‘Cả họ’ làm quan huyện, bố con cùng làm… quan tỉnh

Posted: September 26, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyễn Anh thi (VNN) – Phải chăng đã đến lúc tìm ra giải pháp hữu hiệu chấm dứt cảnh cả nhà làm quan, cả họ làm quan thiếu minh bạch?

� Xem thêm: Cả họ làm quan, nhân tài hết đất dụng võ.


Ảnh minh họa

Chuyện “cả họ làm quan” ở huyện Mỹ Đức, Hà Nội hay mới đây là chuyện bố và con trai cùng làm quan chức tại một tỉnh miền Trung đang khiến dư luận rất quan tâm. Nhiều người không khỏi liên hệ đến cái nếp “một người làm quan, cả họ được nhờ” vốn không còn xa lạ ở Việt Nam.

Điều này khiến người viết nghĩ đến một chuyện xưa, một chuyện nay ở hai khoảng thời gian, không gian khác hẳn nhưng đều hữu ích khi soi chiếu vào hiện tượng này.

Chuyện ở Việt Nam hơn nửa thiên niên kỷ trước…

Ở thế kỷ 15, vua Lê Thánh Tông đã đặt ra luật Hồi tỵ (dịch nghĩa là “tránh đi”), một nguyên tắc quan trọng trong tổ chức bộ máy chính quyền thời phong kiến. Trong đó quy định có thể hiểu sơ lược là những người có cùng quan hệ huyết thống, đồng hương, thày trò, bạn bè không được cùng làm quan hay làm việc ở cùng một địa phương, công sở. Nếu gặp một trong các trường hợp trên thì phải báo lên để thuyên chuyển những người này đi các nơi khác nhau.

Tới thời vua Minh Mạng, ông hoàn thiện và thực hiện triệt để hơn luật hồi tỵ. Theo đó, khi bố trí quan về trị nhậm tại các địa phương cần phải tránh những nơi: Quê gốc (quê cha) là nơi có quan hệ họ nội nhiều đời; Trú quán là nơi bản thân đã ở lâu, học hành, sinh hoạt; Quê ngoại (bao gồm quê mẹ, quê vợ, nơi theo học trước đây). Chính vì Luật Hồi tỵ mà bộ máy quan lại từ thời Lê Thánh Tôn cho đến thời Minh Mạng đã có những hoạt động tích cực phục vụ xã hội, giảm tệ tham nhũng.

Rõ ràng, cả đến 500-600 năm trước, vua quan thời phong kiến đã sớm nhìn ra quy luật khắc nghiệt giữa quyền và lợi để tìm cách làm trong sạch bộ máy hành chính.

Ngày nay, khi bàn đến đấu tranh phòng, chống tham nhũng, khắc phục bất cập trong công tác cán bộ, nhiều người lại liên hệ đến luật Hồi tỵ. Hiện Khoản 3, Điều 37, Luật Phòng, chống tham nhũng năm 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2007 và năm 2012) quy định: “Người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị không được bố trí vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột của mình giữ chức vụ quản lý về tổ chức nhân sự, kế toán – tài vụ, làm thủ quỹ, thủ kho trong cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc giao dịch, mua bán vật tư, hàng hóa, ký hợp đồng cho cơ quan, tổ chức, đơn vị đó”. Có thể thấy, quy định đối tượng và phạm vi áp dụng những quy định của luật “hồi tỵ” ngày nay đã hẹp hơn rất nhiều so với luật “hồi tỵ” của cha ông ta thuở trước.

Những biểu hiện tiêu cực của cái dân gian vẫn gọi là “quan hệ, hậu duệ” đã ảnh hưởng không nhỏ đến tính minh bạch, dân chủ trong bộ máy nhà nước. Phải chăng đó chính là kẽ hở để những sự việc cả nhà làm quan, cả họ làm quan diễn ra, khiến cho người dân lo ngại nguy cơ lợi ích nhóm và tham nhũng gia tăng.

… và chuyện nay ở ngoài Việt Nam

Trong khi đó, tìm hiểu các nước phát triển ở Âu Mỹ, có thể thấy các mối quan hệ liên đới đến việc các cá nhân thăng quan tiến chức dường như từ lâu đã được xã hội hóa (thay vì kiểu loanh quanh nâng đỡ “trong nhà” như ở ta). Một điển hình trong số đó là trường học.


