Dân biết, Dân làm, Dân bàn, Dân kiểm tra, Dân thụ hưởng

Posted: October 4, 2015 in Uncategorized
Tags:

Đinh Tấn Lực – Điểm mốc của Hội nghị về mô hình phát triển nông thôn mới và cộng đồng bền vững tại Niu-Óoc chính thực là một cuộc cách mạng tư duy của nhân loại, đặt nền tảng trên nỗ lực hướng dẫn tận tình, nhân danh là một trong tám diễn giả chính của Hội nghị,  CTN Trương Tấn Sang đã đưa vào lòng người một phương châm vĩ đại: “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”.

� Xem thêm: Nghịch lý đời sống nông thôn: Làm nhiều hơn, thu nhập ít hơn + 8 năm gia nhập WTO, một hạt thóc Việt “cõng” hơn 100 khoản đóng góp.

Thật ra, khẩu hiệu này không có gì mới. Chí ít là 80 triệu người trên thế giới đã từng nghe quen 4/5 của phương châm trị quốc bình thiên hạ này. Mới chăng chỉ là vế cuối: Dân Thụ Hưởng.

Phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc thông qua Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang cho rằng Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững đã phản ánh khát vọng về một thế giới không còn đói nghèo.

Chủ tịch nước nhấn mạnh do 3/4 số người nghèo đói hiện sống ở nông thôn và hầu hết làm nông nghiệp, Việt Nam đã ủng hộ mạnh mẽ việc đưa vào Chương trình nghị sự 2030 mục tiêu ngắn gọn “Tăng cường đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn, cho các nghiên cứu và dịch vụ khuyến nông, phát triển công nghệ, các ngân hàng gien thực vật và vật nuôi để nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp ở các nước đang phát triển”,  nhằm thúc đẩy nông nghiệp phát triển bền vững, thu hẹp khoảng cách giàu – nghèo giữa nông thôn và thành thị.

Chủ tịch nước kêu gọi các nước đang phát triển cần minh định chiến lược phát triển nông thôn phù hợp với hoàn cảnh của mình.

Kinh nghiệm thành công  vượt bực của VN là gì? Với gần 70% dân cư sống ở nông thôn, Việt Nam đã triển khai chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới với 19 tiêu chí để thúc đẩy phát triển nông thôn, cải thiện điều kiện sống của nông dân. Nhờ đó, bộ mặt nông thôn Việt Nam đang đổi thay rõ rệt, nhất là về cơ sở hạ tầng, thu nhập của nông dân.

Cụ thể là ruộng vườn xứ ta đã được nâng cấp thành cơ man là rì sọt với sân gôn tiêu chuẩn quốc tế. Kết quả một là VN chiếm giữ vững chắc vị trí đứng đầu và duy nhất trên thế giới về giai cấp Dân Oan. Kết quả hai là quan chức mọi cấp xã ấp đều có biệt thự hoành tráng, tô điểm thêm cho bộ mặt nông thôn ngày càng tráng lệ.

Nhờ đâu?

Chủ tịch nước đã nêu bật kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Việt Nam, đặc biệt là cần có cam kết chính trị mạnh mẽ và sự tham gia tích cực của toàn đảng; đồng thời coi trọng xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp, trang bị cho họ kiến thức cơ bản về nông thôn mới để công cuộc cưỡng chế đất nông thôn được tiến hành nhanh hơn và bảo đảm sẽ không ai bị kiện cáo gì.

Một kinh nghiệm khác mà các quốc gia tham dự Hội Nghị cần học hỏi là đa dạng hóa các nguồn lực và việc sử dụng các nguồn lực phải công khai, minh bạch. Trong đó, đứng đầu là đa dạng hóa nguồn lực an ninh giả dạng làm côn đồ tự phát. Thứ hai là công khai, minh bạch nỗ lực trấn áp nông dân. Khi cần thì công khai, minh bạch cả nỗ lực trấn áp các phóng viên mon men tới hiện trường làm phóng sự.

Một yếu tố quan trọng khác, không thể coi thường, là Nhà nước phải tạo điều kiện cho nông dân tự tìm ra nhu cầu thực sự của họ để quyết định cách làm phù hợp. Từ quyết định trồng cây gì, nuôi con gì cho đúng định hướng XHCN… cho đến việc tự phát minh ra những phương thức hữu hiệu để giải toả lượng nông phẩm ùn ứ thay vì để cho chúng bị ùn tắc đầu ra.

Bên cạnh đó, phải tạo thêm điều kiện để các tổ chức chính trị – xã hội tham gia tích cực vào các chương trình hỗ trợ nông dân, bằng cách kêu gọi nhau mua giúp vãi thiều, hành tím, dưa hấu, khoai tím… ăn trừ cơm.

