Thôi đi, đừng nhân danh tương lai nữa!

Posted: September 28, 2015 in Uncategorized
Tags:

Đào Tuấn (LĐ) – Ở ga trăm tỉ Hạ Long, PV một tờ báo “chộp” được hình ảnh “đàn bò nhẩn nha gặm cỏ trong sân ga, người chăn bò dựa lưng cây cột điện ngủ ngon lành”. Theo tính toán, mỗi chuyến tàu tới đây lỗ chẵn 10 triệu đồng do bộ máy cồng kềnh và gánh đủ các loại chi phí. Thậm chí, mỗi chuyến tàu dẫu hoành tráng nhưng doanh thu không bằng một… xe khách.

� Xem thêm: Nợ công tính lại đã lên 66,4% GDP


Ga Hạ Long hiện đại, được đầu tư lớn nhưng mỗi ngày chỉ đón vài chục khách.

Nguyên do: Hàng hóa sẽ đội chi phí rất lớn nếu phải chuyển từ tàu chạy đường ray khổ 1m sang khổ 1,435m ở tuyến này.

Thành phố mới Bình Dương với công suất “125.000 người định cư và hơn 400.000 người thường xuyên đến làm việc” thì thênh thang một chiếc cổng nhưng cỏ lác thì um tùm, đường sá thì heo hút đìu hiu không một bóng người. Nguyên do, nói một cách mỹ miều là vì “tầm nhìn quá xa so với thực tiễn”.

Còn ở Bà Rịa – Vũng Tàu, từ Trung tâm Chăm sóc sức khỏe sinh sản cho đến Trường Mầm non Bưng Riềng, cơ ngơi thì hoành tráng nhưng không có đường vào. Tháng tháng, khi bệnh viện hay trường học chưa kịp trả tiền thuê đường, chủ đất bèn kéo rào cho “nội bất xuất, ngoại bất nhập”. Nguyên do việc con đường đang tắc tị, theo Chủ tịch UBND TP.Bà Rịa Nguyễn Văn Hoàng, vì “liên quan đến giá đất đền bù” đang chờ phê duyệt.

3 câu chuyện ở 3 miền đất nước đang chỉ cho thấy những bất cập quanh hai chữ “đồng bộ” tưởng đáng lẽ là đương nhiên. Và, nói một cách công bằng, cho thấy “tầm nhìn”, “tầm trách nhiệm” bảo là quá xa nhưng “không quá lỗ mũi”.

Một đường ray khổ 1,435m có thể là nhìn xa cho tương lai. Nhưng cái tầm nhìn không căn cứ vào thực tế là khổ ray chung trên toàn quốc vẫn là 1m đang khiến hàng trăm tỉ đồng – không thể gọi khác – bị lãng phí nghiêm trọng. Lãng phí trong khi thiếu vốn vẫn là căn bệnh trầm kha không chỉ của ngành đường sắt, không chỉ của ngành GTVT.

Một thành phố, có thể là cách hướng tới tương lai. Nhưng với giá đất được cho là “cắt cổ” đang gần như bị bỏ hoang, có vẻ như đang quá vô duyên lạc lõng với thực tế là hàng ngàn công nhân Khu công nghiệp Bình Dương đang sống trong một diện tích thuê trọ còn “tối thiểu” hơn cả diện tích người ta dùng để nuôi một con bò sữa!

Còn những công sở bịt bùng không đường vào vì phải chờ phê duyệt giá đền bù có lẽ là chuyện “chỉ có ở Việt Nam” khi làm lấy được, đầu tư lấy được, xây dựng lấy được vẫn là chuyện phổ biến mà ngay cả Bộ trưởng Bộ KHĐT có lần cũng than khổ!

Nếu là người dân, bằng tiền túi của mình, có bao giờ đầu tư, xây dựng những ga tàu ma, những thành phố ma, những công sở bịt bùng như thế – dẫu là nhân danh tương lai, nhân danh tầm nhìn xa?!

