Giáo sư hạng bét và trượt đại học hạng nhất

Posted: September 18, 2015 in Uncategorized
Tags:

Xuân Dương (GDVN) – Mong sao chuyện “Giáo sư hạng bét” và “trượt đại học hạng nhất” chỉ là chuyện vui theo kiểu “Những người thích đùa” của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Azit Nexin.

� Xem thêm: Hết khác thường để giáo sư Việt ra quốc tế không lép vế.

Nghe nói Hà Nội tắc đường là do kinh tế phát triển tốt nên dân mua quá nhiều ôtô, từ chỗ có 200.000 xe cá nhân (năm 2007) đến tháng 8/2015 đã có 535.000 xe, chiếm 25% số xe ôtô cá nhân toàn quốc!

Nghe nói TP. Hồ Chí Minh ngập nặng là do thời tiết toàn cầu thay đổi, khí hậu nóng lên và triều cường dâng cao nên nước mưa không kịp thoát ra biển?

Nghe nói sau khi đề nghị hạch toán lỗ hàng nghìn tỷ vào giá điện thì gần đây, trước thềm xét danh hiệu anh hùng lao động thời kỳ đổi mới, Tập đoàn điện lực Việt Nam (EVN) đã quyết định sẽ tự mình gánh chịu lỗ lãi, không cần tiền của người tiêu thụ điện bù hộ.

Nghe nói thành phố Hà Nội cho phép xây một tòa nhà gần sát Lăng Bác cao hơn tất cả các tòa nhà trọng yếu của Quốc hội, Chính phủ, giúp cho những ai sống và làm việc ở đây có thể quan sát toàn cảnh khu Ba Đình bằng mắt thường, nhất là các cuộc duyệt binh, diễu binh, diễu hành như sự kiện kỷ niệm 70 năm quốc khánh 2/9 vừa qua.

Nghe nói Chủ tịch tỉnh Bình Dương đã bác bỏ kết luận của Bộ Tài chính về kết luận thanh tra công ty Đại Nam của ông Dũng “lò vôi”, khẳng định tỉnh Bình Dương làm đúng luật, cũng tức là Bộ Tài chính làm “chưa đúng” luật?

Cũng chính vị Chủ tịch này khi trả lời phỏng vấn VTC còn cho rằng số tiền 50 triệu bỏ túi hàng tháng của nguyên Chủ tịch Bình Dương Lê Thanh Cung khi bán cao su phải được tính theo thuế nông nghiệp chứ không thể tính theo thuế thu nhập cá nhân. [1]

Chắc ý của ông Chủ tịch Bình Dương là ông nguyên Chủ tịch Lê Thanh Cung đã bỏ nhiều công sức, tâm huyết cho vườn cao su mấy chục héc ta nên phải xem ông là một nông dân thực thụ, không thể coi tiền ông thu từ cao su là thu nhập cá nhân để tính thuế?


Đại học Tôn Đức Thắng đã có quyết định tự phong hàm Giáo sư
cho ông Lê Vinh Danh – Hiệu trưởng nhà trường (Ảnh: tienphong.vn)

Nghe nói gần đây Đại học Tôn Đức Thắng đã có quyết định tự phong hàm Giáo sư cho ông Lê Vinh Danh – Hiệu trưởng nhà trường. Sắp tới trường này sẽ tiếp tục phong Giáo sư, Phó giáo sư cho mình, không cần chờ Giáo sư, Phó giáo sư của nhà nước.

Về điều này Giáo sư Nguyễn Đức Dân, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP. Hồ Chí Minh cho rằng: “một trường đại học “hạng top” hoặc “hạng bét”  cũng có thể tự xác định giáo sư cho mình”. [2]

Cũng theo Giáo sư Dân, rồi đây các “Đại học hạng bét” cũng có thể tự phong Giáo sư, Phó giáo sư thế nên Nhà nước cần phải ra ngay quy định, bắt buộc ghi rõ trên danh thiếp, trên các bài báo, công trình khoa học hay khi “kính thưa, kính gửi” rằng vị ấy là Giáo sư, Phó giáo sư ấy là của trường nào.

Có lẽ Giáo sư Dân lo ngại nếu không ghi rõ thì chuyện đánh lận con đen kiểu như tốt nghiệp hệ cao đẳng ba năm cũng có thể cấp bằng “Kỹ sư” như Luật Giáo dục Nghề nghiệp vừa mới ban hành?

