15% công chức chủ chốt có bằng Tiến sĩ thì dân ta đi ăn mày!

Posted: September 15, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Quang A (AlanPhan) theo BVN – Nhìn cái tiêu đề “Có bằng Tiến sĩ mới đột phá tư duy” của bài báo, tôi nghĩ Vietnamnet phịa chuyện giễu chơi cho vui.

� Xem thêm: Doanh nghiệp nội dễ “chết” trên sân nhà + Ta đang nai lưng làm cho nước ngoài nó hưởng!

Nhưng khi thấy báo trích dẫn nghiêm túc một ông Tiến sĩ, quan chức cấp cao của Sở Nội vụ Hà Nội, thành viên Ban soạn thảo chiến lược cán bộ công chức khối chính quyền thành phố Hà Nội, thì tôi thực sự phát hoảng. Làm gì có sự ngu đần đến thế được? Hay là báo viết bậy, người ta nói một đằng lại viết một nẻo? Nếu thế thì Vietnamnet phải cải chính ngay đi không là gay đấy! Cũng chẳng hiểu báo đã liệt kê hết các chức danh vô cùng quan trọng của ông ấy chưa? Chưa liệt kê hết cũng có thể bị khó dễ khi làm việc với Sở của ông ta đấy! Dưới đây tôi viết với giả thiết những điều báo viết là đúng.

Sau vài phút bàng hoàng, tôi bình tâm lại và thấy chắc Vietnamnet viết đúng. Với cách làm nhân sự của các cơ quan nhà nước từ xưa đến nay thì quá dễ hiểu: không có những điều kì quái mà ông Tiến sĩ ấy nói ra mới là lạ!

Hayek đã phải dành hẳn một chương (chương 10) trong cuốn The Road to Serfdom từ 1944 của ông (Bản dịch của tôi là Con đường dẫn tới chế độ nông nô còn bản dịch mà NXB trí thức mới xuất bản có tựa đề Đường về Nô lệ; tôi nghĩ dùng từ “về” chưa lột hết nghĩa, cảnh nô lệ không đáng “về” và không phải ở quá khứ mà ở ngay trước mắt nếu…) để trả lời cho câu hỏi cũng là tựa đề của chương: “vì sao kẻ tồi nhất leo lên đỉnh”. Có thể tranh luận về các lí giải của Hayek, bạn đọc nên đọc chương đó và tự đưa ra lí giải của mình.

Hãy quay lại ý kiến của ông Tiến sĩ. Theo ông người ta đã tiêu (không rõ bao nhiêu) tiền đóng thuế của dân để tiến hành một “đề tài khoa học”. Đúng là loạn “đề tài khoa học”.

Có một sự lầm lẫn khái niệm ở đây.

Việc của công chức là công việc hành chính, là việc công. Công chức là người được bầu hay được chỉ định để phục vụ, để làm các việc công đó. Việc của công chức không phải là việc “nghiên cứu khoa học”. Nhân dân đóng thuế để nuôi họ làm việc công, không phải để họ nghiên cứu khoa học. Sự lẫn lộn khái niệm dẫn đến những hệ lụy khôn lường.

Phải tuyệt đối cấm công chức dùng thời gian và tiền bạc của Nhà nước để “được đào tạo” thành Tiến sĩ. Người dân đóng thuế nuôi các quan chức không thể để họ xài tiền của mình một cách phí phạm như vậy.

Xã hội chỉ phát triển nếu có sự phân công lao động hữu hiệu (nôm na là ai giỏi việc gì thì làm việc ấy). Vậy cớ chi vẽ ra lắm “đề tài khoa học” để cho các quan trở thành các “nhà nghiên cứu khoa học” hay chỉ để có thêm kinh phí cho các quan “cải thiện”. Nếu đó là công việc thuộc bổn phận của họ phải làm mà lại “vẽ ra” đề tài “nghiên cứu khoa học” thì có thể xem xét liệu có chuyện lạm quyền, tham nhũng hay không. Hãy minh bạch những chuyện đó, dần dần người dân sẽ hiểu, quan chức sẽ hiểu họ phải làm gì và không được làm gì.

