Tập Cận Bình : Tôi nói mấy anh Hà Nội có nghe rõ không ?

Posted: October 2, 2015 in Uncategorized
Tags:

Phạm Trần (Basam) theo VietCatholic – Ngày mồng Hai tháng Chín năm 1945, tại cuộc mít tinh Tuyên bố Độc lập ở Qủang trường Ba Đình, ông Hồ Chí Minh đã để lại câu nói lịch sử : “Tôi nói, đồng bào có nghe rõ không?” Bây giờ, 70 năm sau, ngày 25/09/2015 người ta cũng mường tượng nghe thấy Lãnh tụ Trung Quốc Tập Cận Bình đã nói từ Dinh Tổng thống Mỹ:”Tôi nói, mấy anh Hà Nội có nghe rõ không ?”

� Xem thêm: Những thách thức mới của lãnh đạo VN trong vấn đề Biển Đông + Đã đến lúc khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế!

Vậy họ Tập đã nói gì mà nghe quen quen ?

Câu chuyện bắt đầu từ cuộc họp báo chung giữa Tổng thống Barack Obama và ông Tập Cận Bình diễn ra tại vườn Hồng trong Tòa Bạch Ốc, tiếp theo sau cuộc họp riêng giữa hai người nhân chuyến thăm chính thức nước Mỹ của họ Tập.

Hai lãnh tụ đã thảo luận các vấn đề quan tâm đến hai nước, từ mậu dịch đến nghi ngờ Trung Quốc đứng sau hàng loạt tin tặc xâm nhập các công ty, xí nghiệp Mỹ họat động ở Trung Quốc và Hoa Kỷ để đánh cắp tin tức và kế họach giúp cho Trung Quốc cạnh tranh bất chính. Trên 22 triệu nhân viên Chính phủ Mỹ và một số cơ quan trọng yếu về an ninh như hai Bộ Quốc phòng và An ninh Quốc gia, bao gồm cả CIA (Tình báo Hoa Kỳ), FBI (cơ quan điều tra liên bang Hoa Kỳ) cũng bị xâm nhập.

Ngòai ra hai bên cũng thảo luận và đồng ý kế họach gỉam thiểu chất độc làm ô nhiễm khí hậu và hứa cùng nhau hợp tác giải quyết cuộc khủng hỏang về môi trường và khí hậu trên thế giới.

CHUYỆN BIỂN ĐÔNG

Đến chuyện khủng hoảng ở Biển Đông do hành động bồi đắp và bành trướng lãnh thổ của Bắc Kinh gây ra, Tổng thống Obama cho biết: “ Chúng tôi đã thẳng thắn thảo luận vấn đề biển Đông và Nam Trung Hoa, và tôi đã tái khẳng định quyền của mọi quốc gia được tự do giao thông thương mại trên biển và trên không không bị ngăn cản. Do đó, tôi đã lưu ý là Hoa Kỳ sẽ tiếp tục lướt sóng, bay và họat động bất cứ nơi nào mà luật pháp Quốc tế cho phép.”

(”We did have candid discussions on the East and South China Seas, and I reiterated the right of all countries to freedom of navigation and overflight and to unimpeded commerce. As such, I indicated that the United States will continue to sail, fly and operate anywhere that international law allows.” (Thông tin của Văn phòng Báo chí Phủ Tổng thống)

“Tôi cũng đã nói với Chủ tịch Tập về mối quan ngại đặc biệt của Hoa Kỳ về hành động dành chủ quyền đất đai, xây dựng và quân sự hóa những vùng tranh chấp, gây khó khăn cho các quốc gia trong vùng giải quyết hòa bình những bất đồng. Vì vậy tôi khuyến khích tìm ra một giải pháp giữa các quốc gia tranh chấp ở khu vực này. Hoa Kỳ không phải là nước có tranh chấp; Chúng tôi chỉ muốn bảo đảm luật pháp của lưu thông phải được bảo vệ.”

(I conveyed to President Xi our significant concerns over land reclamation, construction and the militarization of disputed areas, which makes it harder for countries in the region to resolve disagreements peacefully. And I encouraged a resolution between claimants in these areas. We are not a claimant; we just want to make sure that the rules of the road are upheld.)

LÃNH THỔ CỦA TRUNG HOA

Đến phiên Tập Cận Bình, ông ta nói: “ Chúng tôi đã có cuộc thảo luận sâu rộng về tình hình Châu Á-Thái Bình Dương. Và chúng tôi tin rằng Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng có quyền lợi chung rộng rãi ở khu vực, và chúng ta nên tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác trong các lĩnh vực ở đó, và cùng làm việc với nhau để cổ võ những họat động và hợp tác hỗ tương trong khu vực Á Châu Thái Bình Dương, và cùng làm việc với các nước trong khu vực để mưu cầu hòa bình, ổn định và thịnh vượng chung.”

(–Lời Thông dịch viên: “We have in-depth discussion on the situation of the Asia Pacific. And we believe that China and the United States have extensive common interests in this region, and we should continue to deepen dialogue and cooperation on regional affairs and work together to promote active interactions and inclusive cooperation in the Asia Pacific, and work with countries in the Asia Pacific to promote peace, stability, and prosperity in this region.”

Với gương mặt lạnh như đồng nhưng cương quyết, họ Tập nhìn thẳng các Nhà báo nói tiếp : “ Trung Quốc cam kết theo đuổi chính sách phát triển hòa bình, láng giềng tốt và hợp tác với các quốc gia láng giềng của chúng tôi. Các hòn đảo ở biển Nam Trung Hoa, từ thời cổ đại, là lãnh thổ của Trung Quốc. Chúng tôi có tòan quyền bảo vệ chủ quyền lãnh thổ hợp pháp của chúng tôi, cũng như các quyền lợi chính đáng về hàng hải. Chúng tôi cam kết duy trì hòa bình và ổn định ở vùng biển Nam Trung Hoa, dung hòa khác biệt và tranh chấp qua đối thọai, thương thuyết, tham khảo lẫn nhau trong hòa bình để mưu tìm giải pháp cùng có lợi thông qua hợp tác.”