Sidwell Friends, một trong những trường nổi tiếng nhất nước Mỹ, được ví như Harvard của Washington

Các trường nội trú tại các quốc gia phát triển được coi là nơi giúp trẻ em hòa nhập với cộng đồng. Thậm chí hầu hết các mối quan hệ dẫn đến thăng tiến của một đứa trẻ trong tương lai đều bắt nguồn từ đây. Vì mối quan hệ này không dừng lại ở các bạn đồng môn, mà còn với những cựu học sinh lão luyện đã thành danh, ra trường không chỉ vài mà nhiều năm.

Hệ thống này có sự gắn bó cực kỳ chặt chẽ, thậm chí trong suốt quá trình của một con người và giúp họ có thể tạo lập chỗ đứng trong xã hội mà không cần sự trợ giúp của cha mẹ, anh em, họ hàng. Bởi vậy, niềm mơ ước của nhiều bậc cha mẹ ở các quốc gia này là cho con vào học trường danh tiếng. Thậm chí họ cho con đi học từ khi còn rất nhỏ, khoảng 12-13 tuổi để tạo được sự gắn kết sâu sắc và bền vững trong cộng đồng quan trọng này. Và ngay cả con cái các ông hoàng bà chúa, các vị tổng thống cũng bám chắc vào các mối quan hệ tại trường nội trú, bởi tương lai của họ không thể sống nhờ vào sự sắp đặt của cha mẹ.

Ví dụ, Sidwell Friends là ngôi trường đáng tin cậy của một số tổng thống và lãnh đạo cấp cao Mỹ. Thành lập vào năm 1883, có cơ sở ở Bethesda, bang Maryland và Washington D.C. Những học sinh “danh tiếng” của trường có thể kể đến hai con gái của Tổng thống Barack Obama, cháu của Phó tổng thống Joe Biden, con trai của cựu Tổng thống Theodore Roosevelt, con gái của cựu Tổng thống Richard Nixon, con gái của cựu Tổng thống Bill Clinton…

Trong khi đó tại Anh, Eton College là ngôi trường thành lập năm 1440. Trường nội trú này tiếp nhận học sinh từ 13 – 18 tuổi và có thành tích nổi bật vì đã đào tạo ra 19 vị thủ tướng và hàng trăm nghị sĩ ở xứ sở sương mù. Hai hoàng tử nước Anh là William và Harry đều theo học trường này.

Điều đáng nói, các trường danh tiếng tại các quốc gia này đều có thể cấp cho học sinh nghèo nhưng xuất sắc các học bổng theo học. Chính vì vậy, những học sinh này vẫn có thể dựa vào hệ thống quan hệ có trong trường để phát triển công việc, hỗ trợ thăng tiến cho cuộc sống mai sau. Có lẽ vì thế, khi đã thành đạt, họ ưa mang tiền bạc, tài sản về tặng cho trường thay vì chỉ cho gia đình, họ mạc như truyền thống ở ta.

Ví như kỷ lục quyên tặng tiền cho đại học Harvard với số tiền trị giá 400 triệu USD từ một cựu sinh viên của trường này là ông John A. Paulson. Trong khi đó, khiêm tốn hơn chút ít, tỷ phú Stephen Scharzman, cựu học sinh Yale đã mang 150 triệu USD tặng trường. Và cũng vì truyền thống này mà nhân tài được nâng đỡ, phát huy năng lực, xã hội hưởng lợi.

Nhìn từ người xưa, học từ những quốc gia tiên tiến, phải chăng đã đến lúc tìm ra giải pháp hữu hiệu chấm dứt cảnh cả nhà làm quan, cả họ làm quan thiếu minh bạch?

Cả họ làm quan, nhân tài hết đất dụng võ

Nguyễn Duy Xuân (Kiến Thức) – Chừng nào còn tồn tại nghịch lí trong khâu tuyển chọn công chức dẫn đến “cả họ làm quan” thì chừng ấy nhân tài không có đất dụng võ.

Đến công sở gặp một nhân viên mới toanh, câu đầu tiên của mọi người sau khi chào hỏi là: Em (cháu, cô, cậu) mới vào cơ quan hả? Có quen ai không mà vào được đây? Có phải con, cháu…?, ..vv…

Những câu hỏi đại loại như thế đã thành “chuyện thường ngày ở huyện” bao nhiêu năm nay bởi ở nhiều nơi, việc tuyển dụng công chức được cho là ngầm mặc định theo công thức “Hậu duệ, tiền tệ, quan hệ, trí tuệ”. Cho nên, chuyện cả họ làm quan ở huyện Mỹ Đức (Hà Nội) tuy khiến xã hội xôn xao nhưng không có gì lạ. Xôn xao bởi có lẽ đây là trường hợp đầu tiên, chuyện họ hàng dắt díu chia nhau quyền lực ở bộ máy công quyền cấp huyện được đưa lên báo chí, nêu đích danh chứ không còn ở “cấp độ” rỉ tai trong dư luận nữa.