Trộm nghĩ, kích thước danh thiếp đã gần như chuẩn hóa quốc tế, nếu mà ghi rằng “ông A là Giáo sư được phong bởi trường Cao đẳng nghề nghiệp – công nghệ kỹ thuật B, thuộc Tổng cục C, bộ Z” thì quá dài, chi bằng theo gợi ý của Giáo sư Dân, chỉ nên ghi là “Giáo sư hạng top”, “Giáo sư hạng nhỡ” hay “Giáo sư hạng bét” vừa đơn giản, ngắn gọn mà đọc lên ai cũng hiểu?

Mấy hôm nay lại nghe nói cháu gái Bùi Kiều Nhi, quê ở tỉnh anh hùng Quảng Bình thi Đại học khối C vào ngành Công an, không cần cộng điểm ưu tiên cháu đã  được 27,5 điểm (Ngữ văn 8,75; Lịch sử 9; Địa lý 9,75) đứng nhất nhì khối thi.

Thế nhưng cháu bị trượt vì trước khi lấy mẹ cháu, bố cháu bị mấy tháng án treo vì tội chống người thi hành công vụ!

Theo tinh thần quy định tại các điều từ 64 đến 67 Luật hình sự 1999 hoặc điều 70 dự thảo sửa đổi Luật hình sự năm 2015 thì: “Người bị  án treo sau khi chấp hành xong hình phạt và hết thời gian thử thách án treo (1 năm) đương nhiên được xoá án tích nếu không bị kết án về tội phạm mới bằng bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật”.

Riêng điều 63 còn nói rõ hơn: “Người được xoá án tích coi như chưa bị kết án và được Toà án cấp giấy chứng nhận”.

Không cần phải giải thích thêm sự rõ ràng của các điều luật đã hoặc sẽ được ban hành. Vấn đề là tại sao Công an Tuyên Hóa – Quảng Bình lại không chịu “xóa án tích” cho bố cháu Nhi? Do không hiểu luật, do trình độ nghiệp vụ hay ý thức “vì dân phục vụ” có vấn đề?

Xung quanh câu chuyện này, cần phải thấy rằng kể từ khi cháu Nhi ra đời (1997) cho đến ngày thi đại học (2015), theo quy định của pháp luật Việt Nam, bố cháu Nhi “coi như chưa bị kết án”.

Nếu thế thì việc cháu Nhi không khai trong hồ sơ việc bố cháu “đã bị kết án” là đúng pháp luật chứ không phải là “không trung thực” như ý kiến của cơ quan chức năng.

Đến đây phải đặt ra câu hỏi, còn bao nhiêu quy định của các bộ, ban, ngành, địa phương dù không phù hợp với pháp luật nhưng vẫn đang được áp dụng?

Chính tại phiên thảo luận Bộ luật hình sự (sửa đổi) ngày 14/9, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng đã nhấn mạnh: “các đồng chí không được để cơ quan xử án hoặc cơ quan kiểm tra tự ý cụ thể hóa bằng quan điểm cá nhân để buộc người ta vào tội cố ý, buộc người ta thiếu trách nhiệm”. [3]

Từ phát biểu của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, có thể thấy cơ quan Công an Tuyên Hóa – Quảng Bình đã “cụ thể hóa quan điểm” của mình khi khẳng định cháu Nhi đã cố ý “thiếu trung thực trong khai lý lịch, phẩm chất, đạo đức không đảm bảo…”.

Khẳng định như vậy là không nên hay không đúng, liệu điều đó có phù hợp với pháp luật hiện hành?

Một số người có trách nhiệm cho rằng trường hợp cháu Nhi nên được “chiếu cố”, “đáng để xem xét”.

Thế có nghĩa là nếu được nhập học, Kiều Nhi sẽ thuộc diện được “chiếu cố” chứ không phải đỗ Đại học bằng thực lực và sự “vô tội” của mình?

Và giả sử nếu sự “chiếu cố” ấy thành hiện thực liệu Kiều Nhi có thể không bao giờ nghĩ tới những gì đã xảy ra?

