Quyền lập hội và công đoàn độc lập, sao phải e dè?

Posted: September 23, 2015 in Uncategorized
Tags:

(VNN)“Ngày hôm nay, chúng ta đang e ngại khi bàn về luật hội và tự do lập hội y như cách đây 25 năm các cụ e dè khi bàn về doanh nghiệp tư nhân. Nhưng rồi DN tư nhân vẫn phát triển, thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất. Kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi sự phát triển tương thích của một không gian xã hội cởi mở hơn” – TS Nguyễn Đức Thành nhận định.

LTS: Mới đây, bản dự thảo luật về hội đã được công khai để lấy ý kiến đóng góp của công chúng. Theo kế hoạch, dự thảo luật này sẽ được thảo luận và thông qua tại Quốc hội khóa tới, cùng với một loạt các luật khác nhằm cụ thể hóa các quyền con người được ghi trong chương đầu của Hiến pháp 2013 như quyền tiếp cận thông tin, quyền biểu tình,…Các dự luật này cũng nằm trong lộ trình thực thi các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã tham gia như Công ước về quyền tự do lập hội của người lao động ở cơ sở…

Nhằm cung cấp thêm thông tin và các góc nhìn để các nhà làm chính sách tham khảo trong quá trình hoàn thiện dự luật, VietNamNet tổ chức bàn tròn thảo luận về dự luật hội với TS Nguyễn Đức Thành, Viện trưởng Viện Kinh tế và Chính sách, Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và Luật sư Lã Khánh Tùng – thành viên của Đoàn luật sư Hà Nội.

Quyền lập hội, sao phải e dè?

Trì hoãn chục năm

Nhà báo Việt Lâm:Dự thảo luật về hội này đã được đưa ra lấy ý kiến lần đầu tiên cách đây gần chục năm vào năm 2006. Tại sao đến giờ chúng ta lại phải đặt ra vấn đề này?

LS Lã Khánh Tùng: Thực ra từ Hiến pháp 1946 VN cũng đã có quy định quyền lập hội của công dân rồi. Còn luật hiện hành liên quan đến lĩnh vực hội là luật về Hội ban hành năm 1957. Hiếm có lĩnh vực nào mà chúng ta vẫn áp dụng luật cũ như vậy. Nhà nước quản lí các hội này dựa vào nghị định 45 năm 2010.

Tuy nhiên, qua hoạt động thực tiễn các bộ ngành đều nhận thấy có nhiều vấn đề, vướng mắc phát sinh liên quan đến các hội, hiệp hội, hội đoàn. Chẳng hạn, gần đây nhất có các tổ chức, hội đoàn thành lập mới khiến các cơ quan nhà nước rất lúng túng, không có câu trả lời dứt khoát là các hội đoàn này có bất hợp pháp hay không.

Cùng với tinh thần Hiến pháp mới 2013 rất quan tâm đến quyền con người thì VN đã có kế hoạch ban hành rất nhiều đạo luật mới liên quan đến quyền con người trong đó có quyền lập hội, quyền biểu tình, quyền tiếp cận thông tin, luật tạm giữ tạm giam,…

TS Nguyễn Đức Thành:Nhìn từ góc độ của một nhà kinh tế, tôi thấy sự thành lập và tồn tại của các hội như các tổ chức tự nguyện vì cùng chung mục đích, cùng một lợi ích hay thậm chí như một câu lạc bộ theo đuổi một thú vui nào đó là rất cần cho xã hội. Bởi vì trong một xã hội hiện đại vận hành theo cơ chế thị trường như hiện nay, những tổ chức như vậy vừa xây dựng, vừa bảo vệ được các lợi ích rất đa dạng cho công dân.

Chúng ta cố gắng quản lý nhưng hội thì rất đa dạng, từ những hội rất nhỏ đến những hội mang tính chất chính trị hay những nghiệp đoàn lớn. Nếu chúng ta không có một luật đầy đủ để có thể bao quát được sẽ dẫn đến những trường hợp như anh Tùng vừa đề cập, có những đơn vị chúng ta không biết nên điều chỉnh như thế nào.

Về khía cạnh kinh tế, ở đây tôi nhìn thấy có vấn đề về tài chính công. Một số hội, hiệp hội quan trọng nhận được tài trợ từ ngân sách. Thậm chí, nhân sự gần như nằm trong hệ thống chính trị, trong khi những hội khác không có. Vậy đâu là tiêu chí để nhà nước can dự, hay tài trợ cho hội, và tài chính công được sử dụng cho hội như thế nào? Đó là vấn đề lớn mà tôi cho rằng luật phải đưa ra một cách rõ ràng. Không thể chỉ dựa trên cơ sở là nhà nước thấy hội nào cần thì tham dự vào chuyện nhân sự, hay tài chính, còn hội khác thì không cần.