(China is committed to the path of peaceful development and a neighboring foreign policy characterized by good neighborliness and partnership with our neighbors. Islands in the South China Sea since ancient times are China’s territory. We have the right to uphold our own territorial sovereignty and lawful and legitimate maritime rights and interests. We are committed to maintaining peace and stability in the South China Sea, managing differences and disputes through dialogue, and addressing disputes through negotiation, consultation, and peaceful manner, and exploring ways to achieve mutual benefit through cooperation.)

Ngỏanh mặt về phía Tổng thống Obama, nhà Lãnh đạo Trung Quốc nói như trả lời trực tiếp quan ngại của Mỹ : “Chúng tôi cam đoan bảo vệ lưu thông hàng hải và hàng không của các quốc gia theo luật pháp quốc tế. Liên quan đến các hoạt động xây cất của Trung Quốc thi hành ở quần đảo ở phía Nam, Trường Sa, không nhắm vào hay gây ảnh hưởng đến bất cứ nước nào, và Trung Quốc không có chủ tâm tiến tới quân sự hóa ở đó.”

(We’re committed to respecting and upholding the freedom of navigation and overflight that countries enjoy according to international law. Relevant construction activities that China are undertaking in the island of South — Nansha Islands do not target or impact any country, and China does not intend to pursue militarization.)

Giải thích rõ hơn với báo chí, họ Tập nhắc lại rằng: “ Trung Hoa và Hoa Kỳ đều có những quyền lợi chung ở vùng biển Nam Trung Hoa. Chúng ta cùng ủng hộ một Nam Hải hòa bình và ổn định. Những nước trực tiếp có tranh chấp hãy làm việc qua thương lượng, tham khảo lẫn nhau bằng những biện pháp hòa bình. Chúng tôi ủng hộ tự do lưu thông hàng hải và bay trên không của tất cả các quốc gia theo luật pháp quốc tế và giải quyết sự khác biệt qua thương thuyết, thi hành đầy đủ Tuyên bố về Ứng xử Các bên ở Biển Đông (DOC, Declaration on Conduct of the Parties in the South China Sea), và sớm hòan tất thương thảo về Bộ Quy tắc Ứng xử trên Biển Đông (COC, Code of Conduct) dựa trên sự đồng thuận. Chúng tôi đồng ý duy trì tích cực mối liên lạc về những vấn đề liên quan.”

(China and the United States have a lot of common interests on the issue of South China Sea. We both support peace and stability of the South China Sea. The countries directly involved should address their dispute through negotiation, consultation and in peaceful means. And we support freedom of navigation and overflight of countries according to international law and the management of differences through dialogue, and full and effective implementation of DOC and an early conclusion of the consultation of COC based on consensus-building. We have agreed to maintain constructive communication on relevant issues.)

PHẢN ỨNG TỪ VIỆT NAM

Không có gì ngạc nhiên khi thấy các Nhà báo Trung Quốc, Hoa Kỳ và nước ngòai có mặt tại cuộc họp báo đã không có câu hỏi nào về lời tuyên bố như tát nước lạnh vào mặt Hà Nội của Tập Cận Bình. Nhưng phải thắc mắc tại sao đảng, chính phủ, Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ ngọai giao Việt Nam, nhất là các cơ quan ngôn luận vẫn thường xuyên to mồm như Nhân Dân, Quân đội Nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam và Đài Tiếng nói Việt Nam đã không dám hé răng mở miệng chỉ trích lời nói công khai xâm phạm chủ quyền lãnh thổ Việt Nam của họ Tập.

Trước đây, mỗi khi có câu nói tương tự phát ra từ cửa miệng Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường hay Bộ trưởng Ngọai giao Vương Nghị thì Ban Tuyên giáo chỉ thị ngay cho Bộ Thông tin và Truyên thông để truyền xuống các báo và Phát ngôn nhân Bộ Ngọai Giao mau mắn đáp trả bằng lời viết sẵn của chính phủ chỉ để lập lại câu nói “biết rồi khổ lắm nói mãi” : Việt Nam có đầy đủ bằng chứng lịch sử xác định Hòang Sa-Trường Sa là của Việt Nam !

Lần này, phải đợi đến ngày 28/9 (2015), người ta mới nghe được phản ứng của ông Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đưa ra tại một cuộc họp của Tổ chức Xã hội Châu Á (Asia Society) ở New York.

Ông Sang nói:” (với phóng viên Ban tiếng Việt cùa Đài Tiếng nói Hoa Kỳ):“Người Trung Quốc, trong những lần gặp gỡ Việt Nam, cũng thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của Trung Quốc, không gì tranh cãi. Thì người Việt Nam chúng tôi cũng nói lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam, không gì tranh cãi. Chắc các câu này các bạn đã nghe suốt”.

“Vấn đề đặt ra là chúng tôi mong muốn rằng mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế và con đường duy nhất dẫn đến chỗ đó thôi, chứ không thể nói mãi như thế này được. Một anh đứng ở bên đây sông thì nói là của tôi, và một anh đứng ở bên kia sông thì nói là của anh. Như tôi đã nói với các bạn vừa nãy, trong lúc quá độ, hai bên đều thống nhất 6 nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo các vấn đề trên biển”.

6 NGUYÊN TẮC NÓI GÌ ?

6 “Nguyên tắc” ông Sang ám chỉ là Thỏa hiệp được ký tại Bắc Kinh trong chuyến thăm Trung Quốc lần thứ nhất của Tông Bí thư đảng Nguyễn Phú Trọng, ngay sau khi đắc cử Lãnh đạo khoá đảng XI ngày 20/01/2011.