Thế là xã hội cùng liên đới với nông dân trong mọi phạm trù thụ hưởng. Ý nghĩa của vế thứ năm “Dân Thụ Hưởng” chính là ở điểm son này.

Cuối cùng, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam sẵn sàng tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm với các nước để cùng nhau phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và bảo đảm “sẽ không ai bị bỏ lại sau”.

Trong tám diễn giả của Hội Nghị, CTN CHXHCNVN được toàn thể cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt về bài diễn văn hướng dẫn thấu đáo bằng những chia sẻ tận tình. Chưa bao giờ vị trí của VN trên trường quốc tế được nâng cao như vậy. Điều đó chứng thực rằng Thế Nước Đang Lên nhất định không phải là ngoa ngữ.

02/10/2015 – Kỷ niệm tròn 35 năm nghệ sĩ Đặng Thái Sơn được trao giải nhất trong cuộc thi Piano quốc tế mang tên Sopin lần thứ 10 tổ chức tại Vácsava (Ba Lan)

Blogger Đinh Tấn Lực tổng hợp. Ảnh minh họa chỉ mang tính cách tiêu biểu, không thể đăng hết được.

[:-/] Chia sẻ kinh nghiệm về nông thôn mới (NLĐ) – Nhờ chương trình quốc gia về xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn Việt Nam đang đổi thay rõ rệt, nhất là về cơ sở hạ tầng, thu nhập của nông dân.


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang phát biểu tại hội nghị về mô hình
phát triển nông thôn mới và cộng đồng bền vững.Ảnh: TTXVN

Hội nghị về mô hình phát triển nông thôn mới và cộng đồng bền vững đã diễn ra tại trụ sở Liên Hiệp Quốc ở New York – Mỹ chiều 26-9 (giờ địa phương) trong khuôn khổ Hội nghị Thượng đỉnh Liên Hiệp Quốc thông qua Chương trình nghị sự 2030 về phát triển bền vững. Tổng Thư ký Liên Hiệp Quốc, Tổng thống Hàn Quốc, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang, Chủ tịch nước Lào, Tổng thống Peru, Tổng thống Rwanda, Tổng Giám đốc UNDP và Tổng Thư ký OECD được mời là diễn giả chính tại hội nghị.

CTN CHxhcnVN cam kết không dấu nghề xây dựng thiên đường nông thôn mới XHCN

Chủ tịch nước đã nêu bật kinh nghiệm xây dựng nông thôn mới của Việt Nam, đặc biệt là cần có cam kết chính trị mạnh mẽ và sự tham gia tích cực của toàn xã hội; đồng thời coi trọng xây dựng và đào tạo đội ngũ cán bộ nòng cốt ở các cấp, trang bị cho họ kiến thức cơ bản về nông thôn mới để công cuộc nông thôn được tiến hành nhanh hơn và tiết kiệm được nguồn lực mới; xây dựng nông thôn mới phải do người dân làm chủ. Người dân sẽ tự tìm ra nhu cầu thực sự của họ để quyết định cách làm phù hợp và chính phủ cần ưu tiên hỗ trợ nguồn lực cho các nhu cầu thiết thực của họ; cần xã hội hóa, đa dạng hóa các nguồn lực và việc sử dụng các nguồn lực phải công khai, minh bạch theo phương châm “dân biết, dân làm, dân bàn, dân kiểm tra, dân thụ hưởng”. Chính phủ cần đưa ra các chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi cho các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội tham gia vào chương trình xây dựng nông thôn mới.

Cuối cùng, Chủ tịch nước nhấn mạnh Việt Nam sẵn sàng tiếp tục chia sẻ kinh nghiệm với các nước để cùng nhau phát triển nông nghiệp, nông thôn bền vững và bảo đảm “sẽ không ai bị bỏ lại sau”.

[:-/] Sau Thái Lan 100 năm, bị Campuchia vượt mặt (VNN) – Từ ngôi vị thứ 3 thế giới về xuất khẩu gạo, gần đây, Việt Nam bị một số đối thủ cạnh tranh như Thái Lan, Campuchia,… “vượt mặt” và nguy cơ mất dần thị trường. Chưa kể, chuyện làm thương hiệu gạo quốc gia của Việt Nam cũng gần giống Thái Lan cách đây cả… trăm năm trước.

[:-/] Gạo Việt sau Thái Lan 100 năm: Đừng hỏi vì sao… (BĐV) – Hai Tổng Công ty lương thực chuyên đi thu gom lúa gạo về trộn, có gì bán nấy, thử hỏi làm sao gạo Việt Nam không có thương hiệu?!

