Việt Nam đàm phán TPP về vấn đề lao động ra sao?

Posted: October 6, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thảo Vy (VNTB) – Hiệp định hợp tác Kinh tế chiến lược Xuyên Thái Bình Dương (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement – còn gọi là TPP) là một Hiệp định thương mại tự do nhiều bên, được ký kết với mục tiêu thiết lập một mặt bằng thương mại tự do chung cho các nước khu vực châu Á Thái Bình Dương.

� Xem thêm: Cải cách để hưởng lợi từ TPP + “Đường ray là kinh tế thị trường, đầu máy là kinh tế tư nhân”.


Ảnh minh họa

Vì vậy, cùng với WTO, việc trở thành thành viên của TPP là một trong những dấu hiệu khẳng định sự hội nhập toàn diện kinh tế của Việt Nam với nền kinh tế toàn cầu và là dấu hiệu quan trọng của một môi trường đầu tư hấp dẫn.

Đàm phán mật

Đàm phán TPP được thỏa thuận là đàm phán mật. Do đó ngoài các đoàn đàm phán và các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ từng nước, không có chủ thể nào khác được thông tin chính thức và chính xác về các nội dung đàm phán cụ thể. Tuy nhiên, qua các nguồn thông tin bị rò rỉ cho thấy TPP không chỉ bàn về các vấn đề thương mại, dịch vụ, đầu tư mà còn “lấn” sang cả lĩnh vực phi thương mại khác.

Trước kia khi đàm phán WTO, Việt Nam chỉ phải đàm phán 2 lĩnh vực là mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ, cùng với đàm phán đa phương, thì nay sang TPP, Việt Nam phải đàm phán tới 30 chương, trong đó có những lĩnh vực lần đầu tiên như công đoàn, lao động, doanh nghiệp Nhà nước.

Trong thương mại, hiệp định yêu cầu phải mở cửa hoàn toàn thị trường trong lộ trình rất ngắn, tức là mức thuế gần như về 0%, chỉ trừ một số rất ít mặt hàng cực kỳ nhạy cảm sẽ qua cơ chế song phương. Đây được đánh giá là một phạm vi toàn diện hơn bất kỳ FTA nào. Ở lĩnh vực tài chính, sau WTO, gần như Việt Nam chưa đàm phán một hiệp định nào yêu cầu mở cửa tự do quy mô lớn ở lĩnh vực này. Song so với Hiệp định thương mại dịch vụ (GATS) của WTO, đàm phán dịch vụ tài chính trong TPP đã có nhiều khác biệt lớn.

Đàm phán TPP được thực hiện theo phương thức tiếp cận “chọn – bỏ”, khác với phương thức “chọn – cho” của WTO. Điều này có nghĩa TPP chỉ cho phép các nước bảo lưu một số lượng hạn chế các ngành, phân ngành và phải giải trình với lý do hợp lý để được bảo lưu. Nếu không giải trình được lý do nhạy cảm đó, thì phải tuân thủ đúng những nguyên tắc TPP, tức là phải mở cửa. Còn với khi đàm phán WTO, Việt Nam được chọn mở ngành nào sẽ mở ngành đó.

Lao động Việt Nam được bảo hộ theo cam kết Lao động quốc tế?

Chương lao động cũng hoàn toàn mới không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với nhiều đối tác trong đàm phán TPP, hầu như chưa từng xuất hiện trong các đàm phán thương mại trước đây (bao gồm cả WTO và các FTA thế hệ trước).

Trung tâm WTO đánh giá đàm phán về lao động chủ yếu tập trung xung quanh các cam kết liên quan tới các quyền lao động cơ bản. Đây không phải là những nội dung mới bởi hầu hết đã có trong các Công ước của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), nhưng lại đặt ra thách thức lớn cho hầu hết các nước vì nhiều nước trong số này chưa gia nhập hoặc chưa phải thành viên của tất cả các Công ước liên quan của ILO.

Ngày 24/9/1982, VN gia nhập Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966. Tuy nhiên, vì nhiều nguyên nhân khác nhau nên sau khi phê chuẩn nhưng VN chưa triển khai thực hiện triệt để.