Được biết Bộ GD&ĐT đã thống nhất tạo điều kiện để Kiều Nhi được vào học một trường khác, có lẽ đây là điều tốt đẹp nhất mà Kiều Nhi nên đón nhận.

Trượt Đại học khi kết quả thi thuộc vào “hạng nhất” có thể là điều hy hữu nhưng không có nghĩa là chấm hết. Điều nên làm là gia đình và xã hội đừng bằng “lòng tốt” của mình tạo áp lực để cháu phải vào bằng được ngành Công an, hãy để cháu tự quyết định.

Chuyện “đỗ oan” và “trượt thật” cứ tưởng là của quá khứ, của thời mà cụ Tam nguyên Yên đổ Nguyễn Khuyến viết “Vịnh tiến sĩ giấy”:

Cũng cờ, cũng biển, cũng cân đai.
Cũng gọi ông nghè có kém ai…

Mong sao sự tưởng tượng về những “Giáo sư hạng bét” và “trượt đại học hạng nhất” chỉ là chuyện vui theo kiểu “Những người thích đùa” của nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ Azit Nexin.

Tài liệu tham khảo:

[1] http://vtc.vn/bo-tai-chinh-bac-ket-luan-thanh-tra-vu-ong-dung-lo-voi-chu-tich-tinh-binh-duong-toi-khang-dinh-thanh-tra-lam-dung.2.569455.htm
[2] http://vietnamnet.vn/vn/giao-duc/262175/-truong-hang-bet-cung-co-the-cong-nhan-giao-su-.html
[3] http://giaoduc.net.vn/Xa-hoi/Phai-lam-ro-the-nao-la-tuyen-truyen-chong-pha-nha-nuoc-post161729.gd

Hết khác thường để giáo sư Việt ra quốc tế không lép vế

Nguyễn Văn Tuấn – Xin giới thiệu một vài ý kiến của tôi chung quanh câu hỏi có nên giao quyền bổ nhiệm giáo sư cho đại học hay không. Tôi nghĩ là nên. Trong bài này tôi lí giải tại sao nên để cho trường đại học bổ nhiệm giáo sư, và Bộ GDĐT chỉ cần quản lí qui trình là đủ. Bài đã đăng trên Tuần Việt Nam, và tựa đề do ban biên tập đặt (họ nói đặt tựa đề cho “mềm mại” hơn).

Việc trường Đại học Tôn Đức Thắng, mới được Chính phủ trao quyền tự chủ, triển khai qui trình và tiêu chuẩn bổ nhiệm chức vụ giáo sưđang gây ra nhiều tranh cãi.  Đối với những người đã quen với qui trình phong chức danh giáo sư hiện nay (do Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước) thì sáng kiến của ĐH TĐT được xem là không có tính pháp lí. Nhưng đối với những người có tinh thần cải cách thì sáng kiến của ĐH TĐT là phù hợp với qui trình bổ nhiệm giáo sư của các đại học trên thế giới.   Có thể nói, đây là dịp lí tưởng để nhìn lại qui trình bổ nhiệm giáo sư, và hi vọng tìm ra một cách làm tốt hơn.


Giáo sư phải chứng tỏ là có công tạo dựng và duy trì
sự phát triển của trường đại học nơi họ giảng dạy. Ảnh minh họa

Coi Giáo sư như một phẩm hàm

Chức danh “giáo sư” hiện nay có thể hiểu như là một phẩm hàm, và theo tôi đó là một quan niệm lạc hậu. Thật vậy, theo Nghị định Chính phủ 20/2001/NĐ-CP, những người được phong chức danh GS/PGS sẽ được vinh danh suốt đời, ngay cả sau khi nghỉ hưu.

Vì là phẩm hàm, nên Việt Nam có khá nhiều giáo sư nhưng không làm việc giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Một thống kê cho thấy, trong số hơn 11.000 giáo sư và phó giáo sư (GS/PGS) được tiến phong từ 1976 đến hết năm 2014, chỉ có khoảng hơn 4.100 người làm trong các đại học. Số còn lại hoặc là nghỉ hưu, đã mất, hoặc là làm việc trong các cơ quan công quyền và quản lí. Đó là một tình trạng trớ trêu, vì trong khi các đại học kêu thiếu giáo sư, thì phần đông giáo sư lại ở… ngoài đại học!

