Chuyện “làm quan” xưa và nay

Posted: October 1, 2015 in Uncategorized
Tags:

Xuân Hùng (Dân Luận) – Trong lịch sử Việt Nam, việc tìm kiếm, tuyển chọn, bồi dưỡng người có tài, có đức để ra làm quan, phò vua, giúp nước, luôn được các triều đại phong kiến chú trọng. Ngày nay việc bổ nhiệm cán bộ có rất nhiều bất cập, thiếu minh bạch, thiếu công khai, không công bằng dẫn đến chọn không đúng người, làm đúng việc. Theo nhà Nghiên cứu lịch sử, văn hóa Nguyễn Đắc Xuân: Quan chế thời phong kiến ở Việt Nam có những quy định nghiêm ngặt về tuyển chọn, đào tạo, bổ nhiệm người tài, đức ra làm quan mà có thể còn tường minh và nghiêm minh hơn thời nay.

� Xem thêm: Truy tìm bí kíp ‘ngẫu nhiên cả họ làm quan’ + Con cháu các cụ với tài năng “hót hay nhảy giỏi”

“Quan” là một khái niệm thuộc chế độ phong kiến, ngày nay được gọi là cán bộ hay viên chức, công chức nhà nước. Quan xưa là cha mẹ dân. Cán bộ nay là Công bộc của dân hay đầy tớ của dân – đó chỉ là mỹ từ, gọi cho đúng phải là “quan chức”. Quan niệm “Một người làm quan, cả họ được nhờ” thường được dùng trong chế độ phong kiến, nhưng đến nay quan niệm này rất phổ biến ở Việt Nam hiện tại, thậm chí còn được nâng cấp thành “Một người làm quan, kéo cả họ làm quan”.

Thời xưa

Thời Lý – Trần, nguyên tắc “liên kết dòng họ” được coi là nhất quán để xây dựng một thể chế chính trị quân chủ quý tộc bền vững. Hầu hết các trọng trách ở bộ máy trung ương đều do người trong hoàng tộc nắm giữ. Chế độ thừa ấm bảo đảm con quan được làm quan, Điều này còn được thể chế trong pháp luật dưới thời Trần Thái Tông: “Người có quan tước, con cháu được thừa ấn mới được vào làm quan; người giàu khỏe mạnh mà không có quan tước thì xung quân, đời đời làm lính”. Cách sử dụng, bổ nhiệm quan lại của nhà nước Lý – Trần đã phản ánh rõ nét tính phân biệt đẳng cấp. Tưởng chừng mô hình nhà nước được xây dựng trên cơ sở cao nhất là nguyên tắc liên kết dòng họ, chế độ thừa ấm sẽ bảo đảm sự vững mạnh, đảm bảo sự ổn định ngay trong nội bộ vương triều. Nhưng rồi cũng đi đến sụp đổ. Nó sụp đổ từ bên trong. Đây cũng là hướng sụp đổ chung của mọi chế độ chuyên chế, độc tài.

Sang thời Lê – Nguyễn, xây dựng mô hình nhà nước chuyên chế theo tư tưởng nho giáo, quyền lực tập trung vào tay vua. Đến triều Nguyễn khi bộ máy chuyên chế gần như hoàn thiện, chế độ thừa ấm bị bãi bỏ, dù là hoàng thân quốc thích nhưng không có tài, không đỗ đạt, không được ra làm quan dù vẫn hưởng bổng lộc. Khoa cử là con đường chính và phổ biến để lựa chọn và bổ nhiệm quan lại. Quan lại được coi là phụ mẫu chi dân (cha mẹ dân). Người làm quan phải có nghĩa vụ với Vua, với Dân và với chính mình. Làm quan phải thanh liêm, gương mẫu trong mọi việc để dân chúng noi theo. Đối với công vụ, phải cần mẫn, siêng năng. Để tránh việc quan lại lạm quyền cho việc riêng tư dòng họ, từ triều Lê Thanh Tông còn đặt ra qui định hồi tỵ.