[:-/] Ga trăm tỉ mỗi ngày đón… vài chục khách (LĐ) – Khánh thành cách đây khoảng một năm, ga Hạ Long (nằm ở phường Giếng Đáy, TP.Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh) trông bề thế, hoành tráng nhưng mỗi ngày chỉ đưa đón, phục vụ vài chục hành khách và chút ít hàng hóa. Những bất cập về hệ thống đường sắt và sự bùng nổ của dịch vụ vận tải đường bộ, đường thủy thuận tiện hơn, rẻ hơn khiến ga Hạ Long được đầu tư với số vốn khổng lồ lên đến hàng trăm tỉ đồng hiện đang trở thành lãng phí.

Ga Hạ Long được nâng cấp trên cơ sở ga cũ, theo dự án đầu tư cải tạo, nâng cấp tuyến đường sắt Yên Viên – Phả Lại – Hạ Long – Cái Lân dài 130km, bằng nguồn vốn trái phiếu chính phủ, với tổng vốn khoảng 7.000 tỉ đồng. Được khởi công từ năm 2005, nhưng do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, nhiều hợp phần của dự án phải dãn tiến độ, trừ tiểu dự án 1 gồm ga Hạ Long – ga cảng Cái Lân và cầu vượt Bàn Cờ, trị giá 1.510 tỉ đồng. Nếu như bến xe khách Bãi Cháy lúc nào cũng tấp nập, ga Hạ Long gần như cả ngày lặng lẽ. Khuôn viên thênh thang, trụ sở khang sang hiện đại 2 tầng với vô số phòng lúc nào cũng cửa đóng, then cài. Mốc meo, bụi bặm phủ khắp nơi, thậm chí ở cả phòng đợi khách – nơi cho thấy mức độ “đông đúc” của nhà ga này như thế nào.

Chúng tôi đi tới đi lui, đi lên đi xuống nhưng cũng chẳng thấy ai đón tiếp, hỏi han. Chị bán vé chỉ còn biết ngồi làm bạn với chiếc điện thoại, thỉnh thoảng ngáp vặt. “Trung bình mỗi ngày chỉ bán được khoảng 40 – 50 vé thôi anh ạ” – chị lắc đầu. Bên ngoài, sân ga hiện đại với các đường tàu đủ năng lực đón cùng một lúc vài đoàn tàu không một bóng người, ngoài người chăn bò. Gió thu hiu hiu mát, mặc đàn bò nhẩn nha gặm cỏ trong sân ga, người chăn bò dựa lưng vào cây cột điện, ngủ ngon lành.

[:-/] Biệt thự trăm tỷ giữa Đà Nẵng thành khu ‘nhà ma’ (VNN) – Được đầu tư hơn 160 tỷ đồng nhưng 12 biệt thự bên sông Hàn đang xuống cấp và hoang tàn. Người dân gọi đây là khu “nhà ma” giữa thành phố.


Khu biệt thự này nằm ở cụm thể thao Tuyên Sơn (quận Hải Châu) dành cho
các chuyên gia, huấn luyện viên thể thao thành tích cao của Đà Nẵng.


Năm 2007, toàn bộ cơ sở vật chất, hạ tầng ở đây được bàn giao lại cho một ngân hàng
theo chủ trương xã hội hóa đội bóng với kinh phí hơn 160 tỷ đồng.


Cũng từ đó, các chuyên gia ít dần và nơi đây trở thành khu hoang tàn. Người dân sống gần đó gọi đây
là “biệt thự ma”. Cả ngày lẫn đêm, cung đường này luôn vắng người qua lại còn bên trong khuôn viên nhếch nhác.

Nợ công tính lại đã lên 66,4% GDP

Tư Hoàng (TBKTSG) – Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán lại, nợ công trong năm 2014, nếu tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng là 5% nợ công trong nước thì sẽ là 66,4% GDP, chênh lệch tới 6,5 điểm phần trăm so với mức nợ công 59,9% GDP đã được công bố.