TS Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Viện Nghiên cứu Kinh tế
và Chính sách, ĐHQG Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng

Việt Lâm: Nguyên thứ trưởng Bộ Nội vụ Thang Văn Phúc cho biết là ông đã tham gia xây dựng và chỉnh sửa dự thảo luật về hội đến 10 lần. Còn dự thảo luật về hội được đưa ra lấy ý kiến công chúng lần này là lần thứ 14. Tại sao dự luật này lại mất đến cả chục năm, qua nhiều lần sửa đổi đến vậy?

LS Lã Khánh Tùng: Rõ ràng là lĩnh vực hội đoàn có phạm vi ảnh hưởng rất lớn về mặt chính trị – xã hội. Các hội rất đa dạng, không chỉ là các câu lạc bộ, hội nhóm mà nó còn là các liên đoàn, thậm chí các công đoàn. Ở nhiều quốc gia, người ta còn coi vấn đề đảng phái cũng thuộc lĩnh vực hội đoàn.

Do tính chất đa dạng của các hội nên người ta rất khó tạo một khuôn khổ chung, một sân chơi chung.

Ngoài ra, phải nhìn nhận thực tế là ngay trong các cơ quan nhà nước cũng chưa có được một sự thống nhất về quan điểm, chứ chưa nói đến sự khác biệt với các tổ chức xã hội dân sự. Cách đây 10 năm, Liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật VN đã đưa ra một dự thảo độc lập có cách tiếp cận rất khác với dự thảo của Bộ Nội vụ là cơ quan soạn thảo lúc đó đưa ra. Trong khi dự thảo của Bộ Nội vụ vẫn quy định rất nhiều thủ tục xin phép, những 4- 5 lần xin phép thì dự thảo của VUSTA đưa ra rất thoáng, chỉ cần đăng ký và thông báo thôi. Cùng với sự e dè của các cơ quan nhà nước, dự thảo luật về hội do vậy bị trì hoãn đến giờ.

Đã đến lúc phải thừa nhận không gian dân sự

Việt Lâm: Đành rằng, bối cảnh kinh tế – xã hội thời bấy giờ khiến cho những dự luật như vậy chưa thể được thông qua. Nhưng liệu sự trì hoãn đó có gây ra hệ luỵ gì về mặt phát triển kinh tế hay không, theo ông Thành?

TS Nguyễn Đức Thành: Lâu nay, chúng ta thường tư duy theo hướng mọi thành phần, mọi nhóm trong xã hội đều cần có sự kiểm soát. Câu hỏi quan trọng đặt ra ở đây là: Chúng ta có cần kiểm soát như vậy hay không? Thậm chí chúng ta có khả năng kiểm soát như vậy hay không, đặc biệt trong một xã hội hiện đại và kinh tế thị trường như hiện nay?

Trong một nền kinh tế thị trường, tính tự do của doanh nghiệp tạo ra cơ sở cho nền kinh tế đó và các hoạt động của nền kinh tế đó buộc phải tự do mới có sáng tạo, mới thúc đẩy phát triển. Đi liền với nó là không gian về mặt xã hội. Bên này là không gian kinh doanh, bên kia là không gian xã hội đều phải có sự tương thích. Chữ tương thích này không phải chỉ là sự tự do cho có tính chất tự do mà nó phải có sự tự do theo nghĩa là để nó phản ánh được toàn bộ nhu cầu xã hội của các nhóm người khác nhau trong một xã hội ngày càng đa dạng.

Những tổ chức đó được tổ chức dưới dạng hội. Họ không phải các tổ chức kinh doanh, cũng không phải các tổ chức nhà nước mà họ chỉ là những tổ chức dân sự. Đơn thuần là họ liên kết với nhau, hoặc có mối quan hệ nào đó để bộc lộ được nhu cầu mang tính xã hội thật sự của họ.

Nếu chúng ta không có được tư duy để họ tự nảy nở, từ đó họ sẽ phản ánh được những nhu cầu rất đa dạng của đời sống thì hội sẽ mọc lên một cách không tự nhiên. Khi nó ra đời không tự nhiên như vậy, nó sẽ phản ánh lệch lạc nhu cầu thực sự của công dân trong xã hội. Thông tin lệch lạc sẽ đi đến khu vực kinh doanh một cách lệch lạc và như thế thì xã hội cũng sẽ bắt đầu chệch choạch. Nền sản xuất sẽ không tương thích được với nhu cầu thực sự của người dân.

Lấy một ví dụ đơn giản về các hiệp hội bảo vệ người tiêu dùng. Bên sản xuất có thể xâm phạm vào quyền lợi người tiêu dùng vì mục tiêu lợi nhuận mà thị trường theo đuổi điều đó. Như vậy, phải hình thành những nhóm lợi ích, ví dụ người tiêu dùng sữa, sầu riêng, …có thể thành lập những nhóm hội để bảo vệ quyền lợi khi phát hiện ra bên sản xuất làm không đúng, buộc bên sản xuất phải điều chỉnh hành vi. Chúng ta không thể dự báo trước hội nào sẽ được thành lập, bởi nó tự phát theo hiện tượng xã hội. Do vậy, chúng ta phải để cho nó có một không gian tự do hình thành.

