN 20/7/2015) – Bộ Y tế đổi mới công tác đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế theo hướng bằng đại học y, dược của Việt Nam được khu vực và thế giới công nhận.

Theo lãnh đạo Bộ Y tế, hiện nay, các thầy thuốc Việt Nam ra nước ngoài học tập để nâng cao trình độ chuyên môn đều phải đào tạo lại từ đầu vì bằng đại học y, dược của nước ta chưa được thế giới công nhận. Điều đó cho thấy, chất lượng đào tạo của nước ta chưa cao, ảnh hưởng tới chất lượng khám chữa bệnh; đồng thời gây tốn kém thời gian và kinh phí cho thầy thuốc.

Khắc phục tình trạng này, thời gian tới Bộ Y tế đẩy mạnh việc nghiên cứu, ứng dụng khoa học trong đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế và tăng cường hợp tác quốc tế; đặc biệt, đổi mới căn bản, toàn diện đào tạo phát triển nguồn nhân lực y tế theo hướng tiếp cận với các phương thức đào tạo của các nước tiên tiến trên thế giới. Thí điểm cho phép các trường được thực hiện việc tuyển sinh, đào tạo nhân lực y tế theo các tiêu chuẩn quốc tế.

Việt Nam xuất khẩu tiến sĩ

Lê Thanh Phong (LĐ) – Gần đây, rộ lên thông tin trao đổi về việc xuất khẩu thạc sĩ, tiến sĩ. PGS-TS Hà Huy Thành – Viện Hàn lâm KHXH VN – so sánh với Ấn Độ, nước này đã xuất khẩu chuyên gia qua các nước. Đây không chỉ là giải quyết “tiến sĩ tồn đọng”, mà còn nâng cao vị thế của VN trên trường quốc tế.

Đề xuất trên rất hay, bởi vì VN có khoảng 24.000 tiến sĩ, một nửa trong số này làm công tác nghiên cứu khoa học, số còn lại làm quan chức hoặc chưa biết làm gì. Vậy thì rất nên đẩy mạnh xuất khẩu lao động chất lượng cao.

Chỉ có điều băn khoăn là có ai nhận hay không?

Xuất khẩu lao động phổ thông rất dễ, bởi vì không cần chuyên môn cao. Lao động VN sang các nước làm công việc giản đơn hoặc làm thợ kỹ thuật ở cấp thấp, nhưng đã xuất khẩu thạc sĩ, tiến sĩ thì đòi hỏi từ phía tiếp nhận sẽ cao hơn.

Nếu so với Ấn Độ, chưa nói tới chuyên môn, chúng ta đã thua đứt về ngoại ngữ. Ấn Độ có bản ngữ nhưng là quốc gia sử dụng tiếng Anh rất phổ thông, đặc biệt người được đào tạo đại học, sau đại học đương nhiên sử dụng tiếng Anh thành thạo. Ấn Độ xuất khẩu chuyên gia, ưu thế đầu tiên của họ là đảm bảo tiếng Anh.

Còn thạc sĩ, tiến sĩ VN thì sao? Trong số hơn 24.000 tiến sĩ và hơn 100.000 thạc sĩ, có bao nhiêu phần trăm sử dụng thông thạo một ngoại ngữ, chưa kể tiếng Anh là cần thiết nhất, cũng không nhiều người đạt được chuẩn trình độ làm chuyên gia. Không giỏi ngoại ngữ thì xuất khẩu đi đâu bây giờ! Tuy nhiên, cũng không quá bi quan rằng chúng ta không có người giỏi, cho dù không được nhiều. Vậy thì, đề xuất trên cũng cần quan tâm, ít nhất cũng xuất khẩu được một số chuyên gia trẻ, có năng lực thực sự, còn hơn để họ lang thang thất nghiệp hoặc làm việc không tương xứng với năng lực và trình độ.

Chưa làm thì chưa biết được hay không, cho nên các cơ quan quản lý và các doanh nghiệp xuất khẩu lao động cũng cần nghiên cứu để khai thác nguồn tài nguyên này. Làm để biết trình độ của thạc sĩ, tiến sĩ VN so với các nước, làm để biết sức cạnh tranh chất xám VN trong lĩnh vực xuất khẩu lao động chất lượng tiến sĩ.