Nguyên văn 6 Điểm như sau:

1. Lấy đại cục quan hệ hai nước làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, dưới sự chỉ đạo của phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

2. Trên tinh thần tôn trọng đầy đủ chứng cứ pháp lý và xem xét các yếu tố liên quan khác như lịch sử…, đồng thời chiếu cố đến quan ngại hợp lý của nhau, với thái độ xây dựng, cố gắng mở rộng nhận thức chung, thu hẹp bất đồng, không ngừng thúc đẩy tiến trình đàm phán. Căn cứ chế độ pháp lý và nguyên tắc được xác định bởi luật pháp quốc tế trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, nỗ lực tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài mà hai bên đều có thể chấp nhận được cho các vấn đề tranh chấp trên Biển.

3. Trong tiến trình đàm phán vấn đề trên biển, hai bên nghiêm chỉnh tuân thủ thỏa thuận và nhận thức chung mà Lãnh đạo cấp cao hai nước đã đạt được, thực hiện nghiêm túc nguyên tắc và tinh thần của “Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông” (DOC).

Đối với tranh chấp trên biển giữa Việt Nam-Trung Quốc, hai bên giải quyết thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị. Nếu tranh chấp liên quan đến các nước khác, thì sẽ hiệp thương với các bên tranh chấp khác.

4. Trong tiến trình tìm kiếm giải pháp cơ bản và lâu dài cho vấn đề trên biển, trên tinh thần tôn trọng lẫn nhau, đối xử bình đẳng, cùng có lợi, tích cực bàn bạc thảo luận về những giải pháp mang tính quá độ, tạm thời mà không ảnh hưởng đến lập trường và chủ trương của hai bên, bao gồm việc tích cực nghiên cứu và bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển theo những nguyên tắc đã nêu tại điều 2 của Thỏa thuận này.

5. Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.

6. Hai bên tiến hành cuộc gặp định kỳ Trưởng đoàn đàm phán biên giới cấp Chính phủ một năm hai lần, luân phiên tổ chức, khi cần thiết có thể tiến hành các cuộc gặp bất thường. Hai bên nhất trí thiết lập cơ chế đường dây nóng trong khuôn khổ đoàn đại biểu cấp Chính phủ để kịp thời trao đổi và xử lý thỏa đáng vấn đề trên biển.

Sau thỏa hiệp căn bản này, các cuộc thảo luận đôi bên tiếp tục bế tắc vì Trung Quốc luôn luôn đòi phần hơn ở vịnh Bắc Bộ và muốn Việt Nam hợp thức hoá việc “hợp tác cùng khai thác” ở Biển Đông, nhưng chủ quyền biển đảo vẫn phải là của Trung Quốc như câu nói của Tập Cận Bình.

Đây là quan điểm Trung Quốc gọi là “vấn đề cốt lõi chủ quyền biển” đã đưa ra từ năm 1979 của Lãnh tụ Đặng Tiểu Bình và được duy trì để chuyển cho Việt Nam vá các nước có tranh chấp với Trung Quốc qua các đời Chủ tịch-Tổng Bí thư Cộng sản Trung Hoa Giang Trạch Dân, Hồ Cẩm Đào và Tập Cận Bình hiện nay.

Tuy nhiên tranh chấp Việt-Trung đã đạt cao độ khi Trung Quốc đặt gìan khoan dầu Hải Dương 981 vào sâu trong thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam gần đảo Hòang Sa từ ngày 2/5 đến 27/05/2014. Bắc Kinh chỉ rút lui sau khi bị Quốc tế lên án làm căng thẳng tình hình và cho biết họ đã tìm thấy có dầu và khí đốt tại 2 giếng đào thử, nhưng không nói khi nào sẽ trở lại khai thác.

Sau đó, Trung Quốc một mặt tiếp tục “nói chuyện phải trái với Việt Nam”, mặt khác lại tăng cường tái tạo, xây dựng 7 đảo và đá san hô chiếm được của Việt Nam ở Trường Sa năm 1988 thành các đảo lớn kiên cố có sân bay, bến cảng và căn cứ quân sự.

Để bảo vệ, nhiều Tiểu đòan Thủy quân Lục chiến Trung Hoa và đơn vị phòng không, súng đại bác đã được điều động đến Gạc Ma, Vành Khăn, Chữ Thập v.v…

Trước các hành động ngang nhiên chiếm biển đảo này của Trung Quốc, Bộ Quốc phòng Việt Nam cũng âm thầm “đắp đập be bờ” ở một số đảo và đá ngầm, nhưng so với kiến thiết của Trung Quốc thì như muối bỏ biển, như châu chấu đá voi.

Về mặt ngọai giao và tuyên truyền, Bộ Ngọai giao Việt Nam chỉ làm được mỗi việc nhắc lại điệp khúc “tái khẳng định Hòang Sa, Trường Sa là của Việt Nam”.

Lãnh đạo đảng, từ Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng xuống đến anh Tuyên giáo Xã, Phường cũng chỉ biết bảo nhau hô to kiên quyềt :”Bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc”, như viết trong Dự thảo Báo cáo Chính trị tại Đại hội Đảng XII.

Vì vậy, chẳng phải ngẫu hứng mà ông Tập Cận Bình đã chọn Tòa Bạch Ốc trong chuyến thăm Mỹ ngày 25/09/2015 để nói rõ cho Hà Nội và cả Thế giới biết lập trường chủ quyền biển đảo của Trung Quốc ở Trường Sa.

Trong suốt cuộc họp báo với Tổng thống Obama họ Tập không nói gì đến Hòang Sa mà Trung Hoa đã chiếm từ tay Quân đội Việt Nam Cộng Hòa tháng 1/1974.

Điều này không lạ vì đã từ lâu, trong tất cả các cuộc gặp và thảo luận tranh chấp với Việt Nam, phía Trung Quốc đã gạt phăng như chuyện thừa thãi mất thời giờ mỗi khi phía Việt Nam muốn nhắc đến Hòang Sa. Cũng là chuyện bất bình thường khi ít lâu nay, không thấy phía Việt Nam nói nhiều đến Hòang Sa, ngọai trừ khi có các vụ tầu đánh cá Việt Nam bị Trung Quốc tấn công, cướp của ở khu vực biển Hòang Sa.