Cơ quan nhà nước không thể nào theo kịp được thị trường, không thể theo kịp được nhu cầu của người dân mà phải tự người dân bộc phát ra. Cho nên vai trò hội rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt là tính chất tự nguyện: tự nguyện thành lập một thời gian sau đó giải tán hoặc phát triển lên, theo quy luật tự nhiên.

Tôi cho rằng, chúng ta đã thiết lập cơ chế thị trường trong vòng 20 năm qua thì đã đến lúc phải thừa nhận một không gian khác tương thích. Khi đó, đời sống của người dân, cũng như sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế mới cân đối, đầy đặn và bền vững được.

Độc lập hay là cánh tay nối dài của nhà nước?

Việt Lâm: Thực ra cũng đang có hàng nghìn hội tồn tại và phát triển ở VN hiện nay đấy thôi. Liệu họ đã làm tròn vai mà ông Thành vừa nói hay chưa?

TS Nguyễn Đức Thành: Về nguyên lý thì để hoạt động của những hội đó có ý nghĩa thì phải dựa trên tính tự nguyện cao: tự nguyện thành lập hoặc tự nguyện giải tán. Nó cũng giống như thị trường thì có nguyên tắc theo đuổi mục tiêu lợi nhuận, bên nhà nước phải có pháp luật quản lý và bình đẳng.

Trong những xã hội mà nhà nước muốn kiểm soát hội thì tính tự nguyện sẽ suy giảm và theo thời gian nó trở nên hình thức.

LS Lã Khánh Tùng: Phải thừa nhận thực tế là tính độc lập của các hội đoàn ở ta chưa mạnh. Chẳng hạn như gần đây người ta tranh cãi khá nhiều về vai trò của những hội rất lớn như Hội nông dân VN với 10 triệu thành viên, hay Hiệp hội lương thực VN trong việc bảo vệ quyền lợi nông dân trong xuất khẩu gạo.

TS Nguyễn Đức Thành: Nhân nói về Hiệp hội Lương thực, vấn đề đặt ra ở đây là những hiệp hội đó được hình thành trên cơ sở nào: tự nguyện hay có sự dàn xếp, áp đặt từ các cơ quan chủ quản? Nhân sự hay thành viên có phản ánh đúng tính chất của hội không? Hay quá trình ra quyết định có đúng là nghị quyết chung của những thành viên thực sự? Chỉ khi đó, hội mới có tính đại diện thực chất.

Nếu hai bước đó đã không đạt được ngay từ đầu thì thông tin mà hiệp hội đó mang lại không phản ánh đúng cái được giả định là hội đang đại diện. Thông tin đã không chính xác rồi thì giá trị của nó không còn nhiều nữa.

Như vậy, ngay từ một hội nhỏ như hội chơi xe máy chẳng hạn, thì chính hội ấy phải quyết định hội ấy làm cái gì. Nôm na như năm nay đi du lịch ở đâu, sưu tập loại xe máy gì, đó là việc của người ta.

Còn nếu việc quyết định năm nay sưu tập xe gì hay đưa hình ảnh xe nào lên lại do một người bên ngoài quyết định thì hội đó không còn ý nghĩa nữa. Đầu tiên là các thành viên sẽ rời bỏ. Chỉ còn lại những thành viên chấp nhận trò chơi đó nhưng nó không còn ý nghĩa đúng là người đại diện.

Phải nói rằng các hiệp hội khác của chúng ta đều chưa phản ánh được hoàn toàn tính đại diện trong việc hình thành thành viên, đồng thời quá trình ra quyết định của các thành viên chưa phản ánh hết nguyện vọng của họ.

LS Lã Khánh Tùng: Độc lập có nhiều khía cạnh, trong đó độc lập về mặt tài chính có ý nghĩa cực kỳ quan trọng. Ở VN do nền kinh tế còn ở mức thấp nên việc huy động tài chính cho các tổ chức phi chính phủ, các hội đoàn độc lập gặp nhiều khó khăn. Điều này dẫn đến một thực trạng là rất nhiều hội đoàn muốn nhà nước dành thêm ngân sách, thêm ưu tiên cho mình.

Tôi quan sát thấy trong nhiều diễn đàn thảo luận về luật hội, không ít tổ chức đứng lên đòi hỏi điều này, thậm chí có một hội còn đặt vấn đề tại sao các hội khác lập cơ quan đảng, đoàn trong hội được mà chỗ chúng tôi lập cơ quan đảng trong hội khó khăn đến thế.

TS Nguyễn Đức Thành: Thực ra đây là vấn đề thay đổi tư duy. Chúng ta vẫn còn coi hội như một bóng mờ, một cánh tay nối dài của cơ quan quản lý nhà nước.