Nhưng ở các nước tiên tiến trên thế giới, giáo sư không phải là một chức danh hay phẩm hàm, mà là một chức vụ gắn liền với một đại học. Do đó việc bổ nhiệm, đề bạt chức vụ giáo sư do đại học phụ trách, nhưng qui trình bổ nhiệm thì hoàn toàn theo mô thức bình duyệt (peer review), vốn là trụ cột của hoạt động khoa học.

Theo qui trình này, đơn của ứng viên sẽ được gửi cho các đồng nghiệp cùng ngành để nhận xét dựa vào các tiêu chuẩn do trường đặt ra; và dựa vào nhận xét đó, hội đồng học thuật sẽ bổ nhiệm ứng viên vào một chức vụ giáo sư thích hợp. Đó là qui trình chuẩn, mà hầu hết các đại học ở các nước tiên tiến và ngay cả một số nước tại khu vực như Thái Lan, Malaysia, Singapore đã làm từ nhiều thập niên qua.

Những quan ngại về việc chuyển quyền bổ nhiệm giáo sư cho các đại học là chính đáng. Các đại học có thể đặt ra những tiêu chuẩn “địa phương”, tiêu chuẩn thấp để nâng cao số lượng giáo sư cho trường, hoặc tạo ra qui trình bổ nhiệm lỏng lẻo để thiên vị những cá nhân mà họ muốn.

Những vấn đề trên có thể xảy ra, nhưng có thể quản lí. Ví dụ, ở các nước tiên tiến như Mĩ, các trường vẫn có những tiêu chuẩn giáo sư khác nhau. Trường trong nhóm “tinh hoa” (elite) thường có bộ tiêu chuẩn cao hơn trường kém nổi tiếng. Tôi từng biết vài trường hợp những giáo sư bên Mĩ nhưng khi sang Úc thì không được bổ nhiệm chức vụ đó, do tiêu chuẩn khác nhau. Đó chính là lí do chức vụ giáo sư phải gắn liền với một đại học. Và, nếu đại học muốn có thương hiệu tốt, gây lòng tin ở công chúng, thì họ phải có những tiêu chuẩn thích hợp.

Một quan ngại khác là nếu giao cho trường đại học bổ nhiệm thì Việt Nam sẽ có rất nhiều giáo sư. Tuy nhiên, tôi nghĩ vấn đề không phải lànhiều hay ít mà là giáo sư của trường có xứng đáng với danh hiệu đó hay không. Từng có người trong HĐNN cũng phải thú nhận: “Đánh giá nghiêm túc theo chuẩn mực quốc tế, có lẽ chỉ 15-20% số GS, PGS của ta có trình độ thật sự tương xứng với chức vụ đó” [1].

Do đó, vấn đề chính là việc bổ nhiệm giáo sư phải dựa vào các tiêu chuẩn quốc tế (như xuất sắc trong nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế, đóng góp cho chuyên ngành, đóng góp cho đại học, và phục vụ xã hội). Nếu làm đúng và có chuẩn mực nghiêm chỉnh, người được bổ nhiệm, bất cứ của trường nào, đều có quyền tự hào mà không thấy “lép vế” khi ra nước ngoài.

Tiêu chuẩn… khác thường

Bàn về tiêu chuẩn, thì các tiêu chuẩn giáo sư của Hội đồng chức danh giáo sư Nhà nước (gọi tắt là HĐNN) còn có nhiều vấn đề phải bàn thêm. Chẳng hạn như tiêu chuẩn về “Trung thực, khách quan và hợp tác với đồng nghiệp trong hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, công nghệ” liệu có dính dáng gì đến học thuật, giảng dạy hay nghiên cứu khoa học?

Hay ngay cả tiêu chuẩn mang tính “cân đo đong đếm” như qui đổi các công trình khoa học sang điểm cũng rất mù mờ và thiếu tính khoa học. Chẳng hạn, cách tính điểm các tập san khoa học nước ngoài bằng cách chia thành 2 nhóm: Nhóm có hệ số ảnh hưởng 2 hay thấp hơn có điểm từ 0 đến 1; nhóm có hệ số ảnh hưởng (impact factor) trên 2 có điểm từ 0 đến 2. Điều bất hợp lí là việc cho điểm bài báo công bố trên tập san nước ngoài bằng bài báo công bố trên tập san trong nước. Nói cách khác, một công trình trên các tập san lừng danh thế giới như Lancet hay New England Journal of Medicine có giá trị y chang như một bài trên một tạp chí trong nước!