TS Lê Văn Bảnh, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL chia sẻ những suy nghĩ tâm huyết xung quanh thực trạng gạo Việt Nam đang tụt hậu so với Thái Lan và một số nước khác trong khu vực.

… Ở nước ngoài, một dòng xe bị lỗi, lập tức hãng xe thu hồi để đảm bảo uy tín thương hiệu. Còn Việt Nam cứ nói thương hiệu nhưng không tổ chức sản xuất để xây dựng vùng nguyên liệu đảm bảo, cứ “tay không bắt giặc” thì làm sao có được thương hiệu!

Lại hỏi tại sao gạo Thái Lan có 250 thương hiệu, còn Việt Nam chỉ mấy phần trăm? Là vì Thái Lan tổ chức sản xuất vùng nguyên liệu theo tiêu chuẩn đã cả trăm năm, còn Việt Nam mới “lớ ngớ” làm theo kiểu thủ công, bao cấp.

Tổng Công ty lương thực miền Bắc và miền Nam (Vinafood 1, Vinafood 2) đi thu gom lúa gạo về, có gì bán nấy. Đã là thu gom thì trong dân có gì mua nấy rồi trộn đại với nhau, có khi cả chục giống lúa gạo với nhau khong theo bất cứ một tiêu chuẩn nào.

Trong khi đó, ngày nay máy phân tích có thể phát hiện rất nhanh lô gạo này hạt cứng hay mềm, phần trăm tấm bao nhiêu… Bởi khâu tổ chức sản xuất của Việt Nam kém, chưa có vùng nguyên liệu tiêu chuẩn, do đó chớ nên nóng ruột mà đòi gạo thương hiệu”, ông Bảnh chỉ rõ.

[:-/] Nông sản ‘ngộp thở’ với hội nhập (NLĐ) – Ngay tại bàn trái cây phục vụ diễn đàn “Tiêu thụ hàng nông sản trong bối cảnh hội nhập, kinh nghiệm từ ĐBSCL” do Văn phòng Quốc hội tổ chức tại Cần Thơ trong hai ngày 1 và 2-10, ngoài dưa hấu còn có bòn bon Thái Lan. Điều này cho thấy mức độ thâm nhập sâu rộng của trái cây Thái Lan ngay ở nơi được coi là “vựa trái cây” VN.


Trái cây nội để dưới đất và “lép vế” với trái cây ngoại – Ảnh: Đình Tuyển

GS-TS Võ Tòng Xuân, chuyên gia nông nghiệp kỳ cựu, thẳng thắn: “Chúng ta không thể bắt người tiêu dùng phải sử dụng loại nông sản nội mà chất lượng không bằng, giá cả lại cao. Thí dụ như đường cát của mình sản xuất ra tại nhà máy đã là 12.600 đồng/kg trong khi đường Thái Lan qua đến đây mới có 8.000 đồng/kg thì hỏi làm sao cạnh tranh được nếu không có giải pháp căn cơ hạ giá thành”.

Cũng theo vị giáo sư này, ngoài trái cây, mía đường thì bắp, đậu nành cũng sẽ khốn khó ngay trên sân nhà do hiệu quả kinh tế, năng suất, chất lượng kém xa so với các sản phẩm quốc tế…

[:-/] Nghịch lý đời sống nông thôn: Làm nhiều hơn, thu nhập ít hơn (Dân Việt) “Người Việt Nam đang giàu hơn, nhưng thu nhập của nông dân đang ngày càng giảm đi, đồng nghĩa với việc họ phải nai lưng ra làm việc và tham gia nhiều công việc khác nhau để vượt qua khó khăn, duy trì cuộc sống”.

Báo NTNN số 187/2015 có đăng bài “Nông dân kém hài lòng về cuộc sống” phản ánh kết quả điều tra “Tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và thay đổi trong nông thôn Việt Nam – Sự trỗi dậy của con rồng mới nổi” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế T.Ư (CIEM) công bố. Để làm rõ hơn vấn đề này, NTNN đã phỏng vấn ông Lưu Đức Khải – Trưởng ban Chính sách nông nghiệp và phát triển nông thôn (CIEM).


