TPP: Chính phủ chuẩn bị gì cho làn sóng thất nghiệp

Posted: October 9, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Bên cạnh lợi ích lớn lao về tăng GDP, tăng xuất khẩu, thu hút đầu tư và cải cách thể chế, Việt Nam có thể đối diện một làn sóng thất nghiệp lớn, vì một số lĩnh vực sản xuất bị xóa sổ hoặc thu hẹp do không có khả năng cạnh tranh khi hàng rào thuế quan của 12 nước thành viên TPP được gỡ bỏ. Chính phủ Việt Nam có chuẩn bị gì để đối phó với tình hình này.

� Xem thêm: Làm gì khi “nước tới trôn”? + Khoảng cách giữa lời nói và việc làm còn xa.

000_Hkg9235699-712.jpgNgay tại Hà Nội những thanh niên thất nghiệp ngồi chờ hàng ngày ở các ngã ba ngã tư đường xem có ai mướn làm bất cứ công việc gì theo giờ hay theo ngày. AFP photo

Thiệt hại khó tránh khỏi

Bộ trưởng Công thương Việt Nam Vũ Huy Hoàng tuyên bố ở Atlanta Hoa Kỳ hôm 5/10 rằng, khi TPP có hiệu lực, lực lượng lao động trong một số ngành sản xuất kém cạnh tranh sẽ bị thất nghiệp. Theo trích thuật của báo chí Việt Nam, ông Bộ trưởng dự kiến ngành chăn nuôi sẽ gặp nhiều khó khăn nhất. Kế đến là những doanh nghiệp nhà nước dựa vào bao cấp và những doanh nghiệp có công nghệ sản xuất và kinh doanh lạc hậu.

Được biết 52% GDP tổng sản phẩm nội địa được tích góp từ nền kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam. Hầu hết hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, tiểu thủ công nghiệp. Cạnh tranh quốc tế của nền kinh tế hộ gia đình là bất khả, vì qui mô quá nhỏ bé, ít vốn và không có năng lực cạnh tranh. Sự thật hiển nhiên đến nỗi kinh tế gia Lê Đăng Doanh ở Hà nội từng nhận định:

    Nếu Việt Nam cạnh tranh quốc tế mà lại cạnh tranh với các hộ gia đình quá nhỏ thì điều ấy là mối nguy cơ rất lớn
– Kinh tế gia Lê Đăng Doanh   

“Nếu Việt Nam cạnh tranh quốc tế mà lại cạnh tranh với các hộ gia đình quá nhỏ thì điều ấy là mối nguy cơ rất lớn.”

Diện mạo nền kinh tế hộ gia đình ở Việt Nam với khoảng từ 15 tới 17 triệu hộ, sẽ có nhiều thay đổi dù muốn dù không, cùng với tốc độ hội nhập chóng mặt của kinh tế Việt Nam. Sẽ có nhiều loại cây trồng phải thay đổi vì không thể cạnh tranh, đặc biệt là ngành chăn nuôi sẽ gần như xóa sổ hoặc thu hẹp đến mức giới hạn nhất. Điều mà chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, nguyên thành viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Chính phủ từng nhận xét trên báo chí. Bà nói, trong hội nhập Việt Nam phải biết chấp nhận từ bỏ một số ngành không có lợi thế vì nhiều ngành khác…Hội nhập cũng đặt ra bài toán lựa chọn ngành để đầu tư, phát triển và phải biết từ bỏ một số ngành yếu kém.

Tác động tích cực

TS Huỳnh Thế Du, giảng viên Chương trình kinh tế Fulbright TP.HCM nhận định rằng, Việt Nam cần có nhiều nỗ lực để nhanh chóng thực hiện chuyển dịch cơ cấu lao động và việc làm sang những lĩnh vực hiệu quả. Ông nói:

Nghề mua bán ve chai, đồ phế thải cũng rất thịnh hành vì số người thất nghiệp ngày một nhiều. AFP

Thí dụ về nông nghiệp chẳng hạn, những cây trồng, vật nuôi mà không có lợi thế cạnh tranh có thể chuyển ngay sang những cây trồng vật nuôi có lợi thế cạnh tranh. Như thế phần lợi ích sẽ được nhiều, ngược lại nếu quá trình chuyển đổi không diễn ra nhanh chóng mà để chậm trễ, thì số người bị ảnh hưởng sẽ nhiều hơn, lúc đó nó sẽ gây ra những trục trặc trong xã hội.”