Để hội độc lập thực sự thì nó phải độc lập về tài chính, tức là tài chính được đóng góp từ các thành viên hoặc các thành viên tự đi tìm các nguồn tài trợ trên cơ sở thuyết phục người khác tài trợ cho mình, chứ không phải từ ngân sách nhà nước.

Ngân sách là nguồn đến từ thuế của người dân và theo một nghĩa nào đó tất cả mọi người đều phải đóng cho hoạt động của hội đó dù cho không lớn. Vì sao tất cả người dân phải đóng tiền cho hội này mà không phải cho hội khác? Ai quyết định hội này được nhận nhiều hơn, hội kia ít hơn? Nếu tất cả cùng nhận thì hội có khác gì cơ quan nhà nước?

Khi các thành viên không đóng tiền hay hội không huy động được tài trợ, tức là nó không có giá trị nữa. Như thế thì nó nên giải tán, tương tự như một DN thua lỗ thì nên phá sản. Đấy là cách thức phát triển rất tự nhiên. Không thể nào để những hội tồn tại hàng chục năm không hiệu qủa mà nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước đã cấp tiền thì chúng ta không thể biết họ có đáng tồn tại hay không bởi không còn sự tự nguyện nữa.

Các hội hoạt động cũng tương tự như vậy thôi chứ không thể nào để những hội hoạt động hàng chục năm tồn tại như vậy, nhà nước vẫn cung cấp tiền cho họ. Khi nhà nước vẫn bao cấp cho hội thì chúng ta không biết là liệu họ có đáng tồn tại hay không, có còn giá trị với xã hội hay không.

Sự tiến hoá của tư duy

Việt Lâm: Nhận thức luôn là một quá trình. Nói gì thì nói, nếu chúng ta quan sát đều có thể thấy rằng từ chỗ còn e ngại thì gần đây ngày càng có nhiều người, trong đó có các nhà quản lý, hoạch định chính sách đề cập đến sự cần thiết phải thực thi quyền tự do lập hội như đã được khẳng định trong Hiến pháp 2013. Liệu đây có phải là bước chuyển thực sự về tư duy?


Luật sư Lã Khánh Tùng, thành viên Đoàn Luật sư Hà Nội. Ảnh: Lê Anh Dũng

LS Lã Khánh Tùng: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những chuyển biến tích cực này. Dường như rõ nét nhất là do tiến trình hội nhập quốc tế của VN. Gần đây, VN đã gia nhập thêm nhiều công ước quốc tế về quyền con người, tham gia nhiều diễn đàn của LHQ, trở thành thành viên của Hội đồng nhân quyền của LHQ…

Nói chung, các vấn đề về các quyền cụ thể được quan tâm nhiều hơn. Những khái niệm về tự do, những chuẩn mực quốc tế, những giá trị phổ quát được thảo luận nhiều hơn. Tuy nhiên, để tinh thần đó thực sự đi được vào những dự thảo cụ thể thì vẫn phải đợi thêm thời gian. Bởi lẽ, nhà nước bao gồm nhiều cơ quan quản lí khác nhau và chưa hẳn đã thực sự thống nhất với nhau về quan điểm. Có những bộ có vẻ khá cởi mở, như Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp. Dường như họ tiếp xúc nhiều với chuẩn mực quốc tế nên trong tiến trình soạn thảo các dự thảo luật cụ thể thì họ thường cởi mở hơn và thậm chí tiếp xúc, lắng nghe công chúng nhiều hơn.

TS Nguyễn Đức Thành: Tôi cũng thừa nhận như vậy, rõ ràng là có những tiếng nói cởi mở hơn so với trước đây. Trước đây nói về hội, tự do hội gần như là sự cấm kỵ. Giờ đây có nhiều người đã nói lên. Dù chưa nhiều, nhưng rõ ràng đó là một sự chuyển biến.

Chúng ta cũng phải hiểu rằng đây là một quá trình mang tính lịch sử. Sự thay đổi tư duy của con người cũng mang tính lịch sử, tức là đòi hỏi phải có thời gian. Tất cả những tiến triển trong thảo luận về hội của chúng ta hiện nay cũng giống hệt bối cảnh cách đây 20 -25 năm khi chúng ta thảo luận về luật doanh nghiệp.

Cách đây 30 năm chúng ta không có không gian cho doanh nghiệp tư nhân, cho kinh tế thị trường. Nói về doanh nghiệp tư nhân là điều gì cấm kỵ, khủng khiếp, lại càng không thể tưởng tượng nổi doanh nghiệp tư nhân có thể đem ra so sánh hay cạnh tranh với doanh nghiệp nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước cũng không buồn bàn những chuyện lặt vặt như vậy.

