Phí “đè” nông sản

Posted: September 18, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyên Nga (BizLive) – Nông sản Việt chủ yếu xuất thô, trong khi ngay ở thị trường nội địa cũng hết sức chật vật vì cạnh tranh không lại với hàng ngoại. Một trong những nguyên nhân dẫn đến kết quả đáng buồn này là nông sản đang gánh trên mình hơn 1.000 khoản phí và lệ phí. (Nông dân Việt bị thu thuế ‘hơn thời thực dân Pháp’)

� Xem thêm: Chăn nuôi Việt Nam đang chết trong hội nhập + Người Việt khó yêu hàng Việt: Đừng đòi yêu mù quáng!


Ảnh minh họa.

Hàng ngàn hộ nông dân, hộ sản xuất trên địa bàn tỉnh Đắk Lắk mới đây tiếp tục phản đối, khiếu nại các công ty cà phê trên địa bàn tỉnh thu đến 17 loại phí lên hạt cà phê.

Theo phản ánh của các hộ này, những rẫy cà phê họ tự bỏ vốn ra đầu tư trồng, chăm sóc, thu hoạch… nằm ngoài phần đất quản lý của các công ty từ 20 năm trước vẫn bị các công ty áp đặt thu sản lượng. Đặc biệt là bị “tròng” vào cổ các khoản thu lạ đời như: đi phép của cán bộ, tiền lãi vay trả lương, trợ cấp thất nghiệp, bảo hộ lao động, bảo hiểm xã hội, vật tư phân bón, dịch vụ tưới, khấu hao máy nông nghiệp nhỏ, khấu hao tài sản cố định khác…

Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết từ tháng 1.2015, Bộ đã có văn bản gửi các bộ ngành, địa phương đề nghị rà soát các loại phí, lệ phí. Qua nghiên cứu, rà soát ban đầu cho thấy lĩnh vực nông nghiệp hiện nay số lượng các loại phí và lệ phí là “rất lớn và rất phức tạp”. Cụ thể, riêng lĩnh vực thú y còn 18 khoản lệ phí và 550 khoản phí; lĩnh vực chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm có 16 khoản lệ phí và 95 khoản phí; lĩnh vực quản lý chất lượng nuôi trồng thủy sản có 7 loại lệ phí và hơn 180 khoản phí… Tính sơ bộ, riêng lĩnh vực nông nghiệp qua rà soát ban đầu có 90 lệ phí và 937 khoản phí.

Lạm thu tràn lan

Theo kết luận của Thanh tra Bộ NN-PTNT, Công ty TNHH MTV cà phê Ea Ktur (Đắk Lắk) đã thu của người nhận khoán 17 khoản mục giá thành đối với diện tích vườn cây của công ty, như: khấu hao vườn cây, khấu hao tài sản cố định khác, thuế, chi phí quản lý, bảo hiểm sản xuất, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, chi phí lao động, vật tư phân bón, dịch vụ tưới, khấu hao máy nông nghiệp nhỏ, dụng cụ sản xuất, bảo hộ lao động, nghỉ phép cán bộ… Đối với diện tích người dân tự đầu tư trồng, chăm sóc, công ty thu một số khoản như: chi phí khảo sát, thiết kế khai hoang, nhà cửa các đội và công ty, máy móc thiết bị, sân phơi, kho chứa sản phẩm với tổng số tiền hơn 1,1 triệu đồng và hơn 4,2 triệu đồng tiền chi phí quản lý/héc ta/năm.