Điều 8 của Công ước này quy định: “1. Các quốc gia thành viên Công ước cam kết bảo đảm: a) Quyền của mọi người được thành lập và gia nhập công đoàn do mình lựa chọn, theo quy chế của tổ chức đó, để thúc đẩy và bảo vệ các lợi ích kinh tế và xã hội của mình. Việc thực hiện quyền này chỉ bị những hạn chế quy định trong pháp pháp luật và là cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích của an ninh quốc gia và trật tự công cộng, hoặc vì mục đích bảo vệ các quyền và tự do của những người khác; b) Quyền của các tổ chức công đoàn được thành lập các liên hiệp công đoàn quốc gia và quyền của các liên hiệp công đoàn quốc gia được thành lập hay gia nhập các tổ chức công đoàn quốc tế; c) Quyền của các công đoàn được hoạt động tự do, không bị bất kỳ sự hạn chế nào ngoài những hạn chế do pháp luật luật quy định và là cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích an ninh quốc gia và trật tự công cộng, hoặc nhằm mục đích bảo vệ các quyền và tự do của người khác; d) Quyền đình công với điều kiện là quyền này phải được thực hiện phù hợp với pháp luật của mỗi nước.

2. Điều khoản này không ngăn cản việc áp đặt những hạn chế hợp pháp trong việc thi hành những quyền nói trên đối với những nhân viên phục vụ trong các lực lượng vũ trang, cảnh sát hoặc bộ máy chính quyền.

3. Không quy định nào trong điều này cho phép các quốc gia thành viên của Công ước về tự do lập hội và bảo vệ quyền được lập hội năm 1948 của Tổ chức Lao động quốc tế được sử dụng các biện pháp lập pháp hoặc hành pháp mà có thể làm tổn hại đến các bảo đảm nêu trong Công ước đó”.

Như vậy, theo công ước mà VN đã gia nhập nêu trên đều cho phép việc thực hiện quyền tự do công đoàn một cách không hạn chế. Việc tự do lập hội và tham gia tổ chức nghề nghiệp là quyền cơ bản của con người nói chung và quyền của người lao động nói riêng. Việc có công đoàn độc lập thể hiện quyền xã hội của người lao động và tối cần thiết trong nền kinh tế thị trường.

Ở VN có Luật Công đoàn, tuy nhiên việc gắn vấn đề xã hội – chính trị nhiều hơn là đại diện cho các quan hệ lao động. Vì vậy, việc hình thành nền kinh tế thị trường và tham gia các hiệp định về thương mại thì đương nhiên VN phải chấp nhận cuộc chơi bình đẳng. Không vì lấy lý do thể chế chính trị để hạn chế quyền của người lao động đối với việc hình thành và tham gia công đoàn độc lập.

TPP và FTA: điều khoản lao động tương đồng

Đặc điểm cơ bản của những điều khoản lao động trong các FTA (Free Trade Agreements – Hiệp định thương mại tự do) mà Hoa Kỳ đã ký đều có một chương riêng về lao động. Chương này có 8 điều, điều đầu tiên là tuyên bố về những cam kết chung, điều thứ hai là những quyền lao động cơ bản, viện dẫn đến 8 công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế. Điều thứ ba là việc áp dụng và thực hiện các chế tài thực hiện luật lao động, điều thứ tư là các đảm bảo mang tính thủ tục và thông tin công khai, điều thứ năm là các thu xếp mang tính thiết chế, điều thứ sáu là hợp tác về lao động, điều thứ bảy là tham vấn lao động, và cuối cùng là các định nghĩa và các khái niệm được dùng trong hiệp định này.

Về nội dung của cả phần lao động, theo quy định, tất cả các hiệp định thương mại tự do được chính phủ Hoa Kỳ đàm phán và ký kết đều bắt buộc phải bao gồm sáu nội dung. Nội dung thứ nhất là đảm bảo quyền tự do hiệp hội, ở đây chính là quyền thành lập và gia nhập công đoàn, cũng như quyền tổ chức đại diện để thương lượng với giới sử dụng lao động, đảm bảo quyền tự do thương lượng tập thể, cụ thể là thương lượng giữa đại diện của người lao động và người sử dụng lao động ở cấp doanh nghiệp và cấp ngành về những vấn đề liên quan đến lao động thôi. Điểm thứ ba là xóa bỏ lao động cưỡng bức, thực chất là không được ép buộc người lao động trong quá trình tuyển mộ và sử dung lao động bằng cách lừa đảo, dụ dỗ, cưỡng chế, ép buộc, hoặc buôn bán người. Điểm thứ tư là xóa bỏ lao động trẻ em, nghiêm cấm các hình thức lao động trẻ em tồi tệ nhất, như cấm sử dụng lao động trẻ em trong các nghê liên quan đến xuất khẩu, các ngành nghề nặng nhọc, độc hại. Và điểm thứ năm, là xóa bỏ phân biệt đối xử giữa nam và nữ trong nghề nghiệp và trả công lao động. Gần đây, Hoa Kỳ đưa thêm một điểm thứ sáu, là đảm bảo các điều kiện làm việc ở mức độ chấp nhận được về tiền lương tối thiểu, thời lượng làm việc, và an toàn vệ sinh lao động. Đấy là nội dung của cam kết lao động trong hiệp định này.