Trả lời Nam Nguyên, TS Võ Trí Thành, Phó viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương ở Hà Nội cho rằng, khi TPP có hiệu lực thì bên cạnh các tác động tích cực cho nền kinh tế Việt Nam như  tăng xuất khẩu, tăng GDP, tăng đầu tư và nâng cao hơn mức độ cải cách thể chế, còn là những ảnh hưởng không mong muốn đối với một số lĩnh vực. Ông nói:

“ Gắn với các tác động tích cực ấy cũng hàm nghĩa về lao động và dịch chuyển lao động, sẽ có rất nhiều công ăn việc làm có thể là hàng triệu công ăn việc làm mới được tạo ra cho những ngành Việt Nam có lợi thế. Đây cũng là một cách để thu hút lao động từ các lĩnh vực khác, có thể chịu những tác động tiêu cực TPP như là ngành chăn nuôi. Thứ hai nữa rất quan trọng là sự dịch chuyển sang lĩnh vực công nghiệp chế biến này, tạo điều kiện rất tốt cho Việt Nam tiến hành cải cách cơ cấu cho Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, mà ở đó vẫn còn khoảng 47% lực lượng lao động và năng suất tương đối là thấp…”

    Gắn với các tác động tích cực ấy cũng hàm nghĩa về lao động và dịch chuyển lao động, sẽ có rất nhiều công ăn việc làm có thể là hàng triệu công ăn việc làm mới được tạo ra cho những ngành Việt Nam có lợi thế. Đây cũng là một cách để thu hút lao động từ các lĩnh vực khác
– TS Võ Trí Thành   

TS Võ Trí Thành cho rằng dịch chuyển lao động nằm trong tiên liệu của chính phủ. Trong mục đích thu hút người lao động bị thất nghiệp không chỉ trong chăn nuôi, mà còn những lãnh vực khác chịu ảnh hưởng bất lợi của TPP, cũng như quá trình cải cách doanh nghiệp doanh nghiệp nhà nước. Theo đó, một thành phần người lao động sẽ phải rời bỏ thị trường từng gắn bó với doanh nghiệp mình. Và chính phủ sẽ có sự hỗ trợ nhất định để giúp doanh nghiệp chuyển dịch, hoặc tìm một thị trường ngách trong lĩnh vực của mình mà vẫn còn khả năng cạnh tranh.

TS Võ Trí Thành tiếp lời:

“ Thứ hai là vấn đề đào tạo lao động, thứ ba là là có những chương trình hỗ trợ. Bài học này cũng không quá mới đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập, tuy rằng qui mô và mức độ có thể khác nhau, Ví dụ khi Việt nam ký hiệp định BTA với Hoa Kỳ thì cũng nằm trong giai đoạn Việt Nam tái cấu trúc doanh nghiệp nhà nước và hệ thống tài chính ngân hàng của Việt Nam. Lúc ấy rất nhiều doanh nghiệp kể cả những nhà hoạch định chính sách cũng rất lo ngại việc Việt Nam có thể tiếp cận thị trường Hoa Kỳ, luật rất cao đòi hỏi các tiêu chuẩn cũng khá cao. Nhưng mọi việc cho thấy Việt Nam đã tận dụng được các cơ hội và Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam.”

Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Võ Trí Thành kết luận, ở đây có hai vấn đề. Một là nhìn thấy tác động tích cực mà tác động ấy có thể lan tỏa đến cả những lĩnh vực có khả năng chịu nhiều thiệt thòi. Hai là một chương trình chính sách hổ trợ tích cực của nhà nước để giảm thiểu chi phí điều chỉnh trong quá trình cải cách, cũng như hội nhập và thực thi GDP.

Tiên liệu của chính phủ trong dịch chuyển lao động trên thực tế đã được hoạch định, hai năm sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Cuối năm 2009 Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Báo cáo năm 2013 cho thấy sau ba năm thực hiện, chương trình này đã dạy nghề cho 1,1 triệu nông dân trên toàn quốc. Tuy nhiên có tới 61% số nông dân hoàn tất học nghề vẫn trở lại làm nghề nông. Nông dân học nghề xong muốn ly nông bất ly hương, nhưng không có nhiều doanh nghiệp quyết định đầu tư vào nông thôn. Gần đây chính phủ có nhiều chính sách ưu đãi hơn, nhưng tiến bộ cụ thể chưa thấy rõ.

Các nhà hoạch định chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đặt mục tiêu, giảm tỷ lệ lực lượng lao động trong nông nghiệp từ 47% xuống 30% vào năm 2020, để giúp tăng thu nhập cho khu vực nông thôn, thực hiện kế hoạch công nghiệp hóa và phát triển kinh tế bề vững. Phải chăng TPP sẽ tạo ra cơ hội này cho Việt Nam? Nhưng các chuyên gia nói có cơ hội là một chuyện, còn có tận dụng được nó hay không là một chuyện khác.