Các nhà nghiên cứu khoa học thường làm việc tại các viện nghiên cứu và các trường đại học. Họ không phải là các công chức, họ là các viên chức có thể ăn lương từ ngân sách, họ không thuộc cơ quan công quyền. Cần phải rạch ròi chuyện này. Về cơ bản chỉ các nhà nghiên cứu khoa học thật sự đó mới viết luận văn Thạc sĩ, Tiến sĩ. Những người khác, các công chức, người dân thường cũng có thể tự do nghiên cứu khoa học và kiếm bằng Tiến sĩ nếu họ muốn, nhưng phải với tư cách cá nhân. Phải tuyệt đối cấm công chức dùng thời gian và tiền bạc của Nhà nước để “được đào tạo” thành Tiến sĩ. Phân công lao động xã hội hiện đại không đòi hỏi họ là nhà nghiên cứu. Nếu họ vẫn muốn, nên để họ thi tuyển vào các viện nghiên cứu và các đại học, nếu họ có khả năng thực sự và được nhận. Nếu các tổ chức nghiên cứu này là các tổ chức nghiên cứu thực sự, tôi tin 99,9% số Tiến sĩ ở các cơ quan công quyền sẽ không được nhận vào làm.

Công chức gương mẫu, mẫn cán, làm tốt công việc của mình được xã hội công nhận và danh tiếng xã hội của họ có thể khác, nhưng cũng có thể chẳng kém gì của các Giáo sư hay Tiến sĩ tử tế. Cái bằng không làm nên con người, danh tiếng của một người chỉ phụ thuộc vào những cống hiến thực sự của họ cho xã hội, dẫu họ có biết đọc biết viết hay không, chứ chẳng nói họ có cái mảnh bằng (thường là rởm) hay không. Sự đánh giá, tuyển dụng, cất nhắc nhân viên không theo công trạng chắc chắn sẽ dẫn đến sự lụn bại của tổ chức sử dụng họ, dẫu đó là một doanh nghiệp, một cơ quan hay Chính phủ.

Lầm lẫn khái niệm, đi biến cơ quan công quyền thành nơi “nghiên cứu khoa học” rởm cũng chẳng khác việc bắt thợ nề làm thợ mộc và cái nhà do họ xây chắc chắn sẽ bị sụp. Và người gánh chịu hậu quả của kiểu “trọng dụng nhân tài” này sẽ là những người đóng thuế, là nhân dân và cả dân tộc. Nếu vẫn lấy mảnh bằng làm thước đo khi tuyển chọn và đánh giá, cất nhắc; nếu chỉ lấy lòng “trung thành” với cái gì đó rất mơ hồ mà thực chất là trung thành với sếp; nếu vẫn làm nhân sự theo cách cũ, thì đất nước sẽ lụn bại. Nếu chỉ cần 15% chứ chưa nói đến 100% công chức chủ chốt có bằng Tiến sĩ thì chắc chắn dân ta đã phải chịu số phận ăn mày. Những người có bằng Tiến sĩ ấy sẽ “đập phá tư duy” đưa chúng ta đến chỗ chết.

Người dân đóng thuế nuôi các quan chức không thể để họ xài tiền của mình một cách phí phạm như vậy. Các Tiến sĩ hãy thi thố trên mặt trận khoa học. Tôi kiến nghị ông Chủ tịch thành phố Hà nội hãy để 56 Tiến sĩ hiện có trong bộ máy công quyền chuyển về các cơ sở nghiên cứu thực sự, nếu họ có năng lực khoa học và các cơ sở đó chịu nhận mà không có sức ép nào, còn nếu không thì nên để họ ra khỏi cơ quan, hãy để họ thử làm các nhà nghiên cứu tự do, tự làm, tự kiếm sống, xem họ có thể sống bằng cái “mảnh bằng Tiến sĩ” của mình hay không.

Doanh nghiệp nội dễ “chết” trên sân nhà

Thái Bình (BizLive) Theo Báo Lao Động – Cộng đồng kinh tế ASEAN sẽ chính thức được thành lập vào cuối tháng 12/2015. Đây là bước ngoặt đánh dấu sự hội nhập toàn diện của các quốc gia Đông Nam Á. Dẫu vậy, với các DN trong nước, sự tham gia này tiềm ẩn nguy cơ khiến DN cạn kiệt, đánh mất thị trường.