Có tin Trung Quốc đã nói thẳng với Việt Nam “Hòang Sa không có trong bất cứ cuộc nói chuyện nào”. Riêng Bộ Quốc phòng Việt Nam thì họ đã quên nói đến Hòang Sa từ 1974.

Những thách thức mới của lãnh đạo VN trong vấn đề Biển Đông

Kami (Blog RFA) – Vấn đề Biển Đông nói chung và chủ quyền về các quần đảo Hoàng sa-Trường sa một lần nữa lại nóng lên sau những phát biểu của Chủ tịch Trung quốc Tập Cận Bình trong chuyến thăm Mỹ chính thức trong thời gian cuối tháng 9/2015 vừa qua.

Quan hệ Việt – Trung đang xấu đi rõ rệt

Trong cuộc họp báo chung tại Tòa Bạch Ốc ngày 25/9/2015, ông Tập Cận Bình đã không hề ngần ngại khi lớn tiếng khẳng định trước Tổng thống Mỹ Barack Obama và giới truyền thông quốc tế rằng “Các quần đảo ở Nam Hải từ thời cổ đại là lãnh thổ của Trung Hoa”. Điều này một lần nữa chứng tỏ dã tâm độc chiếm Biển Đông của Trung Quốc là không thay đổi, đồng thời điều đó cũng cho thấy Trung quốc hoàn toàn lo ngại Mỹ trong vấn đề Biển Đông như chúng ta tưởng.

Trước phát biểu ngang ngược của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, phía Việt nam đã có các hành động phản đối khá mạnh mẽ qua các tuyên bố người phát ngôn của Bộ Ngoại giao. Đáng chú ý, bên lề Hội nghị thượng đỉnh thường niên của của các nguyên thủ quốc gia tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc ở New York tháng 9/2015 Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã khẳng định rõ: “Khi ông Tập Cận Bình khẳng định Nam Sa từ lâu là của Trung Quốc, chúng tôi gọi các quần đảo này là Hoàng Sa và Trường Sa trong tiếng Việt, và khẳng định các quần đảo này thuộc về VN đã hàng nghìn năm nay, từ thời tổ tiên chúng tôi, có đủ bằng chứng lịch sử và pháp lý để chứng minh. Nhưng tôi nghĩ, trong mọi tranh chấp, chúng ta nên áp dụng luật pháp quốc tế, chứ không thể cứ chấp nhận bất đồng mãi”. Và khi trả lời phỏng vấn Hãng thống tấn AP, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cũng đã thẳng thắn chi ra rằng Biển Đông đến nay đã thực sự là một điểm nóng của khu vực và thế giới và hành động xây đảo của Trung Quốc ở Biển Đông là vi phạm luật pháp quốc tế và ảnh hưởng nghiêm trọng đến an ninh và an toàn hàng hải.

Các phát biểu của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang được dư luận đánh giá cao, bởi vì với cương vị người đứng đầu nhà nước và phát biểu nói trên diễn ra bên lề Hội nghị thượng đỉnh thường niên của của các nguyên thủ quốc gia tại Đại hội đồng Liên hiệp quốc. Điều đó cho thấy lập trường của nhà nước Việt nam đối với Trung quốc trong vấn đề Biển Đông đã có một bước tiến khá xa và lần đầu tiên khả năng Việt nam sẽ kiện Trung quốc ra Tòa án quốc tế được người đứng đầu nhà nước Việt nam tiết lộ là điều rất có thể xảy ra.

Vụ án gián điệp cho Trung quốc, một điểm nhấn

Ở Việt nam, những thông tin về các vụ làm gián điệp cho nước ngoài là các thông tin thuộc dạng nhạy cảm, ít khi được công khai trên truyền thông đại chúng. Song trước ngày kỷ niệm lần thứ 66 ngày Quốc khánh Trung quốc (1/10/2015) một ngày thì báo chí việt nam loan tải tin một cựu nhà báo bị 6 năm tù vì làm gián điệp cho Trung quốc.

Đó là trường hợp ông Hà Huy Hoàng, cựu phóng viên báo Thế giới và Việt Nam trực thuộc Bộ Ngoại giao, ngày 30/9 bị Tòa án Nhân dân TP Hà Nội kết án 6 năm tù vì cung cấp thông tin cho tình báo Trung Quốc. Qua thời điểm xét xử và nội dung phiên tòa, người bình thường cũng thấy đây là một vụ án mang màu sắc chính trị, khẳng định quan hệ Việt nam – Trung quốc đã xấu đi rõ rệt trong mấy năm gần đây. Đáng chú ý vụ án này được đưa ra xét xử trước chuyến thăm Việt nam của Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dự kiến sẽ diễn ra vào cuối năm nay. Điều này đã khiến cho nhiều người nghĩ lại các vụ án xét xử gián điệp Trung Quốc trong những năm 197X dưới thời TBT Lê Duẩn trước khi nổ ra cuộc Chiên tranh Biên giới năm 1979. Tuy vậy bản tin nói trên ngay lập tức đã bị rút khỏi các trang báo lớn. Điều này được cho rằng là một hành động khiêu khích Trung quốc một cách có chủ ý của ban lãnh đạo Việt nam.

Sự kiện này khiến cho người ta nghĩ lại thời kỳ quan hệ Việt – Trung ở mức xấu nhất vào những năm cuối 197X, dười thời Tổng Bí thư Lê Duẩn trước khi xảy ra chiến trang Biên giới tháng 2/1979 giữa Việt nam và Trung quốc. Lúc đó đã có không ít các vụ án làm gián điệp cho Trung quốc đã được đưa ra xứt xử công khai như vụ án này.