TS Lương Hoài Nam – Tổng Giám đốc Hãng hàng không Hải Âu – cho rằng: “Nói thật chứ, họ mà tìm được việc ở nước ngoài thì đã đi lâu rồi, chả chờ bác xuất khẩu”. Đúng là có những người chủ động tìm được đường để ra nước ngoài làm việc, nhưng cũng không ít người có trình độ nhưng không biết lối đi, rất cần sự hỗ trợ của các doanh nghiệp, tổ chức xuất khẩu lao động chuyên nghiệp.

Hãy cứ làm để biết mình là ai, để điều chỉnh, để thay đổi, để phát triển.

.

Việt Nam hãy học Ấn Độ xuất khẩu Thạc sĩ, Tiến sĩ?

Bảo Hân (BĐV) – Với năng lực, trình độ của các GS.TS VN thì chúng ta hoàn toàn có khả năng xuất khẩu sang nước ngoài, để nâng cao hiệu quả lao động.

Lao động Việt cần cù theo kiểu nông dân

Theo truyền thông quốc tế, mỗi tháng Nhật Bản có hàng chục nghìn việc làm được đăng tuyển mà không có ai nộp hồ sơ. Trong khi đó, tỷ lệ thất nghiệp ở VN ngày càng tăng, đặc biệt là nhóm có trình độ cao đẳng chuyên nghiệp và cao đẳng nghề.

Bày tỏ quan điểm với Đất Việt, ngày 6/9, ông Lê Văn Bảnh – Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL cho biết: “Nhật Bản là thị trường hay có yêu cầu tuyển dụng nhân lực trình độ cao, có tay nghề cao, nhưng hầu hết là lao động của VN không đáp ứng được.

Lao động của chúng ta thông thường là lao động chân tay, không được đào tạo bài bản, hầu hết từ trước đến nay chúng ta chỉ xuất khẩu chủ yếu là sang châu Phi, Hàn Quốc làm nông nghiệp, đó là vấn đề thể hiện rất rõ.

Nói ngay đến thị trường trong nước rất khát nguồn lao động trình độ cao, nhưng tuyển dụng cũng không có đủ để đáp ứng”.

Lấy ví dụ cụ thể, theo ông Bảnh, một số DN ở Bình Thuận, Khánh Hòa, rất cần những kỹ sư có trình độ tay nghề cao, nếu không tuyển thì không đủ điều kiện hoạt động nên họ đưa lao động Trung Quốc vào, dẫn đến tình trạng nhập nhèm lao động trình độ cao và lao động phổ thông.

Tuy nhiên, ông Bảnh cho rằng, qua đó cũng thấy chiến lược đào tạo của chúng ta hiện nay đang bị lệch, cái mà thế giới cần thì chúng ta không đào tạo, mà chỉ đi đào tạo những chuyên ngành dễ, chẳng hạn: Ngân hàng, Tài chính, Quản trị kinh doanh, đào tạo ít tốn kém, học sinh nhiều nên tiền học phí thu được vô cùng cao.

Trong khi, ra nước ngoài hiện nay họ không sử dụng nhóm lao động này, hiện tại họ đang thiếu những lao động được đào tạo kỹ thuật bài bản, chính vì thế mà một số các công ty, DN nước ngoài đầu tư tại VN như Samsung, họ rất thiếu nhưng con người phục vụ hỗ trợ sản xuất ốc vít tốt, chứ không cần đội ngũ quản lý tốt.

Ông Lê Văn Bảnh cho biết thêm: “Sắp tới chúng ta làm các nhà máy điện nguyên tử, toàn bộ lao động kỹ thuật cao đều được thuê của nước ngoài, bởi nhân lực của chúng ta không có, để thấy vấn đề quan trọng hiện nay là vấn đề đào tạo.

Đặc biệt tính công nghiệp của chúng ta chưa đạt, hiện nay, cứ nói nhân dân chúng ta cần cù, nhưng thực ra là làm theo kiểu nông dân. Ví dụ, như người nông dân ở ĐBSCL, thích lên là làm, không tuân thủ theo giờ giấc, không có quy củ, nghỉ lễ thì dài ngày”.