Ảnh minh họa.

Chênh lệch trình độ

Theo GS-TS Nguyễn Trường Sơn – Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng, gia nhập AEC sẽ mở ra những cơ hội to lớn trong việc tiếp cận một khu vực thị trường rộng lớn.

Tuy nhiên, khi AEC có hiệu lực, các DN Việt Nam phải đối mặt với thách thức không nhỏ, đó là sự chênh lệch về trình độ phát triển và do đó, sức ép cạnh tranh gia tăng, khả năng sẽ đẩy các DN ra khỏi thị trường truyền thống.

TS Sơn nhấn mạnh: “Điều đó đặc biệt nghiêm trọng hơn khi phần đông các DN Việt Nam là DN nhỏ và vừa, năng lực cạnh tranh hạn chế, nguyên vật liệu, phụ tùng chủ yếu nhập khẩu từ các nước trong khu vực, đặc biệt từ Trung Quốc”.

Cũng theo TS Sơn, từ tháng 5.2015 đến nay, có quá nhiều hiệp định thương mại được ký kết, sẽ đặt ra cho các DN nhiều lựa chọn nhưng một số DN không biết đi về đâu. Trong khi đó, công tác tuyên truyền cho hội nhập chưa thực sự đúng mức, do đó, các DN có một phần nào chủ quan khi tiến trình hội nhập AEC đã cận kề.

Bàn về những khó khăn, thách thức của các DN trong nước khi hội nhập AEC, ông Nguyễn Văn Lý – Phó Chủ tịch Hiệp hội DN nhỏ và vừa TP.Đà Nẵng – phải thốt lên: “Vô vàn khó khăn!”.

Ông Lý cho rằng: “Các DN muốn phát triển sản xuất phải cần vốn, trong khi đó, lãi suất ngân hàng quá cao; các DN nhỏ khó tiếp cận được các chính sách ưu đãi, đãi ngộ của Nhà nước”. Cũng theo ông Lý, hội nhập đi nhanh nhưng vấn đề cơ chế chưa theo kịp dẫn đến thách thức càng nhiều, các DN vừa và nhỏ VN sẽ cạn kiệt, chết trên sân nhà.

Giải pháp cho DN

Đế có giải pháp thích hợp cho DN trong tiến trình hội nhập AEC, TS Nguyễn Thị Bích Thu – Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng – đề xuất giải pháp “Đầu tư cho nguồn nhân lực để tạo lợi thế cạnh tranh khi tham gia AEC”.

Theo TS Thu, khi môi trường kinh doanh biến động sẽ đặt nhiều yêu cầu, tập trung mạnh mẽ về yếu tố con người trong tổ chức. “Các nghiên cứu mới nhất gần đây đều thống nhất cho rằng, nguồn lực nhân lực là nguồn tạo lợi thế cạnh tranh bền vững, là nguồn lực quan trọng nhất trong nền sản xuất xã hội, là lợi thế cạnh tranh của các quốc gia, các ngành kinh tế khác nhau và của các DN” – TS Thu nói.

Đồng quan điểm với TS Thu, GS-TS Nguyễn Trường Sơn cho rằng: “Nếu chúng ta không đầu cho nguồn nhân lực ngay từ bây giờ, không có chính sách đãi ngộ về vật chất cũng như phi vật chất thỏa đáng, một bộ phận lao động có tay nghề cao ở các DN Việt Nam sẽ dịch chuyển sang các nước trong khu vực”.

Còn theo PGS-TS Nguyễn Mạnh Toàn – Hiệu trưởng Trường Đại học Kinh tế – Đại học Đà Nẵng – để tạo lợi thế cạnh tranh, các DN phải sở hữu một thương hiệu mạnh, qua đó chiếm được lòng trung thành của khách hàng. Sự gắn kết khách hàng với thương hiệu sẽ góp phần gia tăng lòng trung thành, nâng cao giá trị thương hiệu, tạo lợi thế cạnh tranh lớn cho các DN Việt Nam.

Ta đang nai lưng làm cho nước ngoài nó hưởng!

Hoài Đức (BizLive) Theo Báo Người Lao Động – Hội nhập kinh tế quốc tế với hình ảnh người công nhân gò lưng đạp máy may hay cầm cây cọ quệt quệt, dán dán… thì làm sao mà khá nổi?