Về mức độ cam kết và tính ràng buộc, chế tài của các điều khoản lao động mà Hoa Kỳ đã ký và sẽ ký phụ thuốc vào mối quan hệ và tương quan lực lượng trên bàn đàm phán, nhưng Hoa Kỳ bắt buộc phải đạt được những mức tối thiểu như sau:

(1) Các tiêu chuẩn lao động tối thiểu phải bao gồm tất cả các công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế, chứ không chỉ dừng lại ở 8 công ước cơ bản. Quốc hội họp thì mục tiêu đặt ra là 8 công ước cơ bản, nhưng Hoa Kỳ muốn nhiều hơn. Mức độ cam kết sẽ cao hơn. Các kỳ FTA trước đây chỉ ghi là “các nước tôn trọng và bảo đảm thực hiện các cam kết này”, nhưng trong lời văn của hiệp định do Hoa Kỳ ký với Peru và Hàn Quốc, Panama, Columbia thì ghi rằng “thông qua và duy trì trong pháp luật và trong thực tiễn các nguyên tắc và các quyền cơ bản của người lao động được thể hiện ở trong tuyên bố của Tổ chức Lao động Quốc tế”, như vậy là cam kết ở mức rất cao.

(2) Nghĩa vụ tuân thủ cũng cao hơn, luật pháp lao động quốc gia phải thể hiện đầy đủ, toàn diện các tiêu chuẩn lao động quốc tế, không cho phép các trường hợp châm trước hoặc sai phạm. Ví dụ, trong các hiệp định trước đây Chile đã ký với Hoa Kỳ thì cho rằng vì nguồn lực của quốc gia hạn chế, nên việc phân bổ nguồn lực, dành ưu tiên cho ngành nào đó là một lý do để giải thích cho sự không chấp hành hoặc không tuân thủ vấn đề này trong Hiệp định. Nhưng gần đây Hoa Kỳ nói rằng cái đó cũng không phải là lý do.Hoa Kỳ cũng không cho phép Việt Nam có giai đoạn chuyển tiếp, vì cho rằng, đã là quyền con người thì phải được phổ cập cho tất cả các quốc gia, tất cả mọi người, hoặc chỉ nhân nhượng cho các nước đang phát triển, chỉ có sự hỗ trợ, sự hợp tác để cùng tuân thủ tốt điều này nhưng mức độ cam kết thì phải giữ ở mức cao.

(3) Quy trình giải quyết tranh chấp mang tính cưỡng chế, bắt buộc, và kèm theo xử phạt. Gần đây Hoa Kỳ đưa ra một yêu cầu, đó là quy trình để xử lý tranh chấp theo tuần tự từ tham vấn, gặp mặt, trao đổi, sau đó mới đi đến xử phạt. Nhưng Hoa Kỳ cho rằng có thể đưa vấn đề ra theo cơ chế giải quyết tranh chấp thương mại, và giải quyết tranh chấp trong lao động cũng áp dụng như trong tranh chấp thương mại, tạo thành một cơ chế chung trong hiệp định, chứ không tách biệt ra. Với chế tài, như trong hiệp định của NAFTA, có quy định mức xử phạt khoảng 15 triệu USD, nhưng số tiền này không phải là sẽ đưa về nước khiếu kiện, mà để lại cho nước bị kiện, để họ khắc phục những khiếm khuyết.

(4) Cơ chế tham vấn rộng, Hoa Kỳ đòi hỏi phải tham vấn từ trong quá trình đàm phán, trong quá trình thực hiện, và không chỉ là với các đối tác liên quan mà sự tham gia của công chúng là rất rộng rãi.

(5) Có một cơ chế hợp tác để nâng cao năng lực thực thi cam kết này, và thông thường là trong đó có nêu mục tiêu, nguyên tắc, phương thức hợp tác.

Con tàu hội nhập thì đang chạy, Việt Nam là nước kém, chậm phát triển, muốn lên tàu thì phải chạy, chứ không thể nói là chờ đoàn tàu dừng lại, chờ Việt Nam lên rồi mới chạy tiếp.