Nếu tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng là 5% thì nợ công trong nước sẽ là 66,4% GDP. Ảnh TL

Trong nhiều báo cáo gửi tới các kỳ họp Quốc hội gần đây, Chính phủ đều khẳng định nợ công vẫn ở mức an toàn. Theo Luật Quản lý nợ công 2009, phạm vi tính nợ công bao gồm nợ chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh, nợ của chính quyền địa phương.

Như vậy, phạm vi xác định nợ công của Việt Nam khác với Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) và Ngân hàng Thế giới (WB) là không bao gồm ba khoản nợ: nợ Ngân hàng Nhà nước (NHNN), nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) và nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội.

Thay đổi cách tính

Từ thực tế này, một báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về nợ công cho rằng, phạm vi xác định nợ công theo Luật Quản lý nợ công còn có một số bất cập và chưa tính đầy đủ một số khoản nợ có bản chất là nợ công, làm ảnh hưởng đến sự chính xác và cập nhật của số liệu nợ công.

Bộ này phân tích sự khác nhau giữa cách tính nợ công của Việt Nam và các tổ chức quốc tế như sau:

Thứ nhất, về nợ NHNN. Theo luật, NHNN không có chức năng thực hiện các khoản vay thay Chính phủ và các khoản vay nợ khác có bản chất nợ công (trên thực tế, NHNN được Nhà nước ủy quyền để đàm phán và ký kết các khoản nợ); các khoản nợ NHNN chỉ là công cụ của chính sách tiền tệ không phải để chi tiêu, không có rủi ro thanh toán vỡ nợ, không được tính vào nợ công là hợp lý.

Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất ngưỡng nợ công phù hợp bình quân giai đoạn 2015-2020 là 68% GDP.

Thứ hai, về nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội. Hiện nay quỹ bảo hiểm xã hội (BHXH), bảo hiểm y tế (BHYT) còn kết dư nên chưa phát sinh nợ vay. Khi quỹ BHXH, BHYT mất cân đối thu chi dẫn đến phải vay nợ để chi trả bảo hiểm thì Chính phủ phải đảm bảo nghĩa vụ thanh toán cuối cùng nếu các tổ chức này không trả được nợ. Do đó, về bản chất nợ của các tổ chức BHXH, BHYT cần được tính vào nợ công.

Thứ ba, về nợ của DNNN và các tổ chức tài chính – tín dụng của Nhà nước. Nếu tính toàn bộ nợ phải trả của khu vực DNNN vào nợ công thì tính thừa (bị trùng lắp với số nợ đã được Chính phủ bảo lãnh, tính cả số nợ DNNN có khả năng trả nợ và tính cả số nợ mà chưa phát sinh nghĩa vụ trả thay của Nhà nước). Nếu loại bỏ hoàn toàn nợ của khu vực DNNN ra khỏi nợ công thì tính thiếu (chưa tính đủ các khoản nợ có bản chất nợ công và các khoản nợ xấu mất khả năng thanh toán mà Nhà nước phải trả thay sẽ chuyển thành nợ công).

Do vậy, chỉ nên tính vào nợ công số nợ mà DNNN không có khả năng thanh toán, buộc Chính phủ phải có nghĩa vụ thanh toán thay và các khoản nợ ngầm định khác.

Đối với các khoản nợ phải trả của Ngân hàng Chính sách xã hội và Ngân hàng Phát triển Việt Nam (các khoản nhận tiền gửi, tiền vay và các khoản nợ phải trả khác, trừ các khoản phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh), không tính vào nợ công là không phù hợp. Theo điều lệ, các tổ chức này hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận và được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán.

Từ thực tế trên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư tính toán lại, nợ công nếu tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng là 5% nợ công trong nước (49.500 tỉ đồng, hay 1,38% GDP) thì sẽ là 2,656 triệu tỉ đồng, hay 66,4% GDP trong năm 2014. Như vậy, sẽ chênh lệch tới 6,5 điểm phần trăm so với nợ công được công bố. Nợ công, theo Luật Quản lý nợ công là 2,395 triệu tỉ đồng, hay 59,9% GDP đến cuối năm 2014.