Quan chế dưới thời phong kiến rất khắt khe, việc lợi dụng chức quyền đưa con cháu vào làm quan, trao đổi quyền lực, kết thông gia, nâng đỡ qua lại nếu bị phát hiện sẽ bị nghiêm trị, có khi liên đới cả họ. Nên một người làm quan cả họ được nhờ thật đấy, nhưng gây ra họa có thể bị tội diệt tộc – tru di tam tộc.

Tùy chế độ “quan chế” khắt khe nhưng vẫn có nhiều viên quan tham ô, hà hiếp dân chúng và bị nhân dân phê phán, lên án. Câu ca dao “Con ơi nhớ lấy câu này/Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan”, tưởng chừng chỉ ứng trong chế độ phong kiến, nhưng xem ra đến nay vẫn còn nguyên giá trị.

Thời nay

Tuy chế độ quan lại thời phong kiến có nhiều hạn chế, nhưng nếu so với thời nay thì cũng còn nhiều điều cần bàn, có cái tiến bộ nhưng cũng không ít cái thụt lùi, thậm chí nếu đánh giá chung có thể nay không bằng xưa.

Cố Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Ngoài lợi ích của dân tộc, của Tổ quốc thì Đảng không có lợi ích gì khác”, Đảng không phải là tổ chức làm quan phát tài. Lợi ích của Đảng là lợi ích dân tộc, nên yêu cầu: “Vô luận lúc nào, vô luận việc gì, đảng viên và cán bộ phải đặt lợi ích của Đảng ra trước. Đó là nguyên tắc cao nhất của Đảng. Đó là tính Đảng”, và đề ra năm đức của cán bộ, đảng viên là Nhân, Nghĩa, Trí, Dũng, Liêm.

Nhưng xem ra đó chỉ là nói mà thôi, còn thực tế thì sao?

Chuyện cả họ làm quan ở huyện Mỹ Đức (ngay ở thủ đô Hà Nội) không phải là một hiện tượng đơn lẻ. Phải thừa nhận rằng nó dường như rất phổ biến trong xã hội ngày nay, ở mọi cơ quan ban ngành, từ Trung ương đến địa phương.

Chuyện Ông Lê Phước Hoài Bảo, 30 tuổi (con Bí thư Tỉnh ủy Quảng Nam Lê Phước Thanh) vừa được bổ nhiệm làm Giám đốc Sở Kế hoạch – Đầu tư tỉnh Quảng Nam. Một việc bổ nhiệm được cho là đúng quy trình, khách quan… nhưng lại làm dư luận nóng lên, và đặt nhiều nghi vấn.

Chuyện các vị lãnh đạo đưa con, cháu vào các chức vụ quan trọng trong bộ máy nhà nước để kế nghiệp mình là chuyện hết sức bình thường trong chế độ này. Lấy một vài ví dụ như: Nguyễn Thanh Nghị, Nguyễn Minh Triết, Lê Anh Tuấn, Vũ Đại Thắng, Trần Quốc Tỏ, Trần Sĩ Thanh, Bạch Ngọc Chiến, Lê Trương Hải Hiếu… Đó mới chỉ nói ở trung ương còn ở cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã thì kể không hết. Thực ra những việc như trên nó đã là một nguyên tắc, nhằm xây dựng được một đội ngũ để duy trì và củng cố quyền lực của giai cấp thống trị mới.

Vì thế gần như tất yếu, những người có công trong cách mạng, trong các cuộc kháng chiến, vốn xuất thân phần lớn từ giai cấp nông dân và công nhân, được chọn để đào tạo trở những thành lãnh đạo và được bổ nhiệm nắm giữ các chức vụ chủ chốt trong chính quyền. Rồi con cháu họ cứ nối tiếp cha ông mình để ngồi trên thiên hạ. Từ đó, một tầng lớp thống trị mới được hình thành, được hưởng những đặc quyền đặc lợi. Cũng từ đó hình thành những nhóm gia đình quyền lực về kinh tế và chính trị để lũng đoạn hệ thống nhà nước. Và cũng từ đó mâu thuẩn nội bộ giữ các nhóm, các tập đoàn ngày càng gay gắt. Các cuộc tranh quyền, đoạt lợi luôn sảy ra.