Chen chúc trong những xưởng chế biến thủy sản.

Bữa ghé thăm công ty của anh bạn chuyên gia công may mặc cho nước ngoài, thấy băng rôn giăng rợp trời “Thi đua tăng năng suất, chất lượng sản phẩm…”, tôi hỏi: “Thi đua vậy mà có tăng năng suất lao động được không?”. Anh bạn gật đầu: “Có chứ. Chẳng hạn hồi trước công nhân may 45 phút 1 cái áo, bây giờ kéo xuống 40 phút”. Tôi lại hỏi: “Nguyên nhân của việc kéo giảm thời gian, tăng năng suất lao động là do đâu?”.

Suy nghĩ một chút, anh bạn xòe tay ra: “Công nhân đi làm sớm hơn; sắp xếp, chuẩn bị nguyên phụ liệu một cách khoa học hơn, tập trung làm việc, không nói chuyện phiếm, không đi vệ sinh hay uống nước, ăn vặt…”. Tôi lại hỏi cắc cớ: “Vậy chớ theo anh thì 50 năm nữa năng suất lao động của công nhân mình có đuổi kịp Singapore hay Thái Lan không? Là tôi nghe mấy ông dự hội thảo nói vậy”. Anh bạn tôi nhăn mặt: “Hoang đường! Bộ người ta đứng yên một chỗ chờ mình đuổi bắt hay sao?”.

Gia công xếp vị trí thấp nhất trong mô hình “nụ cười Stan Shi”. Dệt may, da giày và nhiều ngành nghề khác của Việt Nam đang nằm ở vị trí này

Theo anh bạn tôi, năng suất lao động phụ thuộc vào hai yếu tố quan trọng nhất là công nghệ và tay nghề của người lao động. “Cách quản lý cũng quan trọng nhưng cái này nó gắn liền với công nghệ, công nghệ cao tự khắc trình độ quản lý cũng cao. Chứ còn…”. Thấy anh bạn bỏ lửng câu nói, tôi hỏi dồn: “Chứ còn sao?”. “Thì anh nhìn đi rồi tự khắc có câu trả lời chứ hỏi khó nhau làm gì?”- anh bạn tôi cười khì khì.

Cuối cùng thì tôi cũng có đáp án cho cái câu bỏ lửng của anh bạn. Không có tiền để đầu tư, mua sắm thiết bị mới, hiện đại. “Sao không vay ngân hàng?”. Nghe tôi hỏi, mặt anh bạn tôi sa sầm: “Sức mình tới đâu chơi tới đó, có bao nhiêu làm bấy nhiêu. Đi vay thì làm chúng ăn hết”.

Quan điểm của anh bạn tôi có hơi tiêu cực nhưng mà đúng thực tế. Anh kể có mấy người bạn ham làm ăn lớn, vay mượn lung tung, giờ chết ngắc!

Có thể nói dệt may, da giày và thủy sản chiếm vị trí trong top đầu các ngành có giá trị xuất khẩu lớn nhất hằng năm của Việt Nam. Nó giải quyết việc làm cho nhiều triệu lao động cả nước. Tuy nhiên, giá trị gia tăng mà nó đem lại rất thấp, chủ yếu là “lấy công làm lời”.


Công nhân gò lưng bên những chiếc máy may…

Các kết quả nghiên cứu và khảo sát gần đây đối với ngành dệt may, da giày cho thấy dù đã gia nhập chuỗi giá trị gia tăng toàn cầu nhưng hơn 1/4 thế kỷ qua, dệt may Việt Nam vẫn ở vị trí thấp nhất trong “miếng bánh” ấy: chưa đến 1%, chủ yếu là tiền công gia công sản phẩm. Còn các khâu mang lại giá trị cao như ý tưởng, thương hiệu, thiết kế, nguyên phụ liệu, phân phối, marketing… thì nước ngoài hưởng hết! Nói ngắn gọn là ta nai lưng làm cho nước ngoài nó hưởng!