Khả năng xung đột Việt – Trung

Đã từ lâu, các nhà phân tích chính trị quốc tế và khu vực đều thống nhất một nhận định chung khi cho rằng, việc Trung quốc sẽ dùng vũ lực để cưỡng chiếm các đảo và bãi ngầm thuộc chủ quyền của Việt nam hiện nay trên vùng biển Trường sa, như họ đã từng tiến hành đồi với các đảo thuộc khu vực Quần đảo Hoàng sa năm 1974 và đối với đảo Gạc ma của Việt nam năm 1988. Vấn đề chỉ còn là thời gian sẽ diễn ra vào lúc nào. Và những cuộc tấn công đột kích đó cộng với tiềm lực của Hải quân Trung quốc rất mạnh thì khả năng chiến thắng của Trung quốc đối với Việt nam sẽ là rất cao. Điều đó sẽ đồng nghĩa với việc Việt nam sẽ lần lượt mất các đảo và bãi ngầm trong khu vực Trường sa và cuối cùng là mất trọn Biển Đông.

Gần đây, giớp phân tích chính trị quốc tế cho rằng, cuối năm 2016 và đầu năm 2017 là thời cơ tốt nhất để Trung Quốc tấn công và chiếm toàn bộ những đảo còn lại của Trường Sa. Đồng thời nếu như phía Việt nam có phản ứng thì chắc chắn sẽ có thêm một cuộc chiến trên bộ tại biên giới phía Bắc là điều không tránh khỏi. Theo tác giả Joshua Kurlantzick, chuyên viên về Đông Nam Á của Hội đồng Quan hệ đối ngoại (Council on Foreign Relations) trong bài bài viết với tựa đề “A China-Vietnam Military Clash” đăng trên trang The Diplomat đã nhận định rằng “Các nguy cơ đối đầu quân sự giữa Trung Quốc và Việt Nam đang tăng lên. Mặc dù hai nước có quan hệ gần gũi giữa hai đàng trong nhiều thập kỷ, từ năm 2011, cả hai nước đều đã khẳng định những yêu sách mâu thuẫn đối với Biển Đông… Những căn nguyên làm bất hòa đang gia tăng có thể dẫn đến một cuộc đối đầu quân sự nghiêm trọng giữa hai nước trong 12-18 tháng tới, với những hậu quả tiềm tàng lớn đối với Mỹ. Do đó, Mỹ cần tìm cách tháo ngòi nổ căng thẳng và giúp ngăn chặn một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng.”.

Điều này cho thấy, trong lúc này ban lãnh đạo Việt nam đứng trước hai sự lựa chọn, đó là cam tâm đứng nhìn Trung quốc cưỡng đoạt biển đảo của tổ quốc hoặc cần phải có các động thái liên minh, liên kết với các quốc gia khác để bảo vệ chủ quyền lãnh hải,

Việt nam phải làm gì?

Có ý kiến cho rằng Việt nam cần nhanh chóng hoàn chỉnh hồ sơ để kiện Trung quốc ra Tòa án quốc tế. Đây là việc cần thiết của phía Việt nam nhằm để bảo vệ chủ quyền lãnh thổ của mình. Tuy vậy, việc làm này sẽ mất nhiều thời gian nên nó không thể giúp gì trong ngắn hạn. Và nếu xung đột cục bộ giữa Việt nam và Trung quốc nổ ra trên Biển Đông trong thời điểm cuối 2016 và đầu năm 2017 thì liệu Việt nam sẽ trông cậy vào đâu để bảo vệ lãnh hải của mình? Đi tìm câu trả lời có lẽ là việc cần thiết hơn.

Trước hết, việc dựa vào khối các nước Asian thì hoàn toàn không thể, trong bối cảnh lập trường của các quốc gia trong khối Asian về vấn đề tranh chấp Biển Đông đang có nhiều bất đồng, không thống nhất. Vì quyền lợicủa mình nên hầu hết các quốc gia trong khối Asian (trừ Việt nam và Philippines) bằng mọi cách duy trì quan hệ ở mức thân thiện với Trung quốc. Nhất là sau khi Trung quốc đưa ra “miếng mồi” Dự án Con đường Tơ lụa Hàng hải trong thế kỷ 21 vào tháng 10/2013 cùng với việc thiết lập Ngân hàng Đầu tư Cơ sở hạ tầng Châu Á (AIIB) mới đây, với vốn đăng ký 100 tỷ USD nhằm phát triển quan hệ hợp tác hàng hải với các nước ASEAN.

Như vậy việc Việt nam dựa vào liên minh Mỹ-Nhật bản-Ấn Độ có lẽ là phương án cuối cùng mà Việt nam sẽ phải lựa chọn, cho dù từ trước đến nay ban lãnh đạo Việt nam vẫn kiên trì với chính sách ngoại giao 3 không, với mong muốn làm vừa lòng tất cả các bên. Tuy vậy, trước sự lấn lướt không ngừng của Trung quốc thì đây có lẽ là giải pháp bắt buộc Việt nam phải lựa chọn. Nếu vậy, có nghĩa là Việt nam phải học tập Philippines, một nạn nhân của chính sách bá quyền của Trung quốc như Việt nam hiện nay. Mà gần đây Philippines đã buộc phải chuyển từ thái độ “từ chối Mỹ” – kêu gọi Mỹ rút quân khỏi căn cứ không quân Clark và căn cứ hải quân Subic từ năm 1992 để chuyển sang tinh thần hợp tác quân sự mới, bao gồm việc ký kết Hiệp ước Tăng cường Hợp tác quốc phòng với thời hạn mười năm. Điều đó đã khiến Philippines trở thành một nước đồng minh trong chính sách xoay trục sang châu Á và tái cân bằng lợi ích an ninh của Mỹ. Đối với Việt nam, thì quân cảng Cam Ranh cũng có ý nghĩa tương tự và chắc chắn đây sẽ là một giải pháp hết sức quan trọng mà Việt nam sẽ phải đưa ra để đổi chắc với phía Mỹ trong tình huống thực sự cần thiết.