Không riêng gì ngành cà phê, rất nhiều mặt hàng nông sản cũng đang khổ vì nạn lạm thu kiểu này. Câu chuyện một con gà “cõng” 14 loại phí từng được đặt lên bàn nghị sự và chính các bộ ngành liên quan cũng không giải thích thấu đáo tại sao lại có lắm loại phí vậy. Có thể nói, con gà khổ vì phí từ lúc sinh ra cho tới lúc lên bàn ăn, như phí kiểm dịch gà con mới nở, cấp giấy kiểm dịch xuất khẩu gà khỏi trang trại ra ngoài tỉnh, kiểm soát giết mổ, tiêu độc, khử trùng… Quá trình chăn nuôi, các cơ sở phải lấy mẫu nước để kiểm tra xem có bệnh gì trên gia cầm không cũng phải đóng phí…

Theo ông Văn Đức Mười, Tổng giám đốc Công ty TNHH MTV Vissan (TP.HCM), người chăn nuôi heo “không còn nhớ bao nhiêu loại phí họ phải đóng cho một con heo từ khi còn con giống đến khi xuất chuồng”. “Chỉ biết là khâu nào cũng đều đóng phí. Có thể kể ra như phí kiểm dịch, phí môi trường, phí kiểm soát giết mổ, phí tiêu độc, phí sát trùng phương tiện, phí chì niêm phong, phòng chống dịch bệnh… Giết mổ xong, vận chuyển trên đường cũng có đóng phí, mức phí vận chuyển trong tỉnh khác ngoài tỉnh, người bán thịt tại chợ lại đóng tiếp phí môi trường, an ninh…”, ông Mười nói.

Theo rà soát của Bộ Tài chính công bố trong phiên họp Thường vụ Quốc hội đầu tháng 8 vừa rồi, nông nghiệp đang gánh phí nhiều nhất với con số hơn 1.000 khoản phí và lệ phí.

“Thu thừa còn hơn bỏ sót”

Nhận xét về số phí, lệ phí mà ngành nông nghiệp đang phải oằn lưng gánh, chuyên gia tư vấn chiến lược Robert Trần tỏ ra kinh ngạc và khó hiểu. Ông nói: “Nông nghiệp được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, Chính phủ đang nỗ lực hỗ trợ để phát triển ngành này, cạnh tranh tốt hơn với các nước trong khu vực. Kiểu lạm thu, phí chồng phí thế này khiến doanh nghiệp khó có lợi nhuận và rất khó cạnh tranh trong hội nhập. Gà Mỹ rẻ hơn gà VN, trứng gà Thái Lan rẻ hơn trứng gà VN là điều quá dễ hiểu khi sản phẩm của người ta ít chi phí hơn rất nhiều so với hàng trong nước”.

Chuyên gia kinh tế tài chính Bùi Kiến Thành cho rằng có một thực tế là các bộ, ngành đang “cài cắm” nhiều khoản phí trong các thông tư hướng dẫn, đẩy khó cho doanh nghiệp, người dân. Ngoài việc nhiều đơn vị tự tung tự tác thu chi tùy tiện, không loại trừ năng lực cán bộ kém nên “lạm thu”, không phân biệt được các khoản phí, tâm lý “thu thừa hơn bỏ sót”. “Một nền kinh tế mà để người dân chịu quá nhiều thuế phí trong bối cảnh mức thu nhập bình quân còn quá thấp so với các quốc gia đang phát triển, sẽ ảnh hưởng lớn đến chính sách điều hành chung”, ông Thành nhấn mạnh.

Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư Nguyễn Đình Cung cũng nhiều lần tỏ ra ngạc nhiên khi có quá nhiều khoản phí “trái với Hiến pháp” và cho rằng đó như những giấy phép con trá hình cần loại bỏ sớm.

Dự thảo luật Phí và lệ phí đang được lấy ý kiến để thông qua trong kỳ họp Quốc hội sắp tới. PGS-TS Đinh Xuân Thảo, Viện trưởng Viện Nghiên cứu lập pháp, cho biết: “Việc thảo luận góp ý sẽ khó khăn hơn do có quá nhiều khoản thu chồng chéo nhau mà ngay chính những người trong ngành còn lúng túng. Theo tôi, mọi cái cần được luật hóa, rõ ràng; bỏ ngay các khoản thu kiểu như giấy phép con của các bộ ngành giáng xuống doanh nghiệp, doanh nghiệp lại thu nhà nông… như hiện nay. Nếu luật loại được nạn lạm thu này, tránh chồng chéo, Quốc hội mới bấm nút thông qua”.