Cải cách để hưởng lợi từ TPP

Dương Ngọc (NLĐ) – Việt Nam sẽ hưởng lợi nhiều từ TPP nếu cải cách mạnh mẽ hệ thống ngân hàng và các doanh nghiệp nhà nước.

Báo cáo cập nhật Kinh tế khu vực Đông Á – Thái Bình Dương của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố hôm 5-10 đã đánh giá hoạt động kinh tế Việt Nam trong năm 2015 sôi nổi nhờ cầu khu vực tư nhân tăng.

Báo cáo đưa ra dự kiến tăng trưởng kinh tế Việt Nam sẽ đạt trên 6% trong năm 2015 nhờ cầu trong nước mạnh, qua đó phản ánh tăng trưởng tiêu dùng cá nhân và đầu tư. Tuy nhiên, thâm hụt ngân sách (tính cả trả nợ gốc) dự tính chiếm 5,6% GDP trong nửa đầu năm 2015. Hiệu quả thu ngân sách kém trong khi chi thường xuyên và chi đầu tư cơ bản tăng. Tổng nợ công và nợ do Chính phủ bảo lãnh tiếp tục tăng và đạt mức 59,6% trong năm 2014. Tuy nợ công vẫn nằm trong giới hạn bền vững nhưng chi phí trả nợ đã bắt đầu ăn vào các khoản chi hỗ trợ sản xuất khác trong ngân sách.

Ông Sandeep Mahajan, chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Việt Nam, nhận định: “Mặc dù tác động cụ thể thế nào còn phụ thuộc vào kết quả đàm phán Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) song nhìn chung, những tác động TPP tới Việt Nam là khá tích cực, sẽ liên quan đến khoảng 8%-10% của GDP đến năm 2030. Mức tăng có thể còn cao hơn. Điều này tùy thuộc trong thỏa thuận nội dung của TPP và cả cải cách ở Việt Nam”.

Theo ông Mahajan, Việt Nam cần cải cách ở ngành ngân hàng do mức nợ xấu còn khá cao. Công ty Quản lý tài sản (VAMC) đã và đang tích lũy, chuyển nợ xấu từ ngân hàng vào bảng cân đối tài sản của mình trong 2 năm qua và đang điều hành một lượng tài sản lên đến hàng ngàn tỉ đồng.

“Tuy nhiên, chúng ta cần tìm các cơ chế dựa trên thị trường nhằm giải quyết những khoản nợ xấu này để có thể định giá và bán nợ xấu một cách phù hợp, được thị trường chấp nhận. Bên cạnh đó, cần những cải cách về mặt pháp lý như cải cách luật về phá sản, nếu không thì VAMC không đạt được mục tiêu đã đặt ra” – ông Mahajan đánh giá.

Chuyên gia kinh tế WB khuyến cáo Việt Nam rất cần cải cách các doanh nghiệp nhà nước theo kế hoạch cổ phần hóa của quốc gia và tạo ra một sân chơi công bằng, bình đẳng cho tất cả doanh nghiệp. Ngoài ra, những thể chế về thị trường, quyền sở hữu tài sản cá nhân là những lĩnh vực cải cách tiềm năng trong tương lai để có thể cải cách hơn nữa tăng trưởng của Việt Nam.

“Đường ray là kinh tế thị trường, đầu máy là kinh tế tư nhân”

(VnEconomy) – Sau những tháng ngày “chìm – nổi” (do sai lầm ý thức hệ của thể chế Cộng sản), doanh nghiệp tư nhân dần khẳng định được vị thế…


Việt Nam bắt đầu từ nền kinh tế chợ quê tới kinh tế mặt phố và cho đến hiện nay là “mon men” vào nền
kinh tế siêu thị. Tất cả những giai đoạn này đều ghi nhận sự phát triển nội lực của doanh nghiệp tư nhân.

[Mất bao năm xây dựng CNXH phục vụ nhóm lợi ích lớn nhất là ĐCSVN để nói ra một điều mà nhiều người đã biết từ lâu:] “Thị trường là cơ chế vận hành của nền kinh tế, còn kinh tế tư nhân chính là động lực của nền kinh tế. Nếu như ví nền kinh tế Việt Nam như con tàu cao tốc, thì đường ray chính là kinh tế thị trường, còn đầu máy chính là kinh tế tư nhân”.

Đưa ra so sánh trên tại hội thảo “Động lực phát triển kinh tế tư nhân” diễn ra hôm 3/10, TS. Vũ Tiến Lộc, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) khẳng định, khi Việt Nam bắt đầu cải cách 30 năm trước, chúng ta thường dùng cụm từ “nền kinh tế nhiều thành phần”, thực chất là kinh tế thị trường, và sau này chúng ta mới chính thức dùng “kinh tế thị trường” trong các văn kiện của Đại hội Đảng.