Và các vị lãnh đạo Việt nam hiện nay cũng đang có mong muốn như vậy. Còn nhớ bên cạnh việc ông Trương Tấn Sang tại New York vừa rồi, lên án việc Trung Quốc xây đảo nhân tạo ở Biển Đông là vi phạm luật quốc tế và đe dọa an ninh hàng hải, thì ông Sang còn kêu gọi phía Mỹ dỡ bỏ hoàn toàn lệnh cấm vận vũ khí cho Hà Nội và coi đó sẽ là cơ hội làm cho quan hệ Việt-Mỹ sẽ được bình thường hóa toàn diện. Tuy vậy, vấn đề này không phải  do phía Việt nam muốn hợp tác với Mỹ là được, mà nó phải dựa trên cán cân quyền lợi gữa Mỹ-Trung và Mỹ-Việt bên nào mang lại quyền lợi nhiều hơn cho nước Mỹ. Bởi vì đến thời điểm này quan điểm của Mỹ chỉ chủ trương khẳng định quyền tự do hàng hải chính đáng của họ chứ không muốn đi ngược lại nguyên tắc luôn tuyên bố là không thiên vị bên nào trong tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Hơn nữa trong bối cảnh năm 2016 là năm tiến hành bầu cử ở Mỹ, nên việc phía Mỹ có các quyết sách cần thiết không phải là chuyện dễ dàng. Song việc Mỹ đang trợ giúp cho Hải quân của Việt nam trong việc tổ chức huấn luyện và cung cấp phương tiện cũng như khi tài cũng cho thấy hai bên đã có những sự hợp tác ở một chừng mực đáng quan tâm. Tuy nhiên những cái đó vẫn chưa đủ để đảm bảo.

Nhân quyền, vấn đề cốt lõi

Quan hệ Mỹ-Việt chưa bao giờ sáng sủa như hiện nay, nhất là từ sau chuyến thăm Mỹ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và theo dự kiến thì Tổng thống Mỹ có thể ghé thăm Việt Nam trong tháng sắp tới này nhân chuyến công du khu vực. Điều đó không chỉ thấy trong việc xúc tiến để ký kết Hiệp định Đối tác Xuyên Thái Bình Dương (TPP), hay việc Đối thoại nhân quyền Việt-Mỹ thường niên 2015 đã kết thúc hồi giữa năm, cũng như việc hai nước đang tiến hành đối thoại chính sách quốc phòng lần thứ 5 diễn ra từ ngày 27/9 tới ngày 3/10 tại Mỹ. Còn nhớ, tháng 10/2014, phía Mỹ cũng đã loan báo dỡ bỏ một phần lệnh cấm vận vũ khí cho Việt Nam nhằm tăng cường khả năng bảo vệ an ninh hàng hải. Không chỉ thế, phía Mỹ đã bày tỏ thái độ dứt khoát rằng họ không có ý định thay đổi thể chế chính trị hiện nay ở Việt nam, tuy vậy việc Việt nam phải tôn trọng các cam kết quốc tế trong vấn đề quyền con người hoặc các vấn đề khác là trách nhiệm bắt buộc.

Tuy nhiên, mọi vấn đề phải có cái giá của nó, việc chính quyền của Tổng thống Obama nhất mực khẳng định điều kiện tiên quyết để quan hệ Việt-Mỹ được phát huy toàn diện là Hà Nội phải cải thiện thành tích nhân quyền hiện vẫn đang bị quốc tế lên án. Đây là vấn đề mấu chốt.

Phía Việt nam cần nhớ, trong quan hệ với Mỹ thì các vấn đề Nhân quyền và vũ khí là hai mặt của một tấm huy chương, những cái đó cần phải có sự cân bằng. Tiến bộ nhân quyền sẽ quyết định tương lai hợp tác Việt-Mỹ, trong đó có cả sự chuyển giao vũ khí sát thương từ Mỹ cho Việt Nam nói riêng hay kể cả trong vấn đề phát triển mối quan hệ Mỹ-Việt ở mức đối tác chiến lược. Do đó, sự hợp tác giữa hai bên Việt-Mỹ cần phải gắn chặt với điều kiện nhân quyền là điều không thể chối bỏ. Qua vấn đề này để thấy, việc Quốc hội Việt nam cố tình trì hoãn việc xem xét thông qua Dự án luật về Hội là một hành động có chủ ý của một số quan chức hàng đầu, mà họ không lường hết được rằng hậu quả của hành động này là vô cùng tai hại nếu như xung đột trên biển giữa Việt nam và Trung quốc xảy ra.

Kết

Bành trướng lãnh thổ và lãnh hải là bản chất của các triều đại Trung quốc, hàng nghìn năm nay các hoàng đế Trung hoa chưa bao giờ từ bỏ dã tâm thôn tính các quốc gia láng giềng, trong đó có Việt nam. Đến nay cũng vậy, thực tế đã chứng minh cho thấy ngày nay những lãnh đạo cộng sản không thể mang con bài cùng ý thức hệ để biện minh cho việc này và coi Trung quốc là chỗ dựa cho đảng của họ để nắm giữ quyền lực. Nếu như vậy thì họa mất nước là điều cầm chắc và không cần phải bàn cãi.

Vào thời điểm hiện nay, trước nguy cơ Việt nam có thể mất trắng các đảo và bãi đá ngầm trong khu vực Trường sa và toàn bộ Biển Đông đã hết sức rõ ràng. Đây là thời điểm buộc ban lãnh đạo Đảng CSVN phải có thái độ dứt khoát trong việc lựa chọn một chỗ đứng rõ ràng cho mình, để có thể đảm bảo toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của đất nước. Muốn vậy, bản thân họ phải biết cháp nhận hy sinh quyền lợi của cá nhân mình để dũng cảm bước tới một cách mạnh mẽ hơn nữa để đi theo các trào lưu tiến bộ của văn minh nhân loại như họ đang tự chuyển hóa như hiện nay. Đây là một trong những thách thức quan trọng nhất đối với Đảng CSVN trong dịp Đại hội Đảng lần thứ XII sắp diễn ra trong đầu năm 2016.

Đã đến lúc khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án Quốc tế!