Con gà gánh 14 loại phí

Một con gà từ khi mở mắt đến khi xuất thịt bán ra thị trường, có thể “cõng” 14 loại phí (đó là chưa tính các phí kiểm tra định kỳ, lấy mẫu nước phân chuồng trại kiểm tra hằng quý tại các trại nuôi gà):

– Phí kiểm dịch trứng thương phẩm 4,5 đồng/quả,
– Phí trứng giống 5,5 đồng/quả,
– Trứng đã ấp 5,5 đồng/quả,
– Phí con gà mới nở 100 đồng/con,
– Phí cấp giấy kiểm dịch khi xuất gà con ra khỏi trang trại trong nội tỉnh 5.000 đồng/tờ,
– Phí xuất gà con ra khỏi trại ra khỏi tỉnh 40.000 đồng/tờ,
– Giấy tiêu độc sát trùng cho xe vận chuyển gà con nội tỉnh 45.000 đồng/tờ,
– Giấy tiêu độc sát trùng xe vận chuyển gà ngoại tỉnh 75.000 đồng/tờ,
– Kiểm tra lâm sàng gà thịt nhập vào 100 đồng/con,
– Phí niêm phong xe 1.500 đồng/dây,
– Phí tiêu độc sát trùng 45.000 đồng/xe,
– Giấy chứng nhận kiểm dịch xuất gà nội tỉnh 5.000 đồng/điểm giao hàng,
– Giấy kiểm dịch xuất gà ngoài tỉnh 30.000 đồng/điểm giao hàng,
– Phí kiểm soát giết mổ (200 đồng/con).

Chăn nuôi Việt Nam đang chết trong hội nhập

Nam Nguyên (RFA) – Hàng chục triệu hộ chăn nuôi gia súc, gia cầm nhỏ lẻ của Việt Nam có thể bị xóa sổ với quá trình hội nhập nhanh và sâu đang diễn ra. Phải chăng Việt Nam chấp nhận hy sinh ngành chăn nuôi không có khả năng cạnh tranh, để đổi lại các mối lợi lớn hơn trong các ngành sản xuất khác.


Chăn nuôi theo kiểu gia đình thu nhập thêm

Nỗi lo của ngành chăn nuôi

Theo số liệu chính thức Việt Nam hiện có 10,9 triệu hộ chăn nuôi  gà vịt, 4 triệu hộ chăn nuôi heo và khoảng  2,5 triệu hộ chăn nuôi bò, cộng chung là gần 18 triệu hộ. Nhược điểm của ngành chăn nuôi Việt Nam là giá thành cao, do thức ăn chăn nuôi phải nhập khẩu với tỷ trọng lớn. Thí dụ điển hình là trong 7 tháng tính từ đầu năm 2015, Việt Nam đã nhập khẩu khoảng 4,1 tỷ USD thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu. Ngoài ra phần lớn qui mô chăn nuôi gia đình là quá nhỏ bé, không áp dụng được công nghệ hiện đại và khó bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

Nghiên cứu của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR) Đại học Quốc gia Hà Nội công bố hôm 9/9/2015 cho thấy, các mặt hàng  sữa, thịt bò, thịt heo, gà vịt sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng vì không thể cạnh tranh khi Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) thành hình với thuế suất nhập khẩu trở về 0.

Ông Phạm Đức Bình, Phó Chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Việt Nam, đồng thời là Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thanh Bình ở Đồng Nai, nhận định về những nguyên nhân làm cho ngành chăn nuôi có thể bị phá sản vì không thể cạnh tranh với sản phẩm ngoại nhập. Ông nói:

“Tôi làm trong ngành chăn nuôi nhiều năm, thứ nhất là về năng suất tại Việt Nam rất thấp kém. Ở trong nghề chúng tôi xác định là năng suất ở Việt Nam chỉ bằng 25% đến 30% của thế giới, so sánh với nền sản xuất cao như nước Mỹ thì bằng 30%. Như vậy không thể tồn tại được. Vấn đề thứ hai, tất cả những nguyên vật liệu cơ bản như bắp, đậu nành là hai nguyên liệu chính sản xuất thức ăn chăn nuôi thì đều nhập khẩu từ nước ngoài, từ Mỹ và Nam Mỹ là chính. Từ đó dẫn tới giá thành rất là cao. Ngoài ra con giống cũng phải nhập khẩu, những chất phụ gia thuốc thú y…cũng đều nhập khẩu hết cho nên giá thành chăn nuôi Việt Nam gần như cao nhất thế giới. Tính cạnh tranh hầu như không có và khi hội nhập  nếu nói xóa xổ thì quá đáng nhưng thiệt hại rất nặng nề.”