Nhưng rõ ràng là quá trình tiến bộ của xã hội đòi hỏi phải có một khu vực tư nhân năng động, linh hoạt và hiệu quả. Mục đích của nó là tạo ra của cải sản xuất tốt hơn doanh nghiệp nhà nước đang tồn tại cho đến thời điểm đó. Lúc đó, chúng ta thấy luật về doanh nghiệp tư nhân rất e dè xuất hiện và tách riêng ra với luật doanh nghiệp nhà nước, tức là họ không muốn chung, coi như đây là một phần bên lề. Nhưng về sau kết hợp lại thành luật doanh nghiệp nói chung của cả khu vực tư nhân và khu vực nhà nước, trong đó khu vực tư nhân là chính, khu vực nhà nước chỉ là phần phụ trong nội dung luật.

Tôi tin rằng tư duy về hội cũng sẽ tiến hóa như vậy. Bây giờ chúng ta còn đang e dè, e ngại nhưng đó chỉ là thời kì lịch sử. Bởi vai trò của các hội, hiệp hội bây giờ cũng khác gì so với vai trò của các doanh nghiệp trong việc sản xuất ra của cải vật chất. Ở bên này, các hội là những đơn vị phản ánh tinh thần thời đại, nhu cầu của người dân, xây dựng nên văn hóa dân chủ mà khu vực doanh nghiệp không thể giải quyết được, khu vực nhà nước không giải quyết được hoặc giải quyết không hiệu quả, với chi phí tốn kém. Nhưng một khi xã hội có nhu cầu thực sự thì nó sẽ lớn lên.

Ngày hôm nay, chúng ta cũng đang e dè khi bàn về luật hội y như các cụ ngày xưa e ngại khi bàn về doanh nghiệp tư nhân: không có nó thì sao, nó có thay đổi toàn bộ xã hội này không, có chệch hướng hay không? Nhưng rõ ràng doanh nghiệp tư nhân đã tồn tại và thậm chí trở thành nền tảng của nền sản xuất VN hiện nay.

Điều này chúng ta có thể chứng kiến theo thời gian. Dần dần những hội chính thức sẽ phải thay đổi về mặt chính sách, nhân sự. Họ không muốn các tổ chức phi chính phủ ngang hàng với họ, họ muốn một luật riêng, các điều khoản riêng. Nhưng cũng như luật doanh nghiệp khi xưa, sớm muộn sẽ hội tụ lại với nhau. Và trong tương lai các nội dung để điều chỉnh hiệp hội tự do mang tính dân sự sẽ chiếm chi phối. Tất nhiên những hiệp hội mang tính tự do, độc lập cao đó ở trong xã hội hiện đại như vậy thì phải tuân thủ luật pháp một cách chặt chẽ.

Công đoàn độc lập nhìn từ lợi ích kinh tế

(VNN)Quan điểm của các nền kinh tế phát triển coi công đoàn độc lập với nhà nước và có quyền đàm phán riêng với giới chủ DN bởi vì đó là mắt xích quan trọng để nền kinh tế thị trường vận hành trơn tru – TS Nguyễn Đức Thành.

Mắt xích quan trọng của nền kinh tế thị trường

Việt Lâm: Một số nhà hoạch định chính sách, chẳng hạn như Phó chủ nhiệm UB Kinh tế Quốc hội Nguyễn Đức Kiên mới đây có nói rằng áp lực từ các cam kết quốc tế phải thực thi các quyền tự do, trong đó có tự do hội khi VN hội nhập đã cận kề, rằng “chúng ta chỉ có một lựa chọn: mở cửa hay là chết”. Khi VN tham gia TPP, theo cam kết, người lao động sẽ có quyền tự do lựa chọn tổ chức công đoàn của họ. Tức là thực tại cũng không cho phép chúng ta trì hoãn?

LS Lã Khánh Tùng: Công đoàn cũng là một hình thức của hiệp hội. Thời gian qua, chúng ta chỉ có một tổ chức công đoàn mà thôi. Rõ ràng, áp lực hội nhập quốc tế buộc chúng ta phải tôn trọng những chuẩn mực quốc tế của ILO.

Tuy nhiên, trên thực tế ở các tỉnh phía Nam, các công đoàn cơ sở đã tương đối độc lập rồi. Một số nhà quan sát, nghiên cứu cho biết rất nhiều lãnh đạo công đoàn do công nhân tự bầu chọn ra và làm việc rất có trách nhiệm. Như vậy, nếu người lãnh đạo công đoàn là người có trách nhiệm thì chính họ cũng sẽ góp phần quan trọng trong việc tạo ra tính độc lập của công đoàn.

Đương nhiên, với xu thế hội nhập chung, với tầm ảnh hưởng lớn của giới công nhân thì dần dần nhà nước cũng sẽ đi đến chấp nhận quyền tự do công đoàn của công nhân. Không có cách nào khác, bởi vì quyền đó sẽ giúp người công nhân không chỉ bảo vệ quyền lợi riêng của họ mà còn góp phần tạo ra sự lành mạnh bền vững của nền kinh tế nói chung.