Ngoài ra, còn có tiêu chuẩn mang tính chủ quan là bình bầu, theo đó ứng viên phải được 2/3 số phiếu tín nhiệm của tổng số thành viên trong Hội đồng. Tiêu chuẩn này cũng không mang tính học thuật hay khoa học, và có thể mở cánh cửa cho việc “chạy” chức danh. Lại có những qui định máy móc, như mỗi hồ sơ tiến phong chức danh giáo sư phải được ít nhất 3 GS hoặc PGS cùng ngành xét công nhận.

Những tiêu chuẩn như vậy rất khác thường, đến nỗi có người thốt lên rằng những người soạn những qui định này “chẳng hiểu gì về giáo dục đại học tiên tiến cả”.

Bộ tiêu chuẩn hiện nay (của HĐNN) hoàn toàn không có những tiêu chí liên quan đến hoạt động phục vụ cho nhà trường và xã hội. Một giáo sư, dù ở cấp nào, phải là thành phần elite của xã hội. Do đó, ngoài nghiên cứu, giảng dạy, và đào tạo, giáo sư phải có những đóng góp cho chuyên ngành (ví dụ như qua phục vụ trong các tập san khoa học như là chuyên gia bình duyệt), cho xã hội và Chính phủ, và nhất là cho nhà trường. Giáo sư có thể đóng góp ở ngoài, nhưng tại nhà trường, giáo sư cũng phải chứng tỏ là có công tạo dựng và duy trì sự phát triển của trường. Đó lại thêm một lí do nữa tại sao giáo sư phải gắn liền với một trường đại học.

Nhà nước chỉ nên quản lý qui trình

Tóm lại, việc bổ nhiệm hay tiến phong chức danh giáo sư ở Việt Nam đã đến lúc cần cải cách, cần xem đây là một chức vụ gắn liền với một đại học, chứ không phải là phẩm hàm suốt đời của một cá nhân. Khi ấy, việc giao cho đại học phụ trách việc bổ nhiệm là hoàn toàn hợp lí.

Nhưng để chuẩn hoá, tôi đề nghị Bộ GDĐT cùng tham vấn với các đại học đề ra qui trình chung (hay qui trình chuẩn) và các tiêu chuẩn tối thiểu cho mỗi chức vụ. Qui trình chuẩn phải dựa vào bình duyệt, kể cả bình duyệt từ các giáo sư nước ngoài. Tôi cũng đề nghị nên có 3 chức vụ: trợ lí giáo sư (assistant professor), phó giáo sư (associate professor), và giáo sư. Cần phải tạo ra hai ngạch giáo sư: giảng dạy và nghiên cứu khoa học, và tiêu chuẩn phải hợp lí cho hai ngạch này.

Trong việc bổ nhiệm giáo sư, qui trình đúng và tiêu chuẩn phù hợp với thông lệ quốc tế sẽ dễ thuyết phục hơn là qui trình rườm rà mà thiếu minh bạch. Do đó, tôi nghĩ Bộ GDĐT thay vì can thiệp vào việc bổ nhiệm giáo sư của các đại học, chỉ cần quản lí tốt qui trình bổ nhiệm và kiểm tra tiêu chuẩn bổ nhiệm.

[1] VN có bao nhiêu GS, PGS trình độ quốc tế?, Hà Nội mới, 10/01/2008.

[:-/] Hỏi và đáp (tưởng tượng) về đại học bổ nhiệm giáo sư Nguyễn Văn Tuấn – Thế là sáng kiến của ĐH Tôn Đức Thắng (TDTU) trong việc tự chủ bổ nhiệm giáo sư (1) đang gây ra tranh cãi (2,3). Tôi nghĩ có tranh luận về việc bổ nhiệm chức vụ giáo sư là rất tốt, vì để cho công chúng biết được sự dị thường của hệ thống hiện hành dưới chế độ Hội đồng chức danh giáo sư nhà nước (HĐNN). Đọc qua vài phản ứng của những người phản đối sáng kiến của TDTU tôi nảy ra ý định làm một cuộc hỏi & đáp ngắn để đóng góp vào cuộc tranh luận. (…)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s