Bây giờ thì cái câu “Một người làm quan cả họ được nhờ” dường như đã được biến đổi về lượng, nâng lên ở tầm cao hơn: Cả họ làm quan!


Còn nghịch lý “một người làm quan, cả họ được nhờ”, dẫn đến “cả họ làm quan”
thì nhân tài thực sự sẽ không có đất dụng võ. Tranh: Ndiep.

Tư tưởng “Một người làm quan cả họ được nhờ” đã được mặc định từ lâu trong tâm thức của người Việt. Đấy là hệ quả tất yếu của văn minh nông nghiệp với tổ chức bộ máy nhà nước lấy đơn vị làng xã làm nền tảng đã được định hình từ hàng ngàn năm nay. Thế cho nên mới có câu “Phép vua thua lệ làng”.

Làng xã xưa được hình thành trên cơ sở cư dân của một vài dòng họ cho nên họ nào có người nắm quyền (làm quan) thì sẽ có nhiều lợi thế (được nhờ) bởi quyền hành (cai trị làng xã) nằm trong tay người trong họ.

Ở cấp độ vĩ mô, tư tưởng ấy được mặc định thành công thức nước là vua, vua là nước. Cho nên khi một dòng họ khởi nghiệp dựng nên triều đại mới thì quyền lực cai trị nhà nước cũng mặc nhiên nằm trong tay dòng họ đó mà người đại diện tối cao là vua, chúa. Suốt hàng ngàn năm tồn tại của chế độ phong kiến, cách tổ chức quản trị nhà nước từ làng xã đến trung ương đều tuân thủ theo huyết thống, dòng họ. Đấy là nguyên nhân cơ bản khiến cho xã hội phong kiến trì trệ trong suốt chiều dài lịch sử tồn tại của nó.

Chế độ CS giỏi mỵ dân chê các chế độ khác

Chỉ đến khi cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời thì lề thói tổ chức bộ máy hành chính cũ kĩ lạc hậu ấy mới bị phá bỏ, thay vào đó là một nền dân chủ mới, trọng dụng người có tài có đức ra phụng sự việc nước.

Tuy nhiên, ngay ở buổi bình minh của chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh, kiến trúc sư của nhà nước dân chủ nhân dân kiểu mới, đã lường trước được những hệ lụy mà tư tưởng phong kiến lạc hậu vẫn đang tồn tại, nhất là trong hàng ngũ công chức nhà nước lúc bấy giờ.

Trong “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” ( “Hồ Chí Minh: Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng”, Báo Cứu quốc, số 69, ngày 17/10/1945 – đây là lúc CS chưa thể nắm độc quyền được), Người cảnh báo 6 lỗi lầm mà các vị công bộc của dân đã, đang và sẽ phạm phải. Trong 6 lỗi lầm mà Người nêu ra, có lỗi lầm thứ 4 là: “Tư túng – Kéo bè, kéo cánh, bà con bạn hữu mình, không tài nǎng gì cũng kéo vào chức này chức nọ. Người có tài có đức, nhưng không vừa lòng mình thì đẩy ra ngoài. Quên rằng việc là việc công, chứ không phải việc riêng gì dòng họ của ai”.

Lời dạy trên của Chủ tịch Hồ Chí Minh toát lên 3 điểm:

– Tư tưởng bè phái, dòng họ vẫn còn tồn tại trong một bộ phận công chức của chế độ mới thể hiện qua việc lôi kéo bà con, bạn hữu không có tài năng gì vào chức này, chức nọ.

– Tư tưởng ấy còn tồn tại thì người có tài, có đức không có đất dụng võ (Người dùng chữ “đẩy ra ngoài”)

– Tư tưởng ấy biến việc công thành việc riêng, mưu lợi cho bản thân, gia đình, họ hàng.

Trở lại câu chuyện cả họ làm quan ở huyện Mỹ Đức. Khi sự việc được đưa lên mặt báo, một vị lãnh đạo huyện khẳng định: “Toàn bộ quy trình về công tác cán bộ đều theo đúng quy định, quy trình”.