Hình thái xã hội này là gì? Về mặt hình thức, vẫn tuyên bố đi theo chủ nghĩa xã hội, một xã hội công hữu về tư liệu sản xuất. Nhưng thực sự ra nó là một biến thể của chế độ quân chủ chuyên chế – có thể tạm gọi là chế độ chuyên chế tập thể, hay tương tự!. Trong đó, thay vì xưa kia quyền lực tập trung vào tay vua thì nay phân ra cho một nhóm vua – các ủy viên bộ chính trị.

Nguyên tắc “liên kết dòng họ” dưới thời Lý – Trần đã và đang trở lại, là đặc thù của xã hội thời nay. Lợi ích gia đình, dòng họ, nhóm, luôn được đặt trên lợi ích dân tộc. Nó đem đến biết bao là hệ lụy nặng nề, là rào cản đối với tiến trình dân chủ hóa và mọi sự phát triển của đất nước.

Truy tìm bí kíp ‘ngẫu nhiên cả họ làm quan’

Nguyễn Anh Thi (VNN) – Phải chăng đây là một hiện tượng đặc sắc mà các nhà nghiên cứu cần dày công tìm tòi để rút ra bí kíp phổ biến rộng rãi cho người dân học hỏi?

Theo thông tin của lãnh đạo thành phố Hà Nội, vụ việc liên quan đến “cả họ làm quan” tại huyện Mỹ Đức mới đây chỉ là ngẫu nhiên và đúng quy trình. Câu “ngẫu nhiên” này sao mà thân thuộc, từa tựa như câu “đúng quy trình” đã nghe… mòn tai.

Bí kíp nào để ngẫu nhiên cả họ làm quan?

Nhìn vào lịch sử dân tộc, không phải không có những dòng họ làm quan. Ví như  họ Nguyễn Tiên Điền ở Hà Tĩnh, dòng họ đã cống hiến cho dân tộc Việt đại thi hào Nguyễn Du, nổi tiếng với câu ca dao: “Bao giờ ngàn Hống hết cây, Sông Rum hết nước, họ này hết quan”.

Chỉ có điều dòng họ Nguyễn Tiên Điền được dân tin phục, bởi làm quan nhưng đa phần người của dòng họ này đều dòng dõi khoa bảng. Họ làm quan do tài năng, khả năng học vấn cao, làm nhiều việc ích nước lợi dân.

Hơn nữa, để có một dòng họ làm quan ghi dấu ấn như họ Nguyễn Tiên Điền, không đơn giản chỉ trong một đời mà cả quá trình rất lâu dài.  Xét từ thời Nguyễn Nhiệm đến đời Nguyễn Thế, 4 đời đầu, cứ tuần tự nhi tiến, chưa có gì hưng phát, nổi bật. Từ đời thứ 6 thì dòng họ Nguyễn Tiên Điền bước vào thời kỳ cực thịnh, phát danh về con đường khoa bảng. Thời Lê – Nguyễn, Tiên Điền có 6 người đỗ đại khoa thì 4 người trong số đó đều là người họ Nguyễn. Dưới thời Lê – Trịnh, họ Nguyễn có khoảng 40 người làm quan, nổi tiếng nhất vẫn là hai cha con Nguyễn Nghiễm và Nguyễn Khản, đều đỗ đại khoa, từng đảm đương những chức vụ cao nhất nhì trong triều Lê – Trịnh.