Người dân xã Dền Sáng, huyện Bát Xát, Lào Cai kiếm sống bằng nghề thêu áo đem đi bán. Ảnh: Đ.D

…- Chỉ số hạnh phúc của nông dân trong cuộc điều tra này có xu hướng đi xuống theo từng năm. Nó thể hiện sự nghèo khó, túng bấn của một bộ phận không nhỏ người dân nông thôn hiện nay. Khi người dân nông thôn quá nghèo túng, làm không đủ sống thì bản thân họ sẽ không thể hạnh phúc…

Người Việt Nam đang giàu hơn, nhưng thu nhập của nông dân đang ngày càng giảm đi, đồng nghĩa với việc họ phải nai lưng ra làm việc và tham gia nhiều công việc khác nhau để vượt qua khó khăn, duy trì cuộc sống.

Kết quả điều tra của chúng tôi năm 2014 cho thấy, người dân nông thôn đang nghèo đi. Thu nhập ròng (trừ lạm phát) của hộ dân nông thôn chỉ đạt 51,7 triệu đồng/năm. Trong khi đó, thu nhập ròng của hộ dân nông thôn điều tra năm 2012 là 84,7 triệu đồng/năm. Tỷ lệ phần trăm người dân nông thôn không hài lòng về cuộc sống cũng tăng 6 điểm phần trăm từ 50,1% năm 2012 lên 56,1% năm 2014.

Các tỉnh vùng núi phía Bắc như Lào Cai, Điện Biên, Lai Châu đang tụt hậu nặng so với các tỉnh khác về thu nhập, tiếp cận dịch vụ thị trường và liên kết thị trường. Nhóm dân tộc thiểu số tiếp tục bị tụt hậu hơn so với các khu vực chủ yếu có người Kinh sinh sống, với mức độ chi tiêu thấp hơn và thu nhập giảm đi.

Một tỷ lệ lớn nông dân đang phải “thắt lưng buộc bụng”, giảm chi tiêu trong cuộc sống. Vì nghèo khó nên số tiền tích lũy được hàng năm của hộ gia đình nông thôn hiện rất thấp, chỉ khoảng vài triệu đồng/hộ/năm, phòng khi có rủi ro về thiên tai, dịch bệnh, ốm đau, tuổi già. Rất ít tiết kiệm được giữ cho mục đích đầu tư của hộ dân nông thôn.

…Thu nhập của nông dân quá thấp nhưng lại phải đối mặt với chi tiêu ngày càng đắt đỏ, khiến cuộc sống của họ rất bấp bênh. Có thể nói, kinh tế hộ gia đình nông thôn chưa bền vững.

Hiện các hộ càng nghèo thì càng phụ thuộc vào nông nghiệp, trong khi thu nhập từ nông nghiệp đang có dấu hiệu giảm nên đòi hỏi nhà làm chính sách nhập cuộc ngay để tránh tình trạng bần cùng hóa một bộ phận nông dân, đặc biệt những người do gặp rủi ro, không may mắn, ốm đau.

Nông dân đang chịu rất nhiều rủi ro, đặc biệt từ thời tiết, giá cả giống, phân bón biến động mạnh…

8 năm gia nhập WTO, một hạt thóc Việt
“cõng” hơn 100 khoản đóng góp

Minh Huệ (BizLive) – Đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định, nếu tình trạng “một hạt thóc nông dân sản xuất ra phải cõng hơn 100 khoản đóng góp; các loại phí chiếm tới 1/4 chi phí nuôi một con heo từ khi là con giống đến khi xuất chuồng” vẫn tiếp diễn thì năng lực cạnh tranh của hàng nông sản Việt Nam không thể cải thiện.


8 năm gia nhập WTO, hạt thóc Việt phải cõng 100 khoản đóng góp

Đây là đánh giá về năng lực cạnh tranh của các sản phẩm hàng hóa Việt Nam sau khi gia nhập WTO của đoàn giám sát Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Báo cáo giám sát “Kết quả quá trình hội nhập kinh tế quốc tế từ khi Việt Nam là thành viên Tổ chức thương mại thế giới (WTO)”, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế năng lực cạnh tranh của các sản phẩm cũng chịu nhiều tác động.

“Từ sau khi Việt Nam gia nhập WTO cũng tạo ra áp lực cạnh tranh lớn hơn, khiến không ít các thương hiệu sản phẩm của Việt Nam bị mất đi dưới nhiều cách thức khác nhau (bị thâu tóm, bị mua sản phẩm và đóng mác thương hiệu nước khác…) trên thị trường quốc tế và ngay cả thị trường trong nước”, báo cáo viết.

Điều đáng nói, các sản phẩm, nhất là nông sản phải chịu nhiều khoản đóng góp, loại phí, làm tăng chi phí, giảm năng lực cạnh tranh của sản phẩm. “Theo Viện Thị trường và Giá cả (Bộ Tài chính), một hạt thóc nông dân sản xuất ra phải cõng hơn 100 khoản đóng góp; các loại phí chiếm tới 1/4 chi phí nuôi một con heo từ khi là con giống đến khi xuất chuồng”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội dẫn chứng.