Nhưng tại thời điểm hiện nay, ông nói, kinh tế tư nhân mới chính là từ khóa, là sự thay đổi lớn nhất của tư duy.

“Ở khắp nơi trên thế giới, chúng ta đều có thể thấy được bức tranh tương phản của các nền kinh tế chú trọng về kinh tế tư nhân và các nền kinh tế chú trọng kinh tế nhà nước. Nhưng nhìn chung, chúng ta không thể phủ nhận kinh tế tư nhân mới chính là động lực để phát triển nền kinh tế. Vai trò của Nhà nước rất quan trọng, nhưng động lực để phát triển lại chính là kinh tế tư nhân”, ông Lộc phát biểu.

Đánh giá về vai trò và vị thế của kinh tế tư nhân trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, ông Nguyễn Văn Trung, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói, từ chỗ có 4.000 doanh nghiệp, đến nay đã có 500.000 doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân.

Việt Nam bắt đầu từ nền kinh tế chợ quê tới kinh tế mặt phố và cho đến hiện nay là “mon men” vào nền kinh tế siêu thị. Tất cả những giai đoạn này đều ghi nhận sự phát triển nội lực của doanh nghiệp tư nhân.

Đề cập đến khuôn khổ pháp lý cho hoạt động của kinh tế tư nhân, ông Trung tổng kết, Việt Nam đã đi một bước dài về chính sách. Luật Doanh nghiệp năm 1999 có hiệu lực năm 2000 được xem là cuộc cách mạng cho đội ngũ doanh nghiệp, tạo ra bước ngoặt lớn đối với nền kinh tế.

“Chúng ta nói nhiều tới đột phá về thể chế, cơ sở hạ tầng, tái cấu trúc… nhưng cũng phải nhìn nhận rằng, để có thể tạo nên sự đột phá đó phải kể đến vai trò và vị thế to lớn của doanh nghiệp tư nhân trong nước và nước ngoài”, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư nói.

Với nhiều năm nghiên cứu về hoạt động của cộng đồng doanh nghiệp trong sự phát triển của nền kinh tế, ông Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu và quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nói: “Một nền kinh tế sẽ không thể phát triển được nếu kinh tế tư nhân không phải là đầu tàu. Việc hoàn thiện thể chế là do Nhà nước tạo nên. Doanh nghiệp là đối tượng sử dụng thể chế nên phải có trách nhiệm thúc đẩy để hoàn thiện thể chế, hay nói cách khác là phải chủ động để tạo sự thay đổi”.

Theo ông Cung, thể chế bao gồm thể chế chính thức và phi chính thức. Thể chế chính thức là các luật lệ do Nhà nước ban hành và thể chế phi chính thức là các chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp.

Tư bản hoang dã định hướng XHCN: Ngoài thể chế ra, hiện tại Việt Nam còn có “luật rừng”. Nhưng nếu như thể chế chính thức và phi chính thức phát triển mạnh, thì có thể áp đảo được “luật rừng” và ngược lại.

“Cộng đồng doanh nghiệp cần đồng lòng, đồng sức và đồng lực thúc đẩy cho một thị trường đầy đủ và bao dung, vì sự phát triển và lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân trong nước, trở thành động lực của tăng trưởng kinh tế và thịnh vượng quốc gia”, ông Cung nhấn mạnh.

Trước các vấn đề về khuôn khổ pháp lý và thể chế được nêu, ông Nguyễn Văn Phúc, Phó chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế Quốc hội nói: “Ủy ban Kinh tế Quốc hội nói riêng và Quốc hội nói chung đã theo dõi rất sát sao việc ban hành các văn bản. Trong Quốc hội cũng có hơn 40 đại biểu là doanh nhân. Họ thường xuyên đưa việc ban hành văn bản hướng dẫn chậm tại các kỳ họp Quốc hội. Qua đó, Chính phủ cũng đã có những chỉ đạo cụ thể để từng bước khắc phục việc này. Tuy nhiên, vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu của doanh nghiệp”.

Ông Phúc hy vọng, thời gian tới, VCCI với vai trò là cơ quan đại diện của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân sẽ tiếp tục kiến nghị lên Chính phủ để thúc đẩy hơn nữa việc ban hành các văn bản pháp luật để luật sớm được đi vào đời sống.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s