Những cái tên “vang bóng một thời” là minh chứng rõ nét nhất cho dòng họ khoa bảng này như: Lĩnh Nam công Nguyễn Quỳnh, Nguyễn Huệ (tiến sĩ), Nguyễn Nghiễm (hoàng giáp), Nguyễn Khản (tiến sĩ), Nguyễn Điều (phó bảng), Nguyễn Tán (tiến sĩ), Nguyễn Mai (tiến sĩ)…

Tính ra thì mất cả trăm năm rèn giũa, nuôi dạy con cháu đèn sách, nhắc nhở giữ nếp nhà khoa bảng, dòng họ Nguyễn Tiên Điền mới có thể có chừng đó vị quan. Rõ ràng, tài đến như họ Nguyễn Tiên Điền mà cũng chưa thấy “ngẫu nhiên” làm quan được.

Nay “ngẫu nhiên cả họ làm quan” trong ngay một, hai thế hệ của dòng họ Lê tại huyện Mỹ Đức Hà Nội và chắc còn ở một số nơi khác trên cả nước, phải chăng là một hiện tượng đặc sắc mà các nhà nghiên cứu cần dày công tìm tòi để rút ra bí kíp phổ biến rộng rãi cho người dân học hỏi? Bởi có ai lại không thích cả họ nhà mình cũng được vinh hiển, được thăng quan tiến chức. Nếu có bí kíp rút ngắn thời gian khiến nhà nhà làm quan, họ họ làm quan, chắc bỏ vàng mười cũng vô số người muốn mua.

cả họ làm quan, Mỹ Đức, Quảng Nam, Hà Nội, Singapore, nhân tài
Có bí kíp nào để “ngẫu nhiên cả họ làm quan”?

Đương nhiên cả làng làm dân?

Trở lại câu chuyện “ngẫu nhiên cả họ làm quan” thì có thể hiểu rằng nếu không có bí kíp nào, hay không có tiền mua bí kíp thì đa phần các gia đình sẽ tiếp tục sống cuộc sống “đương nhiên làm dân”. Chỉ có điều đáng tiếc là trong số những dòng họ “đương nhiên làm dân” này chắc chắn không thiếu nhân tài. Nếu những nhân tài đó được phát huy tài năng, trau dồi năng lực, kinh qua các vị trí quan trọng thì có rất nhiều cơ hội giúp dân giàu nước mạnh.

Bàn về người tài, chúng ta dễ liên tưởng đến Singapore, một đất nước mà trong thành công có được ngày nay không thể không kể đến chính sách trọng dụng nhân tài nổi tiếng. Lãnh đạo quốc đảo sư tử dùng người tài để phục vụ mục tiêu chung của dân tộc với tiêu chí đánh giá năng lực rõ ràng, có cơ chế tốt để hấp dẫn và khuyến khích người tài.

Tiêu chí đánh giá năng lực của Singapore bao gồm: những thành tựu đã được công nhận, khát vọng cống hiến và thư giới thiệu, đánh giá của những người có uy tín trong xã hội. Một người muốn được thăng chức, ngoài những kết quả đã đạt được, phải có thư đánh giá của 6 người có uy tín ở bên ngoài cơ quan, không có họ hàng hay quyền lợi gì liên quan. Ngoài ra, cơ quan cũng tự tìm những người khác đánh giá về cá nhân này để đảm bảo tính khách quan và đúng đắn trong việc nhìn nhận một con người.

Lại trộm nghĩ, nếu một người tài ở VN mà không có quan hệ quen biết, không có “ngẫu nhiên” cả họ làm quan… mà đi xin thư đánh giá khách quan của 6 người như trên để thăng tiến, thì liệu có xin được không nhỉ?

Và vì thế nên ta vẫn có những chuyện “ngẫu nhiên cả họ làm quan” và “đương nhiên cả làng làm dân” mà thôi.

Con cháu các cụ với tài năng “hót hay nhảy giỏi”

Lê Dung (SBTN/VNTB ) – Năm 2015, tình cảnh giới quan chức VN trở nên đặc biệt hơn hẳn so với những năm trước. Hai hiện tượng chính trị – tâm lý xã hội xảy ra song trùng: hàng loạt quan chức “tự nguyện’’ nghỉ trước tuổi, và hàng loạt nhân vật “tuổi trẻ tài cao’’ được bổ nhiệm trước “thâm niên’’.