    Tất cả những nguyên vật liệu cơ bản như bắp, đậu nành là hai nguyên liệu chính sản xuất thức ăn chăn nuôi thì đều nhập khẩu từ nước ngoài, từ Mỹ và Nam Mỹ là chính. Từ đó dẫn tới giá thành rất là cao. Ngoài ra con giống cũng phải nhập khẩu, những chất phụ gia thuốc thú y… cũng đều nhập khẩu hết
– Ông Phạm Đức Bình   

Hiện nay thuế suất nhập khẩu thịt các loại còn cao, trâu bò sống cũng chịu một mức thuế nhất định. Năm 2014 Việt Nam nhập khẩu 150.000 con bò Úc phục vụ tiêu dùng, nhưng chỉ trong ba tháng đầu năm 2015 đã nhập khẩu tới 115.000 trâu bò. Riêng về sản phẩm thịt, trong 7 tháng tính từ đầu năm nay, Việt Nam đã nhập khẩu 93.000 tấn thịt trâu bò dê cừu và gà. Riêng sản phẩm đùi gà đông lạnh từ Mỹ là hơn 45.000 tấn. Giá đùi gà Mỹ quá rẻ so với đùi gà công nghiệp nội địa làm người chăn nuôi lao đao.

Trong câu chuyện với chúng tôi, ông Phạm Đức Bình dẫn thông tin đàm phán TPP với Hoa Kỳ. Theo đó Việt Nam hưởng lợi từ các ngành dệt may, da giày, thủy sản và đồ gỗ với thuế suất bằng 0. Ngược lại Việt Nam sẽ hy sinh chăn nuôi, thuế suất bằng 0 sẽ tiêu diệt ngành chăn nuôi. Theo ông chăn nuôi bò chắc chắn phá sản vì Việt Nam không có đồng cỏ, tận dụng cỏ khô cho năng suất thịt thấp. Thịt heo thì sẽ phải cạnh tranh không chỉ từ Mỹ mà sắp tới sẽ là châu Âu. Vẫn theo vị Phó chủ tịch Hiệp hội thức ăn chăn nuôi, chỉ một số ít người nuôi heo theo phương thức VAC vườn ao chuồng kết hợp trồng trọt, nuôi thủy sản và nuôi heo thì mới có thể có giá thành cạnh tranh. Còn nuôi gà sẽ chỉ tồn tại những trại nuôi gà ta, gà đồi, gà tam hoàng không phải cạnh tranh sản phẩm ngoại nhập. Còn gà công nghiệp thì câu chuyện đùi gà Mỹ nhập khẩu với giá 0,9 tới 1 đô la/kg đã là sự kiện quá rõ ràng. Sản phẩm của Mỹ rẻ như thế nhưng đã được xác định là chất lượng tốt và bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm. Ở đây có vấn đề tập quán tiêu dùng, giá đùi gà cánh gà ở Mỹ rẻ hơn ức gà, trong khi ở Việt Nam là ngược lại.


Một trại nuôi gà ở Hốc Môn ngoại ô Saigon

Nuôi gia công cho công ty nước ngoài

Lấy kinh nghiệm bản thân, bà Nguyễn Thị Lạc chủ trại nuôi gà công nghiệp qui mô 100.000 con ở Hốc Môn TP.HCM chọn hình thức nuôi gia công cho công ty nước ngoài. Theo đó nếu tự sản xuất bà sẽ gặp quá nhiều khó khăn vì giá thành luôn cao hơn giá thị trường. Bà Lạc cho biết công ty nước ngoài mà bà liên kết, có vùng nguyên liệu ở tây nguyên và nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi rải khắp các vùng nuôi. Do vậy họ ít ảnh hưởng giá thức ăn chăn nuôi, ngoài ra kỹ thuật nuôi an toàn sinh học được chú trọng. Bà Lạc cho rằng người nuôi gà muốn tồn tại sẽ phải liên kết với các công ty lớn và đầu tư trại nuôi hiện đại sử dụng công nghệ tin học.

