Tương lai không sáng sủa của nông sản Việt

Posted: September 17, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thùy Dung (TBKTSG Online) – Từ đầu năm đến nay, xuất khẩu các mặt hàng nông sản liên tục giảm, các nhà kinh tế cho rằng xu hướng này sẽ vẫn tiếp tục duy trì trong thời gian tới do những diễn biến bất lợi của kinh tế thế giới như đối thủ cạnh tranh phá giá đồng tiền, suy thoái kinh tế toàn cầu do tác động của thị trường Trung Quốc, dư cung nông sản trên bình diện toàn cầu…

� Xem thêm: Xuất khẩu nông sản lao dốc vì chiến tranh tiền tệ! + Nông sản “bí” đầu ra: Sao mãi không ai chịu trách nhiệm?


Dự báo trong trung và dài hạn, gạo vẫn là mặt hàng sẽ tiếp tục giảm giá – Ảnh: TL

Bức tranh xuất khẩu nông sản với gam màu tối

Tại Hội thảo “Thương mại nông nghiệp Việt Nam trong biến động của kinh tế toàn cầu” do Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn (Ipsard) tổ chức ngày 16-9 tại Hà Nội, ông Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, Viện trưởng Ipsard, cho rằng xuất khẩu nông sản Việt Nam giảm mạnh có nguyên nhân lớn từ việc các đối thủ cạnh tranh phá giá đồng nội tệ khiến hàng hóa của Việt Nam trở nên đắt tương đối so với trước đây. Biểu hiện rõ nhất là các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam đã bị giảm năng lực cạnh tranh về giá khi các đối thủ cạnh tranh lớn phá giá như gạo của Ấn Độ, Thái Lan; cà phê từ Brazil, Colombia; tôm từ Thái Lan, Ấn Độ, Indonesia; cao su từ Indonesia và Malaysia.

Bên cạnh đó, kinh tế thế giới biến động mạnh, gần đây nhất là thị trường Trung Quốc, đã tác động lớn đến thương mại nông nghiệp Việt Nam. Khi nền kinh tế Trung Quốc biến động, kinh tế thế giới cũng chao đảo. Trong đó, nước “hàng xóm” như Việt Nam chịu tác động mạnh hơn cả do có đến 20% hàng hóa nông nghiệp Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc, không tính lượng xuất tiểu ngạch.

Ông Tuấn dẫn chứng, trong bảy tháng đầu năm, Trung Quốc chiếm 37% tổng giá trị xuất khẩu gạo của Việt Nam, 47% tổng giá trị xuất khẩu cao su, 36% tổng giá trị xuất khẩu rau quả, 13% tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ, 12% với điều, 7% với thủy sản…

Cũng tại hội thảo, ông Nguyễn Trung Kiên, Quyền trưởng Bộ môn Thị trường và Ngành hàng (Ipsard), cho hay tăng trưởng nông nghiệp Việt Nam phụ thuộc nhiều vào xuất khẩu. Trong khi đó, bức tranh xuất khẩu nông sản đan xen giữa mảng sáng và tối nhưng mảng tối vẫn là gam màu chủ đạo.

Khoảng sáng ít ỏi của bức tranh gồm những mặt hàng như sắn, rau quả, hạt tiêu, điều, gỗ và sản phẩm gỗ, nhưng mặt tối có phần lấn át với những mặt hàng xuất khẩu chủ lực như gạo (giảm 13% về giá trị), cà phê (-16%), cao su (-6%), và thủy sản (-16%). Tổng 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng nông sản chính ước đạt trên 9,2 tỉ đô la Mỹ, giảm 7,7% so với cùng kỳ năm 2014.

Theo phân tích của ông Kiên, hiện nay sức cạnh tranh, chủ yếu về giá, của nông sản Việt Nam giảm đáng kể so với trước. Nếu như trước đây, gạo 25% và gạo 5% tấm của Việt Nam có giá bán khá cạnh tranh so với gạo của Thái Lan và Ấn Độ, nhưng do tác động của chính sách tỉ giá trong và ngoài nước nên giá bán đến nay đã xấp xỉ bằng nhau. Nếu như năm 2013, Trung Quốc nhập tới 66% gạo Việt Nam thì tính hết 4 tháng đầu năm 2015, con số này chỉ còn là 47%. “Phần còn lại bị thay thế bởi gạo Thái Lan, Campuchia,” ông Kiên nói.