Con sãi ở chùa lại quét lá đa…

Ngay sau sự kiện Lê Phước Hoài Bảo – con trai ruột của Bí thư tỉnh ủy Quảng Nam – trở thành vận động viên nhảy xa lập kỷ lục “giám đốc sở trẻ nhất Việt Nam’’, báo chí nhà nước đã nhân sở thích chơi chim của nhân vật “tuổi trẻ tài cao’’ này mà gán cho anh ta một biệt hiệu chết cứng: ‘’Hót hay nhảy giỏi’’.

“Hót hay nhảy giỏi’’ lại là thành ngữ dân gian quá thích hợp đối với giới quan chức ưa chạy chức thời nay. Chính Trưởng ban tổ chức trung ương Tô Huy Rứa đã phải “ngậm ngùi’’ thừa nhận vấn nạn này, tuy cho tới giờ từ Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng trở xuống, không một ai làm được gì để ngăn chặn cảnh nạn ô uế đó.

Trước đây, đã có lúc ái nữ sinh năm 1988 của ông Tô Huy Rứa là Tô Linh Hương được đặc cách bổ nhiệm Chủ tịch Hội đồng quản trị công ty Vinaconex. Vụ việc này ngay lập tức gây ra quá nhiều tai tiếng cho ông bố ủy viên bộ chính trị, khiến chỉ sau đó mấy tháng, ông Rứa phải chủ động “rút’’ con gái mình ra khỏi vị trí đặc cách này.

Nhưng sau Tô Linh Hương, lại xảy ra hàng loạt “cậu ấm’’ khác được “nhảy rào’’ khiến dư luận và cả giới cách mạng lão thành không ngớt lời chỉ trích: Nguyễn Minh Triết – con trai út của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng, Nguyễn Bá Cảnh – con trai của Trưởng ban nội chính đã quá cố Nguyễn Bá Thanh, hay gần đây là Lê Trương Hải Hiếu – con trai của ông Lê Thanh Hải, Bí thư thành ủy Sài Gòn…

Dường như đang diễn ra hội chứng “hốt cú chót’’, vào thời buổi hỗn quân hỗn quan cuối cùng, và giới chính khách VN chẳng thể biết số phận mình sẽ xoay vần hay bị định đoạt ra sao trong vài năm tới. Hiện tượng này có vẻ khá tương đồng với hàng loạt dự án “ăn đủ’’ xảy ra ở nhiều địa phương, như dự án sách giáo khoa điện tử ở Sài Gòn, dự án bảo tàng 11,000 tỷ đồng, đề án sách giáo khoa lên đến 34,000 tỷ (sau đó rút xuống còn… 400 tỷ) của Bộ giáo dục và đào tạo, tượng đài Hồ Chí Minh 1,400 tỷ ở Sơn La…

Trong khi đó, lại diễn ra một làn sóng âm thầm nghỉ trước tuổi mà mở đầu là người được xem là có lòng tự trọng nhất – Bí thư thành ủy Hội An Nguyễn Sự. Sau đó là một loạt quan chức có thể ít lòng tự trọng hơn nhiều – các quan huyện ở Hà Nội, Thái Nguyên và gần đây là bí thư tỉnh ủy Quảng Nam.

“Chưa thấy quan tài chưa đổ lệ’’ cũng là một thành ngữ dân gian truyền thống nhưng lại chưa hề mất tính thời sự ở VN. Những cán bộ kiểu “tuổi trẻ tài cao’’ đang được phóng lên vị trí quá tầm hẳn chưa thể và chưa có điều kiện để trải nghiệm tính sắt son của thành ngữ này. Đặc biệt càng không thấm trải việc chính trường VN cay nghiệt và dã man đến thế nào, trong bối cảnh các lực lượng chính trị triệt hạ nhau không chút nương tay trước kỳ đại hội.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s