Biết vậy nhưng chắc chắn trong tình hình hiện nay sẽ không có ai dám mạnh dạn “thay đổi cơ cấu” ngành nghề sản xuất, dẹp bỏ dệt may, da giày hay chế biến thủy sản vì nó vốn là “thế mạnh của kẻ yếu”. Anh bạn tôi nói người ta đưa mẫu, đưa nguyên phụ liệu, thậm chí đến cái nút áo cũng mang từ nước ngoài vào, còn ta chỉ gò lưng đạp máy may, sang hơn thì có gắn cái moteur. Sản phẩm làm xong, người ta mang đi chào bán với giá cao ngất ngưỡng, còn công nhân mình thì được trả mấy đồng lương bèo.

Đó là ngành may mặc. Còn da giày thì thê thảm hơn. Có dịp đi vào những nhà máy gia công các nhãn hiệu giày lừng danh như Nike, Adidas, Reebok… các bạn sẽ thấy hình ảnh những công nhân tay cầm cọ quệt quệt, dán dán đế giày. Mùi keo xộc lên nồng nặc nhưng chẳng có mấy công nhân đeo khẩu trang. “Đôi giày mang đi bán giá trăm “đô” nhưng mình chỉ được có 1 “đô”. Đừng thấy giá trị xuất khẩu chục tỉ USD mà ham. Vô túi nước ngoài hết”- một anh bạn tôi làm trong ngành da giày nói.

Lại nhớ hôm trước nhân vụ Hội đồng Tiền lương quốc gia bàn vụ tăng lương tối thiểu vùng, tôi hỏi anh bạn đang làm quản lý một nhà máy chuyên sản xuất giày của nước ngoài đặt tại TP HCM rằng anh có ủng hộ việc tăng lương 16,8% như đề xuất của Tổng LĐLĐ Việt Nam hay không thì anh phân vân: “Đúng là lương công nhân hiện nay thấp quá nhưng với doanh nghiệp đông công nhân như công ty mình thì tăng 50.000 đồng cũng là một con số lớn, doanh nghiệp chịu không thấu”.

Tôi nói: “Chịu không thấu thì đóng cửa nhà máy đi, chuyển qua nước khác, Philippines chẳng hạn”. Nghe vậy anh bạn bật cười khà khà: “Hỏng được đâu. Cái này nói nhỏ ông nghe chứ đừng đi nói lung tung. Dù sao thì ngoài việc tiền công rẻ, ở Việt Nam mình còn nhiều thứ khác mà doanh nghiệp có thể lách luật để giảm chi phí, chẳng hạn như vấn đề môi trường, vấn đề an toàn- vệ sinh lao động, chưa kể chuyện nhạy cảm như chuyển giá…”.


… để nhận những đồng lương bèo bọt

Vậy là biết rồi nghen. Tăng năng suất lao động với những chiếc máy may sản xuất ở thập niên 1960, 1970 của thế kỷ trước thì chỉ là hồi trước may 45 phút được 1 cái áo, bây giờ kéo xuống 40 phút nhờ công nhân đi làm sớm hơn; sắp xếp, chuẩn bị nguyên phụ liệu một cách khoa học hơn, tập trung làm việc, không nói chuyện phiếm, không đi vệ sinh hay uống nước, ăn vặt!

Tóm lại, chừng nào dệt may, da giày hay những ngành nghề thâm dụng lao động khác còn chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế; chừng nào các doanh nghiệp dệt may, da giày Việt Nam còn sử dụng những chiếc máy sản xuất cách đây 40-50 năm thì vẫn còn hình ảnh người công nhân Việt Nam gò lưng bên những chiếc máy may hoặc cầm cọ quệt quệt, dán dán. Và như vậy thì chuyện tăng năng suất để tăng tiền lương cho người lao động chỉ có trong mơ.

Xin kết thúc câu chuyện phiếm này bằng việc nhắc đến mô hình “nụ cười Stan Shi”. Đó là đường cong có dạng như một nụ cười, được vẽ ra bởi ông Stan Shi, người sáng lập hãng máy tính Acer. Hãng máy tính nổi tiếng này đã tham gia chuỗi sản xuất máy tính trên thế giới từ vị trí thấp nhất là gia công lắp ráp, nhưng họ đã nỗ lực không ngừng để ngày nay chiếm lĩnh những vị trí có giá trị gia tăng cao nhất.

Sao ta không làm được như họ nhỉ?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s