Đối với thị trường cà phê, giá cà phê Arabica của Brazil và Colombia giảm mạnh do nội tệ hai nước trên giảm giá. Điều này đã tác động trực tiếp tới  xuất khẩu cà phê Robusta của Việt Nam. “Hơn nữa, các nhà rang xay luôn ưa thích Arabica hơn nhờ chất lượng và mùi vị nên khi giá Arabica và Robusta không có sự chênh lệch nhiều thì họ sẽ chuyển sang mua cà phê Arabica,” ông Kiên nói.

Đối với mặt hàng cao su, tồn kho cao su thế giới đang tiếp tục tăng lên; giá dầu giảm khiến các nhà đầu tư chuyển sang dùng cao su tổng hợp; nhu cầu tiêu thụ cao su tại Trung Quốc giảm mạnh khiến giá cao su vẫn duy trì xu hướng giảm.

Mặt hàng thủy sản cũng không khá hơn khi hiện tại tôm xuất khẩu của Việt Nam đang có giá bán cao hơn so với mặt hàng này từ các đối thủ cạnh tranh như Ấn Đô, Thái Lan và Indonesia.

Chưa thấy tia sáng

Ông Kiên dự báo, thời gian tới, một trong những vấn đề nổi cộm đối với xuất khẩu nông lâm thủy sản Việt Nam là sự suy giảm năng lực cạnh tranh về giá do các đối thủ cạnh tranh lớn phá giá đồng nội tệ. Bên cạnh đó, nền kinh tế hiện nay ít có cơ hội phục hồi, và có khả năng rơi vào cuộc khủng hoảng mới. Giá hàng hóa dự báo tiếp tục giảm sâu, thương mại toàn cầu bắt đầu yếu đi khi yếu tố đóng góp tăng trưởng ngắn và dài hạn đều suy giảm.

Các tổ chức phân tích hàng đầu trên thế giới như IMF, World Bank đều đưa ra dự báo giá các sản phẩm nông sản như gạo, cà phê, tôm đều sẽ tiếp tục chu kỳ giảm cho tới năm 2020 từ 7-13% so với năm 2015, riêng cao su có xu hướng tăng nhẹ nhưng không đáng kể.

Trước tình hình trên, Ipsard đưa ra khuyến nghị cần tận dụng thị trường Mỹ do đồng đô la vẫn duy trì mức giá cao. Cần khơi thông thị trường, đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng Việt Nam có lợi thế vào thị trường này như thủy sản, cà phê, hạt tiêu, hạt điều, gỗ và sản phẩm từ gỗ. Đồng thời cũng cần đẩy mạnh xúc tiến thương mại, phát triển chính ngạch thị trường Trung Quốc đối với các mặt hàng như sắn, rau quả, cao su, điều, gỗ và sản phẩm gỗ, tôm.

Với mặt hàng gạo, cần kết nối nhanh chóng để có các hợp đồng xuất khẩu sang Indonesia, Philippines, Malaysia vì các nước này có thể thiếu hụt nguồn cung trong năm nay.

Về trung và dài hạn, ông Nguyễn Trung Kiên cho rằng cần hỗ trợ doanh nghiệp đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Ví dụ gạo sang Bờ Biển Ngà, Ghana, Mỹ, Malaysia, UAE; cà phê sang Hàn Quốc, Ailen, Nga, Australia, Thái Lan; cao su sang Ailen, Thổ Nhĩ Kỳ…

Xuất khẩu nông sản lao dốc vì chiến tranh tiền tệ!

Bạch Dương (NDH) – Việc các đồng tiền trên khiến ồ ạt phá giá thời gian qua đã làm cho giá xuất khẩu các nông sản chính của Việt Nam giảm mạnh so với trước đây.


Xuất khẩu nông sản gặp khó vì phá giá đồng tiền của các nước. Ảnh minh hoạ

Ngày 16/9, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp đã tổ chức hội thảo: “Thương mại nông nghiệp Việt Nam trong biến động kinh tế thế giới”

Chia sẻ tại hội thảo, ông Nguyễn Trung Kiên, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp khẳng định xuất khẩu ngành nông lâm thủy sản của Việt Nam từ đầu năm 2015 đến nay liên tục sụt giảm.