Viet Nam hay hoc An Do xuat khau Thac si, Tien si?
Nhiều Thạc sỹ của VN hiện nay đi làm phụ hồ

Bàn về vấn đề này, PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ, Phó trưởng khoa Phát triển nông thôn, ĐH Cần Thơ, đã từng có 4 năm học Tiến sĩ bên Nhật Bản, chia sẻ: “Tôi nghĩ việc Nhật Bản cần tuyển dụng, đó là cơ hội cho VN, nhưng vấn đề tổ chức quản lý của chúng ta hiện nay có vấn đề, nên việc nắm bắt cơ hội là vô cùng khó khăn.

Hiện tại, nguồn lao động của VN có mấy cái hạn chế: Thứ nhất, thiếu sự quản lý nên một số người đi lao động trốn đi làm việc khác, nên nhà nước phải hỗ trợ chính phủ ban hành chính sách cho lao động nước ngoài 100% với lãi suất ưu đãi, để họ đóng khoản thế chấp, đó là số tiền lớn đã và đang thất nghiệp. Thứ hai, trình độ ngoại ngữ kém, trong khi nó là vấn đề quan trọng”.

Chính những điều này, đã dẫn đến thực trạng, lao động của VN vẫn chủ yếu là lao động giá rẻ, chất lượng kém. Bên cạnh đó, mặc dù luôn vượt trên các nước Malaysia, Singapore, Thái Lan trong các cuộc thi tay nghề trong khu vực, nhưng năng suất lao động của người VN kém người Singapore 15 lần, kém người Malaysia 5 lần, và bằng 2/5 năng suất lao động của người Thái Lan.

Nên mới dẫn tới thực trạng các DN nước ngoài đầu tư tại VN, nguồn lao động kỹ thuật cao đều phải chuyển từ nước họ qua.

Nên ưu tiên xuất khẩu Ths, TS?

Nhìn nhận ở góc độ lợi ích khi xuất khẩu lao động sang Nhật Bản, ông Bảnh cho hay: “Đại đa số các trường Đại học ở khu vực ĐBSCL ít sinh viên, nhưng đi xin việc cũng không được nhận, do chất lượng đầu vào, chương trình đào tạo kém, vấn đề đảm bảo đúng tiêu chuẩn chất lượng hiện nay không có, nên không được tuyển dụng.

Cho nên, nếu như xuất khẩu GS.TS thì vẫn có ăn có học, có bằng cấp thì sẽ tốt hơn rất nhiều là đội ngũ không có bằng cấp. Hiện nay chúng ta xuất khẩu qua Hàn Quốc, châu Phi đều là lao động cơ bắp, trình độ thấp.

Trong khi, lao động của Ấn Độ mà được đưa ra nước ngoài, toàn là những người cán bộ về khoa học, tin học, cán bộ Ths, TS, nghĩa là chất lượng cao. Họ không bao giờ xuất khẩu công nhân, nông dân, vì thế, Ấn Độ nổi tiếng là đất nước có nhiều cán bộ trình độ cao đi học, đi làm nhất thế giới”.

Theo ông Bảnh, thì đất nước ta đang dư thừa quá nhiều lực lượng lao động có bằng cấp, thì có xuất khẩu, như vậy có thu nhập cho cá nhân, cho xã hội. Nhưng nhìn về lâu dài thì chúng ta phải hướng đến các yếu tố tốt hơn, hiện nay công nghiệp của chúng ta chủ yếu là công nghệ lắp ráp, ngành dệt may thì chủ yếu là công nghệ gia công. Nếu như có công nghiệp phụ trợ, thì dù sao vẫn tốt hơn, chúng ta chưa làm được việc đó, nên phải xuất khẩu lao động.

Điều làm ông Bảnh trăn trở, đó chính là làm sao để xuất khẩu được lao động có chất lượng cao, có thương hiệu ra nước ngoài, thì khi đó lao động Việt mới được quan tâm, các nhà kỹ thuật, cán bộ công nhân phải thể hiện được tinh thần thì mới hiệu quả. Có những người đi lao động chui, một số người qua lao động đi rồi trốn ở lại, nên sẽ mang tiếng cho lao động của mình.

Nên điều cần làm nhất hiện nay là phải hướng đến xuất khẩu lao động chất lượng cao, lúc đó hiệu quả lao động mới có giá trị cao, thể hiện vai trò, con người VN khi đi ra các thị trường khác.