   Bà Lạc cho rằng người nuôi gà muốn tồn tại sẽ phải liên kết với các công ty lớn và đầu tư trại nuôi hiện đại (Công ty nước ngoài mà bà liên kết, có vùng nguyên liệu ở tây nguyên và nhà máy sản xuất thức ăn chăn nuôi rải khắp các vùng nuôi. Do vậy họ ít ảnh hưởng giá thức ăn chăn nuôi, ngoài ra kỹ thuật nuôi an toàn sinh học được chú trọng)   

“ Đầu tư nuôi kỹ thuật tự động hoàn toàn thì 15.000 con một trại nuôi giá 1,7 tỷ đồng. Trại chăn nuôi tự động giống như mô hình bên Mỹ người ta đang tổ chức chăn nuôi, là ăn tự động uống tự động, các điều kiện như nhiệt độ ẩm độ, máy tự động đưa điều kiện đó vào trong trại nuôi….cám tốt và trong điều kiện thuận lợi như vậy thì con gà phát triển rất là tốt, năng suất tốt…”

Rõ ràng việc liên kết chọn nuôi gia công cho công ty nước ngoài, tuy lợi nhuận thấp nhưng tồn tại được với chăn nuôi, như trường hợp bà Nguyễn Thị Lạc ở Hốc Môn TP.HCM.

Trong ví dụ khác, ông Phạm Đức Bình, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty Cổ phần Thanh Bình ở Đồng Nai cho biết Thanh Bình vừa sản xuất thức ăn chăn  nuôi, vừa có trại nuôi 20 ngàn con heo và 1 triệu con gà, nhưng nay đã phải dẹp hết để chuyển đổi kinh doanh. Ông nói:

“ Hiện nay đó là mặt tiêu cực, nhưng phải nói măt tích cực… người Việt Nam nghèo 70% làm sản xuất nông nghiệp, còn lại là thành phần ở thành thị… Nếu giá thịt heo xuống, tiêu diệt mấy triệu hộ nông dân, nhưng tôi khẳng định mấy triệu hộ nông dân này không sống bằng nghề chăn nuôi. Người ta chăn nuôi là chăn nuôi cải thiện, nuôi con heo như bỏ ống, chứ không phải nuôi heo là thu nhập chính. Với mấy triệu hộ này so 90 triệu dân thì cái nào sẽ lớn hơn. Tôi nói mặt tiêu cực mặt tích cực, ngành nuôi heo Việt Nam có thể chết nhưng quyền lợi lớn là quyền lợi của 90 triệu người tiêu dùng Việt Nam sẽ được hưởng giá thành thịt heo rẻ. Người Việt Nam vẫn còn đói nghèo thịt heo ăn vẫn chưa đủ, nếu giá thành thịt heo có rẻ xuống thì quyền lợi kinh tế Việt Nam sẽ lớn hơn, quyền lợi của 90 triệu người tiêu dùng vẫn lớn hơn.”

Phó Chủ tich Hiệp hội thức ăn chăn nuôi Phạm Đức Bình kể ra một câu chuyện khá lạ lùng. Trong khi người chăn nuôi gà chống lại việc nhập khẩu thịt gà. Nhưng trên thực tế hiện nay gần như tất cả ngành chăn nuôi gà ở Việt Nam nằm trong tay các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài.

Từ đây đặt ra vấn đề ngươi tiêu dùng ăn thịt gà nhập khẩu từ Mỹ với giá rẻ, hay là chúng ta ăn thịt gà giá đắt tại Việt Nam mà do các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài đang sản xuất. Hai điều này chả khác gì nhau và nên ăn thịt gà Mỹ giá rẻ thì tốt hơn!