Theo ông Kiên, Việt Nam là nước có thặng dư thương mại về nông lâm thủy sản nhưng đã trải qua đợt sụt giảm dài bất thường từ tháng 10/2014 đến tháng 2/2015.

Mức phục hồi nhẹ giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 6/2015 không đủ bù để đạt mức thặng dư thương mại. Sau đó, đến giai đoạn tháng 7-8/2015, xuất khẩu nông lâm thủy sản tiếp tục suy giảm.

Theo thống kê, Trung Quốc là đối tác lớn của một loạt nông sản xuất khẩu của Việt Nam.

Trong 7 tháng đầu năm 2015, Trung Quốc chiếm 36,7% tổng giá trị xuất khẩu gạo; 47% giá trị xuất khẩu cao su; 36,2% giá trị xuất khẩu rau quả và cung cấp đến 55% thuốc trừ sâu và nguyên liệu cho Việt Nam.

Đại diện Viện chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn, việc Trung Quốc phá giá đồng Nhân dân tệ 4,6% hồi tháng 8/2015 không những dẫn đến những tác động trên thị trường tài chính, mà còn ảnh hưởng đến xuất khẩu nông sản của Việt Nam – một ngành vốn đang phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Trung Quốc.

Trong 3 năm qua, Trung Quốc phá giá sau khi các đồng tiền chính giảm mạnh so với USD. Từ tháng 1/2013- tháng 8/2015, đồng Euro giảm 20%; đồng Yên Nhật giảm 39%; đồng Won Hàn Quốc giảm 11% so với đồng USD.

Đặc biệt, giảm mạnh nhất là đồng tiền của các nước đang phát triển như đồng Real Brazil giảm 72%; đồng Rupiad Indonesia giảm 42%; đồng Ringgit Malaysia giảm 33%; Rupee Ấn Độ giảm 20%; đồng Bant Thái giảm 18%…

Việc phá giá của các đồng tiền trên khiến cho giá xuất khẩu các nông sản chính của Việt Nam giảm mạnh so với trước đây.

Sau khi cuộc chiến tiền tệ được manh nha, giá cà phê giảm mạnh do Brazil và Colombia phá giá tiền gây sức ép đối với xuất khẩu cà phê của Việt Nam.

Cao su cũng chịu ảnh hưởng tương tự khi dự trữ cao su tăng duy trì ở mức cao; giá dầu giảm mạnh khiến nhu cầu cao su của Trung Quốc yếu đã đẩy giá thế giới thấp.

Việt Nam đang cố duy trì lợi thế cạnh tranh xuất khẩu cao su nhờ chi phí thấp, năng suất cao nhưng biên độ giữa giá thành và giá xuất khẩu đang thu hẹp dần.

Đáng chú ý với mặt hàng gạo, giá gạo Việt Nam đang xấp xỉ giá gạo Thái Lan, Ấn Độ ở vùng giá thấp. Việt Nam chiếm thị phần trên 65% nhập khẩu gạo của Trung Quốc năm 2012-2013; giảm xuống 53% năm 2014 và xuống 47% trong 4 tháng năm 2015. Đối thủ của Việt Nam trên thị trường này là Thái Lan, Campuchia và Pakistan.

Trước những diễn biến bất thường của thị trường tiền tệ thế giới, ông Kiên cảnh báo xuất khẩu của Việt Nam sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng lớn do nguy cơ phá giá mạnh vẫn được dự báo sẽ tiếp diễn.

Thêm vào đó, cuộc khủng hoảng kinh tế cùng với hành động phá giá mạnh đồng Nhân dân tệ của Chính Phủ Trung Quốc sẽ tạo ra nhiều bất ổn hơn do xuất khẩu nông sản của Việt Nam phụ thuộc lớn vào thị trường này.

Nông sản “bí” đầu ra: Sao mãi không ai chịu trách nhiệm?

Xuân Thân (VOV.VN) – Một điểm tắc của mọi điểm tắc trong tiêu thụ nông sản đang nằm trong câu hỏi rằng: Tại sao không thấy ai chịu trách nhiệm để ra nông nỗi?