Là người đã từng đi học TS bên Nhật, PGS.TS Nguyễn Ngọc Đệ khẳng định: “Với cách đào tạo của chúng ta hiện nay, thì việc xuất khẩu các GS.TS qua Nhật thì cũng ngang tầm, tôi biết chắc chắn kiến thức chúng ta không hề thua kém, dĩ nhiên phải cố gắng nhiều.

Nhưng nếu xuất khẩu được GS.TS thì giá trị nhận được sẽ cao hơn rất nhiều, tại vì số lương phải trả cho đội ngũ này vô cùng lớn, ít nhất cũng phải 5000- 6000 USD/tháng. Tôi nghĩ chúng ta đang tiếp cận với thế giới lớn, trình độ TS ngang tầm TG, nên tập trung vào việc xuất khẩu lao động chất lượng cao” – ông Đệ khẳng định

Việt Nam học Ấn Độ xuất khẩu ThS, TS: Rất nên làm

Bảo Hân (BĐV) – Nên lựa chọn lực lượng lao động có bằng cấp, thậm chí trình độ cao để khẳng định vị thế, chất lượng lao động của VN khi ra thị trường nước ngoài.

“Nên xuất khẩu lao động có bằng cấp, thậm chí trình độ trên ĐH”

Một số chuyên gia nhận định, VN nên học hỏi Ấn Độ, đưa ra nước ngoài những người cán bộ về khoa học, tin học, cán bộ Ths, TS, nghĩa là chất lượng cao.

Trao đổi với Đất Việt, về vấn đề này, ngày 7/9, PGS.TS Hà Huy Thành – Viện hàn lâm khoa học Xã hội VN (KHXH ) cho hay: “Chúng ta nên đi theo cách làm của Ấn Độ, thứ nhất, chất lượng lao động đã qua đào tạo thất nghiệp ở VN quá nhiều, đặc biệt, trong khi muốn đi làm đến những vùng nước phát triển, cũng yêu cầu lao động có trình độ, ít nhất cũng phải ĐH trở lên.

Hơn nữa, nhận thức về xã hội của những người từ nông thôn ra cũng khác với người có bằng cấp.

Thứ hai, những người có trình độ khả năng tiếp thu tốt hơn, nhanh hơn, ý thức của người đã có học vấn cao hơn rất nhiều so với lao động khác. Chính vì thế, tôi hoàn toàn ủng hộ quan điểm phải xuất khẩu cả những người đã có bằng cấp, thậm chí trình độ cao trên ĐH”.

Theo ông Thành, chúng ta không nên nghĩ rằng đó là sự lãng phí chất xám, bởi nếu như họ ở lại VN nhưng lại không có việc làm, thì điều đó còn lãng phí hơn, gây ra tâm lý tiêu cực, rượu chè, cờ bạc.

Mặt khác, khi xuất khẩu lao động trình độ cao mới thể hiện được vị thể của lao động Việt. Trong khi, lao động Việt sẽ đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng, tuy không phải tất cả.

Ông cho biết thêm: “Tôi đã từng ở Nhật Bản rất lâu, người lao động của họ có ý thức, trách nhiệm XH cao, nề nếp, kỷ luật rất nghiêm. Nhưng tất cả các yêu cầu này liên quan đến ý thức cá nhân, mà ý thức của lực lượng có bằng cấp là điều dễ làm.

 Ngay cả những người đã qua đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ sang Nhật Bản cũng sẽ trưởng thành lên rất nhiều. Tuy điều kiện đáp ứng của chúng ta cũng mất một thời gian dài bỡ ngỡ ban đầu, nhưng sau đó sự khéo léo, trình độ tay nghề của người Việt cũng tốt nên không đáng lo”.

GS.TS Phạm Xuân Nam – Viện hàn lâm khoa học Xã hội VN cũng cho rằng, đây chính là xu hướng của các nước tiên tiến khi chuyển sang mô hình phát triển kinh tế tri thức, các nguồn lực lao động, tài nguyên, đều sử dụng yếu tố tri thức để tạo ra những giá trị gia tăng cao nhất.

Tất cả các nước trên thế giới, đi theo nền kinh tế thị trường hiện đại, đều xác định phát triển theo chiều sâu, lấy nguồn lực con người có tri thức cao là nền tảng.

Hơn nữa, theo ông Nam, một số lao động trình độ cao của VN cũng không tìm được việc làm trong nước, thất nghiệp nhiều, họ cũng tự tìm cách xuất khẩu, mà nhà nước cũng không ngăn cản việc này.