Thêm tiêu chí đánh giá an toàn nợ công

Báo cáo của Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng nhận xét, các báo cáo của các cơ quan quản lý về nợ công chỉ công bố chỉ tiêu “nghĩa vụ trả nợ chính phủ/tổng thu ngân sách”, mà không công bố chỉ tiêu “nghĩa vụ trả nợ công/tổng thu ngân sách”, dẫn đến kết quả đánh giá mức độ rủi ro trả nợ công chưa đầy đủ.

Vì vậy, Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề xuất thêm các tiêu chí đánh giá mức độ an toàn nợ công Việt Nam như khả năng trả nợ bằng nguồn thu ngân sách (tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ công so với tổng thu ngân sách hàng năm); mức độ bội thu hoặc bội chi ngân sách hàng năm; tỷ lệ nợ công/GDP; các tiêu chí khác: chất lượng và rủi ro nợ công; mức độ năm chỉ tiêu an toàn nợ nước ngoài theo tiêu chí của IMF/WB; hiệu quả sử dụng vốn đầu tư phát triển; hệ số tín nhiệm của quốc gia…

Báo cáo của bộ này đánh giá khả năng trả nợ từ nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN) còn hạn chế, và nợ công còn tiềm ẩn nhiều rủi ro nên mức độ an toàn nợ công là không bền vững. Bộ này cũng phân tích các chỉ tiêu về khả năng trả nợ.

Chẳng hạn, nghĩa vụ trả nợ trên tổng thu ngân sách lớn hơn 30% (giai đoạn 2013- 2015 lần lượt là 33%, 38%, 45%). Bội chi ngân sách liên tục 10 năm (bình quân giai đoạn 2006- 2015 là âm 5,43% GDP). Bội chi lớn hơn chi đầu tư phát triển (năm 2014, 2015 tương ứng là 54,9 và 31.000 tỉ đồng). Chi thường xuyên nhỏ hơn thu từ thuế, phí và lệ phí (năm 2014, 2015 tương ứng là 74,8 và 14.100 tỉ đồng).

Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho biết, tỷ lệ tổng nghĩa vụ trả nợ công/thu NSNN lên tới gần 38% trong năm 2014 và 45% năm 2015; tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ chính phủ/thu NSNN vào khoảng gần 26% năm 2014 và 32% năm 2015. Điều này cho thấy, các tỷ lệ trả nợ đang ở mức cao và có xu hướng tăng, ảnh hưởng lớn đến sự an toàn nợ công.

Bên cạnh đó, cân đối nguồn trả nợ trong NSNN không đủ, vay để trả nợ gốc ngày càng tăng. Vay trả nợ gốc năm 2014 gần 80.000 tỉ đồng; năm 2015 là 130.000 tỉ tồng

Hơn nữa, tỷ lệ nợ công/GDP của Việt Nam cao hơn nhiều so với mức bình quân của các nước đang phát triển và các nước trong khu vực.

Cuối cùng, Việt Nam có thu nhập trung bình thấp, dân số đang già hóa nhanh, năng suất lao động bình quân thấp và giảm dần gây áp lực tăng nợ công.

Tuy nhiên, Bộ Kế hoạch và Đầu tư vẫn cho rằng, rủi ro vỡ nợ của Việt Nam là thấp. Bộ này lý giải, nợ vay trong nước (năm 2013 là 51%, năm 2014 là 54%) có tỷ trọng cao hơn nợ vay nước ngoài, có xu hướng tăng, tuy kỳ hạn nợ ngắn phải đảo nợ nhưng mức độ đảm bảo thanh toán cao. Bên cạnh đó, nợ vay nước ngoài (năm 2013 là 49%, năm 2014 là 46%) có tỷ trọng thấp hơn nợ vay trong nước, có xu hướng giảm và mức độ rủi ro rất thấp so với tiêu chuẩn an toàn của IMF và WB. Bộ này cho rằng, rủi ro rút vốn của nợ nước ngoài rất thấp, nên an ninh tài chính quốc gia đảm bảo. Vì lẽ đó, bộ đề xuất ngưỡng nợ công phù hợp bình quân giai đoạn 2015-2020 là 68% GDP.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s