VOV.VN đã có những phân tích cho thấy thực trạng tiêu thụ nông sản Việt khó khăn, xúc tiến thương mại kém hiệu quả. Nhiều hội thảo của các cấp, bộ ngành đã bàn nhiều giải pháp, nhưng đến nay đầu ra của nông sản Việt vẫn “bí”.

Trách nhiệm để xảy ra thực trạng này thì dường như vẫn như quả bóng được chuyền chân.

Vì thế, nhiều nông sản Việt gặp khó khăn khi tiêu thụ mấy năm gần đây đang vẽ bức tranh vừa rối vừa tối cửa ra cho ngành nông nghiệp Việt Nam, đặc biệt sang năm 2015 này, xuất hiện liên tiếp các phong trào người Việt mua nông sản kiểu hỗ trợ… để giải cứu cho nông dân.


Mua dưa hấu giải cứu cho nông dân chỉ là giải pháp tạm thời (Ảnh minh họa: KT)

Cơ hội “vàng” được vẽ trên giấy

Nói bức tranh ngành nông nghiệp đang trở nên rối và tối bởi nhiều lẽ. Trong đó, trước hết là nghịch lý giữa những cơ hội “vàng” liên tiếp được vẽ ra trên giấy (tại các hội thảo của cả nhà khoa học, nhà quản lý, nhà doanh nghiệp…) với thực tế được mùa rớt giá, được giá mất mùa của nhiều nông sản.

Câu chuyện tiêu thụ dưa hấu dường như đang trở thành “chu kỳ buồn” của nhà nông vài năm nay thì giờ nối tiếp thêm cảnh nông dân “tím tái” vì hành tím, diêm dân “mặn đắng” vì muối, hay cảnh trẻ em Việt phải uống sữa đắt nhất nhì thế giới, thậm chí không có sữa uống thì không ít nông dân Việt lại lâm cảnh đổ sữa ra đường do không có nơi tiêu thụ….

Tất nhiên, bên cạnh những nông sản này, nông dân Việt Nam hẳn đã nhiều lần quặn lòng, rơi lệ nhìn sản phẩm làm ra ế ẩm, bị thị trường ngược đãi, thương lái o ép, thậm chí cả doanh nghiệp “dìm hàng” ép giá… Cảnh đó không khó gặp đây đó trên đồng mía, đồng lúa; trong rẫy cà phê, rẫy tiêu; trong vườn cao su, vườn điều; trên những luống dưa bao tử, dưa chuột…

Những chuyện này không còn là những mẩu tin, những bình luận thời sự trên mặt báo chí để giới thị thành đọc lướt cho biết nữa, nó đã trở nên nghiêm trọng khi là chủ đề râm ran ngao ngán không chỉ của chính nông dân đây đó khắp 3 miền Bắc, Trung và Nam, mà còn cả sự xót xa hiện lên mặt của những cư dân trong các văn phòng công sở, trong trường học, xí nghiệp… khi nói về nông sản Việt. Sự ngao ngán này không chỉ là hệ lụy buồn của kết quả mùa vụ, mà hơn thế, nó là niềm tin của người nông dân vào cây trồng, vật nuôi; là niềm tin và sự định hướng cho sản xuất của cơ quan công quyền liên quan.

Niềm tin đó sẽ không được củng cố và duy trì nếu cảnh huy hoàng của thị trường cho nông sản Việt vẫn cứ mãi ở thì tương lai, là lời hứa, là khẩu hiệu treo đâu đó, được rao rảng đâu đó, bởi ai đó.

Nói thế không phải đổ hết cái sự bế tắc đầu ra của nông sản cho người định hướng. Vì thực tế, khi nông sản được mùa rớt giá, thậm chí có thị trường mà hàng không đảm bảo tiêu chuẩn để gia nhập thị trường, còn có phần do chính người nông dân đây đó cũng tự xé rào kỹ thuật canh tác, tự phát nuôi trồng chạy theo đám đông, rồi đám đông chỗ này lại chạy theo đám đông chỗ khác để trở thành những phong trào phát triển cây trồng vật nuôi dựa trên nền kiến thức “nghe họ nói làm được…”, hoặc “thấy bảo làm thế sẽ tốt…”.