Người Việt khó yêu hàng Việt: Đừng đòi yêu mù quáng!

Minh Thái (BĐV) – Phải nhìn thẳng vào sự thật rằng năng lực cạnh tranh của hàng Việt còn yếu để cải tiến từ sản xuất đến phân phối, cơ chế chính sách.

Ông Vũ Vinh Phú, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội bày tỏ ý kiến như vậy khi trao đổi về chuyện tình yêu của người Việt với hàng Việt.

Dùng tăm bông Thái đã 10 năm

Nhắc đến câu chuyện rất nhỏ là chiếc tăm bông Thái Lan, ông Vũ Vinh Phú cho biết, bản thân ông đã dùng, đã thích tăm bông Thái cả chục năm nay và sẽ tiếp tục mua tăm bông Thái. Lý do ông đưa ra rất đơn giản, đó là tăm bông Thái có “thâm niên” tốt, giá cả hợp lý, êm tai và đảm bảo vô trùng.

Nguoi Viet kho yeu hang Viet: Dung doi yeu mu quang!
Hàng Thái Lan tràn ngập thị trường Việt Nam

“Tôi đi du lịch Thái Lan và thích tăm bông Thái từ cách đây hơn chục năm. Người ta vẫn nói: Trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một sử dụng, phải thử nghiệm, khảo sát hàng năm mới đánh giá được. Mà điều đáng lưu ý là khi dùng thì người nọ lan truyền người kia, tính lan toả phải để hữu xạ tự nhiên hương, chứ nói vống lên chưa chắc đã tốt.

Nhưng câu chuyện tăm bông chỉ là rất nhỏ, hàng tiêu dùng Việt Nam không cẩn thận sẽ thua hàng Thái. Tôi cho rằng, không làm được cái nhỏ thì đừng làm cái lớn. Trong miền Nam có những cửa hàng hoàn hảo chuyên bán hàng liên doanh và hàng Thái, chiết khấu, trợ giá, bán hàng không hết có thể đổi lại. Hàng Trung Quốc cũng thâm nhập Việt Nam kiểu như thế, thậm chí còn có lợi thế là giá rẻ”, ông Phú nói.

Cũng theo ông Phú, Việt Nam đã phát động phong trào người Việt dùng hàng Việt từ dăm bảy năm nay nhưng vì chưa đạt yêu cầu nên người Việt vẫn khó yêu hàng Việt. Ông chỉ rõ nguyên nhân:

“Thứ nhất, sự chuyển mình của nền sản xuất Việt Nam chậm, từ cải tiến mẫu mã, hạ giá thành, tiếp thị, quảng cáo…, kể cả mối liên kết giữa sản xuất và phân phối để tổ chức tốt phân phối hàng Việt còn nhiều vấn đề.

Thứ hai, năng lực cạnh tranh của hàng Việt chưa bằng các hàng các nước, nhất là hàng Thái Lan. Hàng Thái Lan chỉ đắt hơn hàng Việt 5-10% nhưng giá trị sử dụng lại gấp 1,5 lần. Trong nhà của các gia đình Việt Nam nào chẳng có một mặt hàng Thái Lan nào đó, không điện máy thì mỹ phẩm, chậu nhựa, đôi dép… Tôi cũng đang đi dép Thái Lan. Vì thế, đừng bắt người dân yêu hàng Việt một cách mù quáng, duy ý chí mà phải bằng năng lực cạnh tranh, mẫu mã đẹp, bằng tiếp thị tốt. Chính người Việt phải tự nâng hàng Việt lên chứ đừng hạ xuống”.

Chủ tịch Hiệp hội siêu thị Hà Nội cho rằng, người Thái có cách tiếp cận thị trường Việt Nam rất nhẹ nhàng, từ hội chợ, du lịch đến hàng trăm cửa hàng Thái trên đất Việt… Tất cả những cái đó là tại Việt Nam kém.