Việt Lâm: Nhân nói về vai trò của công đoàn đối với sự bền vững của nền kinh tế, nghiên cứu mới công bố gần đây của Ngân hàng Thế giới cho thấy đã có hàng trăm nghìn cuộc đình công lớn nhỏ nổ ra trong suốt thời kì đổi mới, bộc lộ một điểm yếu trong quan hệ lao động ở VN. Đa phần các cuộc đình công này, nhà nước không dự báo được trước. Theo Ngân hàng Thế giới, nếu như công đoàn làm tốt vai trò đại diện cho lợi ích của công nhân thì họ có thể trực tiếp đàm phán với giới chủ, nhờ đó tránh được những hệ luỵ nặng nề về kinh tế, xã hội của các cuộc đình công.

TS Nguyễn Đức Thành: Quan điểm của các nền kinh tế phát triển coi công đoàn độc lập với nhà nước và có quyền đàm phán riêng với giới chủ DN bởi vì đó là mắt xích quan trọng để nền kinh tế thị trường vận hành trơn tru. Người lao động cung ứng sức lao động – đầu vào cho quá trình sản xuất. Quá trình đó phải được định giá một cách thị trường, tức là bằng tiền lương.

Người ta cho rằng, nếu công đoàn không độc lập thì tiền lương đó sẽ không được định giá một cách đúng đắn, vì nó không có sự va chạm, tương tác giữa người sử dụng lao động và người cung ứng lao động thông qua đại diện của mình là công đoàn một cách độc lập. Khi thị trường méo mó thì tiền lương có thể sẽ không đúng như tiền lương thị trường. Nhờ thế, các nước có tính chất như vậy có thể sản xuất ra hàng hóa rẻ hơn bình thường, thông qua quá trình đè nén người lao động một cách tinh vi.

Để tham gia các tổ chức thương mại tự do, điều kiện đầu tiên là anh phải sản xuất trên cơ sở thị trường, tức là tất cả các yếu tố đầu vào dựa trên giá cả tự do. Nếu giá cả tự do đó rẻ thì tôi chấp nhận thua. Tôi không cạnh tranh với anh được thì tôi phải hạ giá, tăng hiệu quả của tôi. Thế nhưng, nếu anh sản xuất được hàng hóa rẻ hơn thông qua tiền lương thấp hơn mức bình thường mà đáng lẽ người lao động có quyền được hưởng, hay anh dựa trên đặc quyền đất đai không thu phí thì tôi không chấp nhận buôn bán tự do với anh. Đây là nguyên tắc rất rõ ràng, xuất phát về mặt nguồn gốc thương mại và kinh tế. Do vậy, chưa nói đến yếu tố chính trị mà ở đây chỉ thuần tuý về cơ sở kinh tế, anh buộc phải điều chỉnh sao cho hệ thống tiền lương công nhân vận động theo đúng cơ chế thị trường. Muốn làm được điều này, phải có công đoàn độc lập.

Công đoàn bãi công, biểu tình chẳng qua chỉ để đòi tăng lương hay đòi hỏi các đãi ngộ tốt hơn. Nếu chính phủ yêu cầu không được làm điều đó thì vô hình trung chính phủ đã can thiệp vào quá trình vận động của thị trường, vào quá trình đàm phán giữa hai bên. Chúng ta cần phải hiểu thấu đáo vấn đề này.

Đương nhiên, khi những tổ chức độc lập như vậy ra đời sẽ khiến cho cấu trúc xã hội thay đổi. Cấu trúc chính trị cũng dần phải điều chỉnh tương ứng bởi vì bản chất của chính trị là quá trình ra quyết định của những nhóm lợi ích khác nhau. Cấu trúc xã hội thay đổi buộc nó phải thay đổi theo.

Tôi nghĩ rằng đại đa số trong chúng ta vẫn chỉ nhìn vấn đề ở khía cạnh chính trị mà không nhìn nhận vào gốc rễ của vấn đề. Trong khi, nếu không giải quyết được cái gốc của vấn đề thì quá trình hội nhập quốc tế của chúng ta còn khó khăn.

LS Lã Khánh Tùng: Tôi muốn bổ sung rằng bên cạnh những lợi ích về kinh tế của việc thực thi quyền tự do hiệp hội như vậy, thì việc thực thi nó còn liên quan đến phẩm giá con người nữa. Có thể người ta lập hội chỉ để vui chơi, giải trí thôi. Người ngoài nhìn vào không thấy lợi ích gì cả. Thế nhưng nó rất thiết yếu để thực thi quyền con người, liên quan đến phẩm giá con người. Chúng ta phải tôn trọng tự do đó của họ nếu tự do đó không làm tổn hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

Rõ ràng, các cơ quan nhà nước phải nắm rõ triết lý đó, tôn trọng tự do người khác như vậy thì khi triển khai các chính sách pháp luật cụ thể mới tốt được chứ không thể hạn chế tự do đó một cách thiếu căn cứ.