Viet Nam hoc An Do xuat khau ThS, TS: Rat nen lam
Tranh cãi việc xuất khẩu lao động trình độ cao

“Tôi nghĩ đấy là xu hướng của cả nhân loại, VN cũng phải đi theo xu hướng đó, nói phát triển ngay kinh tế tri thức thì chắc chắn chúng ta chưa đủ khả năng, bởi đội ngũ lao động chân tay quá đông, nên phải lựa chọn phương án, phát triển kết hợp giữa cả chiều rộng và chiều sâu, tận dụng nguồn lao động dồi dào của mình”, ông Nam nhận định.

Bổ sung thêm kiến thức cho lao động Việt

Nhìn nhận ở góc độ khác, PGS.TS Hà Huy Thành cho rằng, cái được lớn nhất của việc xuất khẩu lao động trình độ cao là tạo được khối lượng công ăn việc làm mà chúng ta đang thiếu. Bên cạnh đó, sau một thời gian 5 năm, hay lâu hơn nữa làm việc bên các nước phát triển, trình độ tay nghề của cán bộ VN sẽ tăng lên rất nhiều. Nhìn trước mắt, họ sẽ có thu nhập để sống.

Ông Thành cho hay: “Đối với các cán bộ tại Viện Hàn lâm khoa học xã hội để ra nước ngoài làm việc cũng không phải ai cũng được mời. Số lượng được mời rất ít. Còn số người ra nước ngoài để học tập thì rất nhiều.

Giả sử, người ta chỉ mời một cơ quan nghiên cứu nào đó hợp tác, tìm đối tác VN sang bên đó cùng giải quyết các vấn đề mà người Nhật quan tâm đối với VN như vấn đề đạo đức XH, tâm lý giáo dục, những lĩnh vực khác. Nhưng không phải cán bộ nào của VN được ở bên đó hoàn toàn, bình thường thì 1 năm mời sang 3 tháng, sau đó trở về nước”.

Theo ông Thành, thì trước đây, các cán bộ Việt sang Liên Xô nhiều nhất, sau đó là Đức, còn bây giờ thì có Úc, Hàn Quốc là chủ yếu. Nhật Bản thì ít hơn vì yêu cầu trình độ của Nhật rất cao, trong khi, tiếng Nhật không hề dễ, rất khó, cho nên lao động của VN sang Nhật ít hơn so với các nước khác. Hiện nay, Thạc sĩ VN học ở Mỹ là nhiều nhất vì tiếng Anh là phổ biến.

Để đáp ứng được những yêu cầu cao, chúng ta nên chú ý đến việc đào tạo cho tầng lớp cán bộ ThS, TS hoặc bậc ĐH, một cách tổng quan về các vấn đề XH của các nước mà mình có ý định cử cán bộ đi để họ nắm được cái chung rồi đi vào từng ngành, lĩnh vực.

Viện KHXH đã đưa rất nhiều người có trình độ qua nước ngoài, sau đó về đều đảm đương những công việc cấp cao cả như: Viện trưởng, trưởng phòng chuyên môn, Viện phó, các chuyên gia, nghĩa là chúng ta đã từng làm, nhưng không có tính chất phong trào rộng rãi như hiện nay.

“Nếu xuất khẩu lao động trình độ cao, VN sẽ không thể phát triển”

Không đồng tình với quan điểm của các nhà nghiên cứu bên Viện hàn lâm KHXH VN, một vị lãnh đạo thuộc Viện hàn lâm khoa học công nghệ VN cho rằng, VN không thể áp dụng bài học của Ấn Độ.

Bởi vì, ưu thế của Ấn Độ là họ đào tạo bằng Tiếng Anh, người lao động của Ấn Độ rất giỏi làm về phần mềm máy tính, lập trình, trong khi ngành nghề này không đòi hỏi cao, đây là lực lượng ăn vào xuất khẩu rất nhiều.

Bên cạnh đó, là các nước khác chuyển nhân công sang nước Ấn Độ làm nhiều. Ví dụ, các công ty lớn khi mà khách hàng như Apple gọi điện đến hỏi sửa chữa, hay hỏi thông tin sản phẩm, họ không thuê người Mỹ mà thuê người Ấn Độ; hay các cơ quan bảo hiểm, như các cơ quan bảo hiểm muốn làm thống kê, trong thời gian gấp, Ấn Độ có lợi thế đó vì nhân công rất rẻ.