“Kinh phí xúc tiến thương mại của nội địa khoảng 100 tỷ đồng thì giải quyết được gì? Sắp tới không chỉ hàng Thái mà hàng Hàn Quốc, hàng Đài Loan (Trung Quốc), châu Âu… theo vào. Miếng bánh chỉ có thế, bây giờ hàng Việt lớn lên thì hàng Thái kém đi, ngược lại, nếu hàng Thái, hàng Hàn lớn lên thì hàng Việt đi xuống.

Đừng tưởng 80% hàng Việt trong siêu thị là ghê gớm, tỷ lệ đó có thể tụt xuống. 80% hàng Việt trong siêu thị chủ yếu là hàng nông sản thực phẩm chứ không phải hàng công nghiệp tiêu dùng. Hàng công nghiệp tiêu dùng Việt Nam thua Hàn Quốc, hàng Thái, các nước châu Âu…, nếu lại thêm hàng lậu, hàng giả thì hàng Việt sẽ bị mất chỗ đứng luôn. Bởi thế, đừng tự “ru ngủ” rằng con số 80% kia là thắng to, phải cảnh giác, đừng chủ quan”, ông cảnh báo.

Tự mình làm yếu mình

Trong câu chuyện của mình, ông Vũ Vinh Phú thẳng thắn chỉ ra vấn đề hệ thống phân phối đang làm hàng Việt yếu đi. Cụ thể, hàng Việt phải qua quá nhiều tầng lớp trung gian, chiết khấu cao, đến khi vào các cửa hàng lẻ, siêu thị thì “chết” bởi giá thành sản phẩm đã bị đẩy lên, khi đó hàng Thái, hàng Hàn… chắc chắn thắng thế.

“Đã có thống kê về việc một con gà phải “cõng” 14 loại phí hay có tới 500 loại thuế, phí trong chăn nuôi của Bộ NN&PTNT, từ phí kiểm dịch, phí đối với quả trứng, đến di chuyển cũng đánh phí… Một con số khác được các nhà kinh tế đưa ra, đó là ở Việt Nam, trung bình 1 đồng lợi nhuận doanh nghiệp phải mất 1,02 đồng để bôi trơn. VCCI cũng đã thống kê có tới 32% doanh nghiệp phải trả phí “bôi trơn” cho cán bộ thuế… Tất cả những thứ ấy sẽ chui vào giá thành sản phẩm. Mọi thứ của Việt Nam đều đang lép vế so với hàng ngoại, kể cả cơ chế chính sách nhà nước, chi phí tiêu cực, hệ thống phân phối, cách tiếp cận… Chúng ta đang tự hại chúng ta là chính, còn bên ngoài cũng chỉ là một phần.

Tỷ phú người Thái của tập đoàn BJC (Thái Lan) từng tuyên bố, khi hoàn thành thương vụ Metro sẽ bán 60% hàng Thái, còn 40% hàng Việt và các nước khác. Đó là thách thức! Lotte của Hàn Quốc đang có các gian hàng bán hàng Hàn Quốc, Việt Nam làm gì được?! Sự quyết định cuối cùng thuộc về người tiêu dùng. Bởi thế Việt Nam đừng làm theo phong trào, chúng ta đang theo kiểu “phong trào lắng xuống, phong trào lại lên”. Cả địa bàn nông thôn như thế mà mấy tháng mới đưa hàng Việt về phục vụ bà con một lần thì giải quyết được gì? Phải tổ chức tốt hệ thống phân phối nông thôn mới hiệu quả”.

Một lần nữa, Chủ tịch Hiệp hội Siêu thị Hà Nội nhắc nhở, Việt Nam phải nhìn thẳng vào sự thật để cải tiến, từ sản xuất đến phân phối, cơ chế chính sách.

“Giá rẻ thôi chưa đủ, chất lượng mới quan trọng. Điều cơ bản là hàng Việt có đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của thị trường hay không, từ giá cả, chất lượng đến tiếp thị, trách nhiệm khi hàng hoá có vấn đề. Nếu không đáp ứng được thì lập tức sẽ bị loại bỏ khỏi thị trường”, ông Phú nhấn mạnh.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s