Nguyễn Đăng Quang (BVN) – Trong chuyến thăm chính thức tới Hoa Kỳ vào cuối tháng 9/2015 vừa qua, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc kiêm Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Tập Cận Bình đã ngang nhiên lấp liếm là: “Quần đảo Tây Sa và Nam Sa là thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại xa xưa”!?

Trong vấn đề này, như mọi người đều biết, Trung Quốc xưa nay vẫn dùng từ “Tây Sa” và “Nam Sa” để chỉ quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Việc Trung Quốc lâu nay nhận vơ Hoàng Sa và Trường Sa là của họ thì là chuyện thường ngày của các học giả hoặc các tướng lĩnh “diều hâu” hay của cả các quan chức Chính phủ mà cao nhất cho đến nay là cấp Bộ trưởng, cụ thể là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao. Trong vòng chưa đầy 2 tuần lễ trong tháng Chín vừa qua, có 3 quan chức đáng chú ý của Trung Quốc lớn tiếng về chủ đề này:

Người đầu tiên là một viên tướng Hải quân Trung Quốc: Ngày 14/9/2015, tại một cuộc hội thảo quốc phòng ở London, Phó Đô đốc Hải quân Viên Dự Bách, Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc, ngang ngược tuyên bố: “Biển Hoa Nam (South China Sea, tức Biển Đông) đúng như tên gọi của nó, là vùng biển thuộc sở hữu của Trung Hoa”! Lời tuyên bố này đã gây “sốc” và nực cười cho giới truyền thông quốc tế với lập luận ngây ngô của viên Tư lệnh Hạm đội Bắc Hải của Trung Quốc!

Ngưới thứ hai là Ngoại trưởng Trung Quốc Vương Nghị: Ngày 16/9/2015, nhằm chuẩn bị hành trang cho chuyến thăm Hoa Kỳ của Tập Cận Bình, quan chức đứng đầu ngành ngoại giao này của Trung Quốc thản nhiên tuyên bố: “Quần đảo Nam Sa (tức quần đảo Trường Sa của Việt Nam) là lãnh thổ của Trung Quốc”!

Người thứ ba là đích thân họ Tập: Ngày 22/9/2015, trả lời báo Wall Street Journal khi vừa tới Seatle (thủ phủ tiểu bang Washington), chặng đầu tiên của chuyến thăm Hoa Kỳ, đích thân Tổng Bí thư ĐCSTQ kiêm Chủ tịch nước CHND Trung Hoa Tập Cận Bình nói rằng quần đảo Nam Sa (tức Trường Sa của Việt Nam) ở Biển Đông “từ thời xa xưa đã là lãnh thổ của Trung Quốc”. Đây là lần đầu tiên, một người đứng đầu Đảng và Nhà nước Trung Quốc chính thức và công khai khẳng định lập trường ăn cướp của họ đối với lãnh thổ biển đảo của Việt Nam chúng ta!

Tuyên bố ngang ngược này ngay lập tức bị Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam Trương Tấn Sang đáp trả! Hôm 28/9/2015, trong bài phát biểu tại Hội Á Châu (Asia Society) ở New York cũng như trả lời Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) Việt ngữ, Chủ tịch Trương Tấn Sang, người đang dẫn đầu Phái đoàn Việt Nam tham dự Khóa họp lần thứ 70 Đại Hội Đồng LHQ ở New York, khẳng định: “Hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thực sự thuộc về Tổ quốc Việt Nam chúng tôi.” Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Phía Trung Quốc trong những lần gặp gỡ phía Việt Nam thường nói rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của họ, không có gì phải tranh cãi. Phía Việt Nam cũng khẳng định lại rằng Hoàng Sa và Trường Sa là của tổ tiên Việt Nam chúng tôi, không thể tranh cãi”. Nguyên thủ Việt Nam nói tiếp: “Chúng tôi mong muốn mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng luật pháp quốc tế. Đây là cách duy nhất (để giải quyết bất đồng)”. Ông cho biết: “Chúng tôi hết sức chủ động bàn với Trung Quốc để tìm một giải pháp lâu dài, cơ bản mà 2 bên có thể chấp nhận được. (Trong khi chờ đợi, 2 bên) phải kiểm soát tình hình, kiểm soát hành động. Hai nước đã thỏa thuận về 6 nguyên tắc cơ bản chỉ đạo các vấn đề trên biển. Nhưng rất tiếc, trong quá trình thực tế ở Biển Đông đã diễn ra không đúng như mong muốn của cả hai bên như thỏa thuận 6 nguyên tắc đã ký”. Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Ngài Tập Cận Bình khẳng định Nam Sa từ lâu là của Trung Quốc thì chúng tôi cũng nói lại rằng đối với chúng tôi, lập trường trước sau như một không thay đổi. Chúng tôi gọi đó là Trường Sa và Hoàng Sa, trước sau như một là thuộc về Việt Nam chúng tôi. Chúng tôi có đầy đủ bằng chứng về lịch sử và thực tiễn pháp lý để xác định chủ quyền là của Việt Nam chúng tôi.”

Trước đó, ngày 25/9/2015, trong bài diễn văn đọc trước phiên họp Đại hội đồng LHQ về Mục tiêu phát triển bền vững của LHQ, Chủ tịch Trương Tấn Sang cũng đã khôn ngoan và khéo léo “cài” vấn đề Biển Đông vào bài phát biểu của mình! Ông tuyên bố trước sự hiện diện của trên 100 nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu chính phủ các nước rằng “Việt Nam đang nỗ lực cùng các nước ASEAN và các nước liên quan khác duy trì, củng cố hòa bình, an ninh trong khu vực nhằm tạo thuận lợi cho phát triển bền vững, trong đó có an ninh, an toàn và tự do hàng hải, hàng không trên Biển Đông vì đây là con đường huyết mạch kết nối ASEAN với các nước và khu vực khác trên thế giới”. Chủ tịch Trương Tấn Sang nói tiếp: “Việt Nam kiên trì và nhất quán chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước của LHQ về Luật biển năm 1982 (UNCLOS) và thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Tuyên bố về Ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC)”.