Thủ tục lập hội vẫn nhiêu khê

Việt Lâm: Như chúng ta đã đề cập, chính nhu cầu nội tại trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội của VN cũng như những cam kết hội nhập quốc tế đòi hỏi chúng ta đã đến lúc thực thi quyền tự do lập hội. Vậy dự luật về hội lần thứ 14 này đã thực sự tạo ra hành lang pháp lý thông thoáng cho sự phát triển lành mạnh của các hội và hiệp hội ở VN hay chưa?

LS Lã Khánh Tùng: Trước hết, phải nói rằng việc Bộ Nội vụ đưa ra được dự thảo luật vào tháng 6 cũng như đưa vào chương trình lập pháp của Quốc hội để thực thi Hiến pháp mới là một bước tiến bộ đáng kể.

Tuy nhiên, dự thảo này dường như chỉ là sự nâng cấp của nghị định hiện hành –Nghị định 45 năm 2010, thay đổi tên và có một số điểm bổ sung.

Trong Dự thảo công bố hồi tháng 6 có một điểm sáng là bên cạnh những hội phải đăng kí với nhà nước thì dự thảo cũng thừa nhận có những hội không phải đăng kí với cơ quan nhà nước. Nhưng điều đáng tiếc là sau khi lấy ý kiến công chúng và trình lên Chính phủ thì dự thảo gần nhất tôi nhận được hồi tháng 8 không còn thấy quy định tiến bộ này nữa.

Nếu chúng ta không thừa nhận những hội không cần đăng ký thì bản thân cơ quan nhà nước sẽ rất khó thực thi bởi các hội đoàn trong xã hội rất đa dạng. Các cơ quan hội đoàn không phải hội nào cũng đăng ký. Ví dụ hội đồng hương, đồng học, hay những hội thuần túy là hội cá cảnh thì đâu nhất thiết phải đăng ký với cơ quan nhà nước.

Cũng vì kế thừa nghị định hiện hành nên dự thảo luật chưa tạo ra được sự bình đẳng giữa các hội đoàn. Rõ nét nhất là dự luật này sẽ không điều chỉnh hệ thống Mặt trận Tổ quốc và năm tổ chức hạt nhân của nó như công đoàn, hội phụ nữ, hội cựu chiến binh, đoàn thanh niên,… Như chúng ta đã thảo luận, xét từ khía cạnh kinh tế, các hội phải có sự bình đẳng với nhau; thậm chí còn cần phải quan tâm đến sự bình đẳng giữa các cá nhân trong việc lập hội.

Ngoài ra, thủ tục lập hội vẫn duy trì như cũ nên rất nhiêu khê, rườm rà. Chẳng hạn, luật quy định câu chữ là muốn thành lập hội chỉ phải đăng kí với cơ quan nhà nước. Nhưng trên thực tế, phải xin phép đến ba lần. Ví dụ ba người chúng ta đây muốn lập một hội thì trước tiên là lập ban vận động. Tuy nhiên, ban vận động này phải có giấy phép công nhận của cơ quan nhà nước. Sau khi được công nhận rồi, mình bắt đầu lập hội và tập hợp được một số thành viên nhất định. Được một số thành viên nhất định rồi thì mình phải đăng ký để được công nhận thành lập. Được thành lập rồi thì mình tổ chức đại hội đầu tiên, thông qua điều lệ, bầu người lãnh đạo –chủ tịch hội. Điều lệ và ban lãnh đạo này phải được cơ quan nhà nước phê duyệt, tức là lần thứ ba.

Dự luật cũng vẫn duy trì cơ chế song quản khá rườm rà. Một hội ngoài Bộ Nội vụ quản lý, còn chịu sự điều chỉnh của bộ chuyên ngành nữa. Chẳng hạn, người ta muốn lập hội trồng rừng thì việc thành lập ban vận động phải do Bộ Nông nghiệp phê duyệt. Sau này, hội đó khi đi vào hoạt động phải báo cáo đồng thời Bộ Nội vụ và Bộ Nông nghiệp. Rõ ràng, chúng ta có thể cắt gọn đi, tập hợp lại một đầu mối quản lý thôi sẽ hiệu quả hơn.

20150923080909-ducthanh
TS Nguyễn Đức Thành và nhà báo Việt Lâm. Ảnh: Lê Anh Dũng

Việt Lâm: Những ví dụ mà ông Tùng vừa nói một lần nữa cho thấy thực tế ở VN, có thể nhận thức rất tiến bộ nhưng khi đưa thành văn bản chính sách, tức là phải trải qua quá trình cọ xát rất nhiều quan điểm khác nhau, kết quả đầu ra cuối cùng là văn bản chính sách lại không như mong muốn ban đầu nữa. Nếu vậy thì liệu thời điểm này đã thực sự chín muồi để thực thi quyền tự do lập hội như đã khẳng định tại Hiến pháp 2013, văn bản pháp luật tối cao của VN hay chưa?