Ủy ban Thường vụ Quốc hội cũng đánh giá, một số sản phẩm xuất khẩu quá phụ thuộc vào một số thị trường (rau quả, cao su tự nhiên, khoáng sản thô…) nên thiếu tính ổn định, không bền vững, dễ bị ép giá, ảnh hưởng đến tâm lý của người sản xuất, có thể dẫn đến mất ổn định xã hội, nhất là một số sản phẩm nông nghiệp mang tính thời vụ cao.

“Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam hiện nay chủ yếu vẫn là gia công và xuất khẩu các sản phẩm thô nên giá trị gia tăng trong sản phẩm thấp, làm giảm năng lực cạnh tranh của các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Bên cạnh đó, sức cạnh tranh của các sản phẩm Việt Nam chịu sự tác động lớn của nguyên liệu đầu vào. Hiện nay hầu hết các ngành sản xuất chủ lực đều phụ thuộc lớn vào nguyên liệu đầu vào nhập khẩu nên khi giá nguyên liệu nhập khẩu tăng ảnh hưởng lớn đến khả năng cạnh tranh của sản phẩm”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá.

Nếu lợi thế so sánh được tính trực tiếp thông qua tỷ trọng của từng mặt hàng trong tổng giá trị xuất khẩu, thì Ủy ban Thường vụ Quốc hội đánh giá Việt Nam có 5 mặt hàng có giá trị xuất khẩu lớn (hàng dệt may; hàng điện tử, máy tính và linh kiện; giày dép; hàng thủy sản; gỗ và sản phẩm gỗ) cho thấy sự thay đổi về lợi thế cạnh tranh của các sản phẩm này trước vào sau khi gia nhập WTO.

Kết quả cho thấy, tỷ trọng mặt hàng điện tử, máy tính và linh kiện tăng từ 4,5% năm 2007 lên 7,6% năm 2014, cao hơn so với giai đoạn trước khi gia nhập WTO (năm 2005: 4,4%; năm 2006: 4,5%) chủ yếu do hoạt động xuất khẩu của khu vực FDI. Trong khi đó, 4 mặt hàng còn lại có tỷ trọng giảm so với năm 2007 và giai đoạn 2007-2014 cũng giảm so với giai đoạn trước năm 2007.

“Điều này cho thấy, lợi thế so sánh của các ngành hàng đòi hỏi nhiều lao động như dệt may, giày dép, thủy sản, gỗ đang giảm xuống cùng với quá trình tăng cường yếu tố công nghệ cho tăng trưởng kinh tế, trong khi ngành hàng đòi hỏi nhiều vốn và yếu tố công nghệ (như ngành hàng điện tử, máy tính và linh kiện) có lợi thế so sánh tăng lên, xu hướng này phù hợp với xu thế phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định.

Theo đánh giá của cơ quan này, hầu hết các ngành sản xuất công nghiệp đều chịu tác động sau khi Việt Nam gia nhập WTO như dệt may, giấy, máy móc và thiết bị điện-điện tử, hóa chất, phân bón, thép… Đây là những nhóm mặt hàng, sản phẩm được nhà nước bảo hộ cao sử dụng nhiều lao động, có kim ngạch xuất khẩu lớn.

“Do đó, trong quá trình lập và phê duyệt quy hoạch phát triển ngành, sản phẩm công nghiệp (ngành thép, hóa chất, giấy, dệt may, xi măng, vật liệu xây dựng, ôtô…), các Bộ, ngành, địa phương đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm sản xuất trong nước, đáp ứng đủ nhu cầu thiết yếu của người dân và tiến tới xuất khẩu”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận định.

Mặc dù đã quan tâm đến việc lựa chọn công nghệ sản xuất tập trung đi liền với phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ; cung cấp nguồn nguyên liệu tại chỗ, các sản phẩm có lợi thế so sánh và lợi thế cạnh tranh cao nhưng hiệu quả chưa đáp ứng được yêu cầu.

“Trong thời gian qua Chính phủ đã tập trung phát triển công nghệ sản xuất các ngành dệt may, da giầy, điện tử, sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo, công nghệ cao, nhưng hiệu quả phát triển chưa cao, sản xuất lắp ráp ô tô, cơ khí chế tạo không đáp ứng yêu cầu tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, ngành dệt may, da giầy chủ yếu là gia công. Điều này đòi hỏi cần có sự rà soát thường xuyên, để điều chỉnh định hướng phát triển cho phù hợp”, Ủy ban Thường vụ Quốc hội yêu cầu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s