Xin hoan nghênh Chủ tịch Trương Tấn Sang! Ông đã lên tiếng kịp thời và đáp trả khá mạnh mẽ luận điệu ăn cướp của kẻ bành trướng, bá quyền xưa nay luôn ỷ thế nước lớn để ức hiếp thiên hạ! Lời tuyên bố của ông có giá trị ở chỗ không phải là ở nơi “đóng cửa bảo nhau” như nhiều kẻ lâu nay chủ trương, mà là trước bàn dân thiên hạ! Còn gì chính thống và quan trọng hơn là trước diễn đàn của tổ chức quốc tế lớn nhất Hành tinh này bao gồm 193 quốc gia thành viên là Liên Hợp Quốc! Còn gì ý nghĩa và giá trị hơn là trước một cử tọa quan trọng gồm các học giả hàng đầu thế giới về Á Châu của Tổ chức Asia Society danh tiếng ở New York!

Vâng, thưa Chủ tịch Trương Tấn Sang, tôi tin là 90 triệu con dân đất Việt đồng tình và hoan nghênh các tuyên bố của ông vừa rồi! Song nghĩ lại, tôi thấy rằng các tuyên bố này của Chủ tịch là cần thiết nhưng chưa đủ! Ở nước ta, ĐCSVN vẫn tự coi là người đại diện cho nguyện vọng và ý chí của toàn thể nhân dân Việt Nam, nhưng cho tới nay, ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng vẫn chưa hề có một tuyên bố công khai nào thể hiện lập trường chính thức và rõ ràng của riêng ông cũng như của tập thể Ban Lãnh đạo ĐCSVN tương tự như tuyên bố của ông Chủ tịch nước vừa qua và của ông Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trước đây! Nhân dân Việt Nam mong muốn cá nhân người đứng đầu ĐCSVN và tập thể Ban Lãnh đạo Đảng thực hiện đúng trách nhiệm trước toàn dân như Lãnh đạo Đảng vẫn tự nhận để xác quyết nguyện vọng, quyết tâm và ý chí của dân tộc Việt Nam trước những hành động gây hấn của nhà cầm quyền Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ và chủ quyền biển đảo của Tổ quốc chúng ta. Việt Nam đã rất nhiều lần thể hiện thiện chí giải quyết hòa bình mọi bất đồng và tranh chấp với Trung Quốc bằng con đường đàm phán hòa bình, trong đó có vấn đề quần đảo Hoàng Sa của chúng ta mà Trung Quốc đang chiếm giữ bất hợp pháp. Trung Quốc luôn đóng sập cánh cửa đàm phán, thương lượng về vấn đề này. Họ trịch thượng nói: “Tây Sa (tức Hoàng Sa) đã là của Trung Quốc rồi! Bàn gì thì bàn, các đồng chí không được đòi bàn về Tây Sa (Hoàng Sa) nữa”!

Nói về chủ quyền quần đảo Trường Sa của Việt Nam chúng ta, nay đến lượt ông Tập Cận Bình đích thân và ngang ngược khẳng định “là thuộc chủ quyền của Trung Quốc từ thời cổ đại xa xưa”! Đây là lần đầu tiên một lãnh đạo chóp bu của Đảng và Nhà nước Trung Quốc công khai và chính thức thừa nhận ý đồ xâm chiếm dần dần quần đảo Trường Sa của Việt Nam chúng ta. Tôi và rất nhiều người khác cho rằng đây là một dịp may, một cơ hội tốt cho Ban Lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam khởi kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế để phân xử chủ quyền của hai quần đảo này thuộc về quốc gia nào, Việt Nam hay Trung Quốc? Kể từ khi Việt Nam tái thống nhất đất nước đến nay, chúng ta đã kiên trì và nhất quán chủ trương giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có UNCLOS 1982 và DOC 2002, nhưng phía Trung Quốc luôn tìm cách tránh né! Chúng ta đã tận dụng mọi biện pháp hòa bình, nhưng Trung Quốc luôn ngang ngược khước từ, do vậy thiện chí của chúng ta chưa mang lại hiệu quả như mong muốn! Nay chỉ còn giải pháp hòa bình cuối cùng là pháp lý quốc tế. Đây là giải pháp khả thi nhất hiện nay. Chúng ta phải vận dụng khả năng cuối cùng này trước khi tình hình xấu nhất có thể sẽ xảy ra!

Tôi hoàn toàn đồng tình với nhà nghiên cứu Đinh Kim Phúc – một trong các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam về Biển Đông – khi ông đề cập đến tuyên bố nói trên của Chủ tịch Nhà nước Trung Quốc Tập Cận Bình. Ông Đinh Kim Phúc nói “ Đây là cơ hội “ngàn năm có một” mà các nhà lãnh đạo Việt Nam phải tận dụng để đấu lý với Trung Quốc” về chủ quyền 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nói riêng cũng như về cái gọi là “lãnh thổ nội thủy” mà Trung Quốc nói thuộc chủ quyền của họ trong bản đồ hình chữ U tự vẽ để nuốt trọn trên 80% diện tích Biển Đông. Phải kiên quyết và dứt khoát khởi kiện Trung Quốc ra trước Tòa án quốc tế của LHQ! Không nên chần chừ nữa. Đây là thời điểm đúng lúc để ta thực hiện việc làm đúng đắn này. Tôi tin rằng Việt Nam sẽ thắng vụ kiện này vì ta có chính nghĩa, ta có sự ủng hộ của dư luận thế giới, song trước hết và quan trọng hơn hết là ta có đầy đủ cơ sở lịch sử và bằng chứng pháp lý quốc tế chứng minh chủ quyền của ta đối với 2 quần đảo này theo luật pháp quốc tế! Nếu chúng ta dũng cảm và tự tin, không bị trói buộc bởi bất cứ điều gì, và chúng ta chuẩn bị tốt mọi mặt, chắc chắn chúng ta sẽ thành công!

Hà Nội, ngày 1/10/2015.

N.Đ.Q.

Tác giả gửi BVN

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s