Vâng! Đúng qui trình, không sai. Vẫn đảm bảo các bước “nghiêm ngặt”: “Tuyển chọn, cân nhắc, người trong nhà thì càng phải tính toán kỹ hơn, trình độ phải nổi trội hơn người khác mới chọn” như ông Trưởng ban Tổ chức huyện ủy nói. Nhưng dư luận lại đặt câu hỏi: Liệu các bước tuyển chọn được cho là cân nhắc kĩ ấy có đảm bảo tính minh bạch, khách quan hay không khi ông Trưởng ban Tổ chức là chú ông Bí thư huyện ủy và các con cháu khác của ông là trưởng, phó phòng của huyện?

Với một huyện có số dân khoảng 180 nghìn người như Mỹ Đức, nếu tính dòng họ chắc phải đến hàng chục, thậm chí hàng trăm. Vậy mà các chức danh lãnh đạo đạo chủ chốt các phòng ban của huyện lại nằm trong tay người nhà họ Lê của bí thư huyện ủy đương nhiệm.

Cho nên, dù có lí giải kiểu gì, dù việc bổ nhiệm cán bộ, tuyển dụng được cho là đúng qui trình thì dư luận vẫn nghi ngờ tính minh bạch của nó khi bộ máy công quyền của huyện lại có đến 10 công bộc là người nhà của một dòng họ.

Bởi cái qui trình mà các vị bảo là đúng ấy vốn rất chặt chẽ, nghiêm ngặt về lí thuyết nhưng trong quá trình vận hành, nó đã bị vô hiệu hóa, chỉ còn mang tính hình thức. Bao nhiêu vụ việc sai trái bị phanh phui có vụ nào mà người đứng đầu hay cơ quan quản lí lại tự nhận là không đảm bảo qui trình đâu?

Chuyện “Một người làm quan cả họ được nhờ” bây giờ không còn là chuyện hiếm hoi gì nữa. Có thể bắt gặp bất cứ nơi đâu, bất cứ ngành nào. Dư luận vẫn đồn đại ngành nọ ngành kia có luật bất thành văn dành suất cho cán bộ, viên chức mình đưa con em vào thế chỗ đó thôi.

Thế cho nên, chuyện hàng nghìn sinh viên tốt nghiệp đại học, hàng trăm thạc sĩ thất nghiệp chẳng có gì là khó hiểu. Bằng cấp, trình độ, tài năng đều phải nhường bước trước hết cho “hậu duệ”.

Chừng nào còn tồn tại nghịch lí này trong khâu tuyển chọn công chức thì chừng ấy nhân tài không có đất dụng võ.

Trong “Thư gửi Uỷ ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng” nói trên, Chủ tịch Hồ Chí Minh gói trọn tâm huyết của mình ở câu kết của bức thư: “Chúng ta phải ghi sâu những chữ “công bình, chính trực” vào lòng”.

Lời dạy của Người thật giản dị mà thấm thía.

Chuyện cả họ làm quan ở Mỹ Đức là bài học thực tiễn sinh động cho công tác tổ chức cán bộ hiện nay.

Thời đại HCM “rực rỡ” so với thời phong kiến cổ

Hơn 500 về trước, vua Lê Thánh Tông đã từng đặt ra chế độ hồi tỵ để trị nạn bè phái, “một người làm qua cả họ được nhờ” với một số nội dung cơ bản như:

– Không được bổ nhiệm một viên quan về cai trị huyện hoặc tỉnh mà ông ta xuất thân từ đó.

– Không được bổ nhiệm một viên quan tới nơi ông ta có người họ hàng tại nhiệm ở vị trí lãnh đạo.

– Trong thời gian trị nhậm tại một tỉnh hoặc một huyện, một viên quan không được cưới vợ, lấy thiếp là người của địa hạt đó.

– Một viên quan không được phép tại vị quá lâu ở cùng một địa phương hoặc cùng một viện, bộ chức năng.

Các vua triều Nguyễn sau này như Minh Mạng, Thiệu Trị tiếp tục kế thừa tư tưởng của vua Lê Thánh Tông, cũng đã ban hành luật Hồi tỵ vào năm 1831 nhưng với phạm vi, đối tượng áp dụng mở rộng hơn, quy định nghiêm ngặt hơn so với thời vua Lê Thánh Tông.

Đã đến lúc chúng ta cũng phải noi gương tiền nhân, xây dựng các thiết chế tổ chức bộ máy hành chính cũng như chế độ, chính sách quản lý đội ngũ cán bộ công chức minh bạch, hiệu quả; hạn chế tối đa vấn nạn “Một người làm quan cả họ được nhờ” nhằm phát huy nội lực, trọng dụng nhân tài, đáp ứng nhu cầu quản lý và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng của đất nước. Một chế độ hồi tỵ mới, tại sao không?

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s