Mặt khác, Ấn Độ là đất nước đông dân nhất thế giới, những nước khác đều có trình độ phát triển, nhưng chuyện tỉ mẩn khéo léo không bằng nước này.

“Cho nên, tôi khẳng định mình không học được Ấn Độ, ở Ấn Độ người nghèo thì nghèo kinh khủng, giàu thì rất giàu, khoảng cách giàu – nghèo vô cùng rõ rệt”.

Là người đã từng cộng tác, làm việc và sang Ấn Độ nhiều lần, nhà nghiên cứu khoa học này kể một câu chuyện, khi đến thăm nhà một người bạn, khi tất cả mọi người đang ăn uống, có chuông bấm cửa, chủ nhà đi ra cầm vào giỏ quần áo đã được giặt ủi cẩn thận.

Điều làm ông bất ngờ, đó chính là vì sao một gia đình giàu có lại không mua máy giặt, nhưng sau đó, mới biết lý do là tiền thuê giặt ủi còn rẻ hơn đi mua một cái máy giặt. Để thấy ở bên đó họ phân biệt người nghèo với người đi làm rất nhiều, nên chúng ta không thể lấy mô hình của Ấn Độ làm mẫu cho mình.

Vị này cho biết thêm: “Hiện nay, chúng ta đang mất đi rất nhiều người có trình độ kỹ thuật cao, học sinh đi ra nước ngoài học thành tài đều không về, đó đã là một dạng xuất khẩu, trong khi họ vẫn gửi tiền về nuôi gia đình. Đất nước nào xuất khẩu lao động trình độ cao thì chỉ có nghèo đi, chúng ta phải thấy rõ chuyện đó.

Nếu muốn xây dựng một đất nước hàng hóa cạnh tranh được với nước ngoài thì những người giỏi phải ở lại trong nước.

Nói ngay như bài học của Philippines, cách đây 50 năm họ được coi là mô hình, là nước đầu tiên sẽ đuổi kịp các nước phương Tây, phát triển nhanh hơn Hàn Quốc, thế nhưng, hiện tại đất nước không thể nào đẩy đi lên, mặc dù hàng năm nhận được hàng chục tỷ USD người dân gửi về.

“Nên chính sách xuất khẩu lao động theo tôi chỉ xuất khẩu lao động chân tay, bởi do đất nước nghèo mới phải xuất khẩu, còn về lâu dài, chuyện xuất khẩu lao động là chuyện không nên làm, mình phải xây dựng nền kinh tế ngay trên đất nước mình thì mới tiến lên được”, vị này nhận định.

Đặc biệt, theo vị lãnh đạo này, riêng đối với nguồn lao động Việt thì không nên nhìn nhận vào bằng cấp, đơn giản là bằng cấp đó không thể hiện được trình độ, thậm chí không được thế giới công nhận. Ngay ở những nước trình độ trí thức cao nhất, trình độ học vấn của người dân rất cao là Israel, họ rất coi trọng đào tạo. Có nhiều trường hợp ngay cả trình độ Bác sỹ, hay là kỹ sư, nhiều khi chỉ đi làm công việc chân tay vì không có việc để làm do không đáp ứng đủ yêu cầu.

Còn ở VN, thì bây giờ một TS lương không bằng người đi thu tiền điện, để thấy bằng cấp không phản ánh đúng năng lực của người lao động, cho nên chúng ta không nên cổ súy cho việc xuất khẩu lao động, trong lúc mình đang thừa nhân công lao động thì mình xuất khẩu chân tay nhưng về lâu dài đó không phải biện pháp đưa đất nước mình đi lên mà còn có hại.

Ông nhận định: “Đất nước muốn đi lên thì phải coi trọng khoa học và giáo dục, Hàn Quốc, Singapore là hai nước điển hình, họ đi lên nhanh vì họ coi trọng hai lĩnh vực này”.

Hiện nay, Viện hàn lâm khoa học công nghệ VN chỉ đưa cán bộ ra nước ngoài theo hình thức liên kết, hợp tác nghiên cứu đề tài, đó là xu hướng chung trong khoa học hiện nay.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s