Trong số hàng triệu nông dân đang nuôi con gì, trồng cây gì đó với kỳ vọng đủ sống, bớt nghèo (hoặc cũng có người ước vọng làm giàu và làm ăn lớn từ đồng ruộng), cũng có những người tin tưởng và làm theo định hướng sản xuất từ một tổ chức chính thống nào đó của nhà nước; cũng có những người biết chọn lọc thông tin, nghe ngóng tình hình, tham vấn chỗ này chỗ kia, học hỏi kinh nghiệm từ nuôi trồng để mà quyết định việc làm của mình.

Nhưng cũng có không ít người nông dân sản xuất kiểu làm liều, làm cầu may nhờ “mưa thuận, gió hòa”, thậm chí kể cả sản xuất kiểu “mình có sức sợ gì không làm được…”

“Tắc” cả cơ chế chịu trách nhiệm?

Thực tế của thời đại thông tin như vũ bão, công nghệ phát triển từng giờ, thị trường rộng mở hội nhập toàn cầu, nếu cứ mãi sản xuất kiểu cầu may, cần cù làm liều, làm theo kinh nghiệm xưa cũ… không hẳn đã là hay, trong một số trường hợp chắc chắn sẽ là dở.

Vậy cái hay phải phát huy thế nào? Cái dở phải khắc phục ra sao? Những câu hỏi này bản thân mỗi người nông dân khó có thể tự trả lời rành rọt và có chất lượng phục vụ cho mùa vụ tiếp theo, sau những thất bát hay thắng lợi. Chắc chắn họ cần những tổ chức, trước hết là vai trò chủ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước liên quan đến lĩnh vực nông nghiệp, sau đó mới là nhờ xã hội hóa, sự tham gia của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội khác… đứng ra lý giải cho họ hiểu, chỉ cho họ thấy cái hay cái dở và cách để hay hơn và bớt dở.

Bên cạnh đó, hơn lúc nào hết, ngay từ bây giờ, Việt Nam cần lắm những đánh giá một cách khoa học và thực tiễn về những nguyên nhân của những thất bại trong tiêu thụ nông sản, chỉ ra đích danh ai là tác giả của những thất bại đó? Dù là cán bộ, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp hay nông dân thì cũng phải chỉ rõ, quy trách nhiệm rõ (tất nhiên nên loại bỏ kiểu quy trách nhiệm: rút kinh nghiệm, hoặc rút kinh nghiệm sâu sắc, bài học kinh nghiệm… một cách vô trách nhiệm!) và có cách khắc phục.

Vì nước ta có nhiều Bộ, ngành, Viện nghiên cứu, trường đại học… liên quan đến nông nghiệp, nông dân và nông thôn. Hằng năm nhà nước bỏ ra nhiều nghìn tỷ đồng ngân sách chi cho nghiên cứu, cho hội họp, cho xúc tiến thương mại… tại sao bế tắc mãi vẫn tiếp nối bế tắc?

Qua những điệp khúc “tắc đầu ra” của nông sản mấy năm gần đầy, thấy nhãn tiền một điểm tắc của mọi điểm tắc đang nằm trong câu hỏi rằng: Tại sao không thấy ai phải chịu trách nhiệm, hoặc không thấy cơ quan, tổ chức nào đứng ra truy trách nhiệm ai đó đã để ra nông nỗi?

Thiết nghĩ, nếu vẫn tắc việc truy trách nhiệm và tắc văn hóa nhận trách nhiệm khi để xảy ra sự vụ, chắc chắn những cái tắc khác sẽ còn tiếp diễn, thậm chí có khi còn ngày càng nghiêm trọng hơn. Truy trách nhiệm và nhận trách nhiệm rõ ràng là một thứ văn hóa không thể thiếu của những con người có liêm sỉ. Thời đại cạnh tranh toàn cầu ngày càng tăng, liêm sỉ ấy càng phải được duy trì để mưu cầu sự phát triển thực chất. Nếu không làm được như thế, con đường hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam riêng trong lĩnh vực nông nghiệp sẽ còn nhiều chông gai, và gian khó sẽ tăng khi hội nhập càng sâu rộng thì cạnh tranh càng gay gắt.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s