LS Lã Khánh Tùng: Một câu hỏi rất hay là đã đến thời điểm ban hành luật hay chưa.

Về mặt hình thức thì rõ ràng dự luật này rất cần thiết bởi môi trường hiện hành đang có nhiều vướng mắc cho hoạt động của hội như vậy. Hơn nữa, Hiến pháp mới ban hành cách đây hai năm đã quy định về quyền tự do lập hội rồi, nên cần phải ban hành luật để cụ thể hoá nó.

Nhưng cũng có quan điểm cho rằng bây giờ chưa phải lúc ban hành luật. Họ nhấn mạnh, luật pháp chỉ là tấm gương phản ánh quan hệ quyền lực chính trị. Trong một nền dân chủ thì phải có nhiều trung tâm quyền lực. Nhiều lực lượng, nhiều nhóm, nhiều tiếng nói trong xã hội đều phải được lắng nghe, quan tâm, thậm chí có sự cạnh tranh giữa các tiếng nói khác nhau.

Trong khi đó, nhiều người cho rằng ở VN chưa có thay đổi đáng kể về quan hệ quyền lực và tiếng nói người dân dường như chưa được lắng nghe một cách thấu đáo cho nên nói chung thông qua các luật về quyền tự do dân chủ ở thời điểm này chưa dễ có ngay những dự thảo luật tốt.

Sẽ phát triển còi cọc nếu cứ dùng dằng mãi

Việt Lâm: Điều này làm tôi nhớ đến quan sát vừa rồi của TS Nguyễn Đức Thành rằng sự e dè của chúng ta đối với các hội bây giờ không khác gì sự e dè khi xưa đối với doanh nghiệp tư nhân. Nhưng ngay cả thời kì ngăn sông cấm chợ thì tinh thần của kinh tế tư nhân vẫn cứ tồn tại âm ỉ trong xã hội và chờ đến khi được cởi trói, nó đã thực sự bùng nổ. Cho dù chưa có luật về hội nhưng từ thời đổi mới đến giờ đã có hàng nghìn hội lớn nhỏ ở TƯ và địa phương ra đời và phát triển. Chỉ tính riêng các tổ chức phi chính phủ đã gần 2000. Liệu chúng ta có nên chờ cho thời gian chín muồi hơn để có một dự thảo luật thực sự tốt?

LS Lã Khánh Tùng: Tôi không nghĩ như vậy. Nếu cứ để môi trường pháp lý như hiện nay sẽ gây ra nhiều hậu quả bất lợi về mặt kinh tế, xã hội. Luật pháp phải rõ ràng nhưng hiện nay nhiều hội đoàn, tổ chức, câu lạc bộ ví dụ nhóm đọc sách thôi rất lo ngại là địa vị pháp lý của họ lơ lửng, không biết là bất hợp pháp hay không, có nguy cơ bị giải tán hay không.

TS Nguyễn Đức Thành: Đúng vậy. Trong tình trạng luật pháp không rõ ràng thì những người thực thi sẽ lạm dụng quyền lực. Bản thân những người được giả định thuộc diện điều chỉnh cũng không biết thế nào mà làm. Thành ra, họ sẽ làm những việc lẽ ra phải làm với thái độ e sợ. Khi họ không dám làm thì khu vực ấy sẽ teo tóp hoặc không phát triển như nó đáng có.

Giống như doanh nghiệp tư nhân làm ăn kinh doanh là vì cuộc sống của họ. Nếu khi xưa họ được phép phát triển như hôm nay thì có lẽ đất nước ta đã giàu có từ lâu rồi. Tương tự như vậy, nếu không gian xã hội được phép nảy nở đều đặn, cân đối sẽ giúp cho đời sống tinh thần, phẩm giá con người, văn hoá tinh thần của người VN đa dạng hơn, nhân văn hơn. Còn nếu cứ dùng dằng mãi thì không gian này sẽ còi cọc như nền kinh tế của chúng ta cách đây 20-30 năm vậy.

LS Lã Khánh Tùng: Về mặt lý tưởng thì nếu các cơ quan nhà nước tiếp tục xây dựng các đạo luật để thực thi quyền tự do con người, đồng thời lắng nghe, tiếp thu những ý kiến xác đáng từ các tổ chức xã hội, từ các chuyên gia thì sẽ có khuôn khổ pháp lý tốt.

– Xin cảm ơn các vị khách mời!

  • VietNamNet

Phần 2 mới đăng nhưng chỉ có thể xem tại trang gốc theo webcache của Google – VNTB đã lưu với title “Công đoàn độc lập: Mắt xích quan trọng của nền kinh tế thị trường”.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s