Làm gì khi “nước tới trôn”?

Hoàng Lan – Ngọc Bích (VNTB) theo TGTT – Lạ quá, Việt Nam bắt đầu nhập khẩu nông sản! Chỉ trong tám tháng đầu năm 2015, một đất nước nổi tiếng nhiều cây trái nhiệt đới đã nhập khẩu 360 triệu USD trái cây từ 13 quốc gia, trong đó chủ yếu là Thái Lan và Trung Quốc.


Theo bộ Công thương, xuất khẩu trái cây Việt Nam liên tục tăng, từ 827 triệu USD (2012)
lên 1 tỉ USD (2013) và 1,477 tỉ USD (2014). Năm 2015, mục tiêu xuất khẩu trái cây lên 2 tỉ USD.

Những trái cây nhập từ Thái Lan có cùng chủng loại ở đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) như sầu riêng, bòn bon, măng cụt, nhãn, xoài… bắt đầu tràn vào thị trường. Nhiều loại sầu riêng được khẳng định “không nhúng thuốc”. Giá trị nhập khẩu từ Thái Lan lên đến 134,8 triệu USD thực sự là mối lo ngại cho nông sản ĐBSCL, hay chính cách “nhắm mắt làm càn” khiến sức ép ngày càng gia tăng với sản xuất trong nước.

Tại ĐBSCL, nhiều khu vườn trái cây bản địa đã bị triệt hạ gần hết. Nhà vườn muốn bán trái cây phải nói “chôm chôm Thái, xoài, ổi Đài Loan…” Một sự thẩm thấu nhẹ nhàng đang lấn át nguồn gen bản địa chứ không chỉ là mua đi – bán lại theo đường tiểu ngạch.

Đã có những nỗ lực tái cơ cấu nông nghiệp, hình thành “Cánh đồng mẫu lớn”, kết nối “bốn nhà” (nhà nông, nhà ngân hàng, nhà khoa học, nhà doanh nghiệp chế biến – xuất khẩu). Tuy nhiên, những nỗ lực này chưa tạo được sức đột phá. Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nông lâm thuỷ sản chín tháng đầu năm 2015 là 21,65 tỉ USD, giảm 5% so với cùng kỳ năm 2014.

Từ cách đây hai năm, giá bán sản phẩm cây trồng ngắn ngày giảm 1,46%, cây ăn trái lâu năm giảm 2,46%, chăn nuôi giảm 9,09%, thuỷ sản giảm 0,39%. Và từ đó đến nay, giá đầu vào của sản xuất nông nghiệp như giống, phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi… luôn tăng cao. Cuộc cạnh tranh sau ngày 1.1.2016, khi “đoàn tàu” Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) chuyển động, sức ép đối với nông sản ĐBSCL sẽ càng gay gắt.

Nhất, nhì thế giới, sao vẫn nghèo?

Văn phòng Quốc hội tổ chức diễn đàn chính sách “Tiêu thụ hàng nông sản trong bối cảnh hội nhập: Kinh nghiệm từ ĐBSCL” tại thành phố Cần Thơ (1 – 2.10). Tại diễn đàn, TS Lê Đăng Doanh thẳng thắn nói: “Sự thật là dù xuất khẩu hàng nông sản của Việt Nam thuộc nhóm nhất, nhì thế giới nhưng phần lớn nông, lâm, thuỷ sản ở dạng thô hay sơ chế, giá trị gia tăng còn hạn chế, chất lượng thấp và không đồng đều”. Ở Mekong Connect CEO Forum 2015 do hội Doanh nghiệp Hàng Việt Nam chất lượng cao tổ chức tại Cần Thơ, và tại diễn đàn này ông Doanh nhấn mạnh “điểm nghẽn” khi phần lớn nông sản xuất khẩu của Việt Nam chưa có thương hiệu được quốc tế công nhận, từ gạo đến chè, càphê, hạt tiêu. Giá các sản phẩm xuất khẩu thuộc loại thấp so với nông sản Thái Lan hay các nước khác.

Ngày 4.9, “Mekong Connect” được đánh giá là sáng kiến kết nối lãnh đạo địa phương, doanh nghiệp của bốn tỉnh ABCD (An Giang, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp) nhằm hợp tác với nhau và với các doanh nghiệp tiên phong ở TP.HCM tốt hơn; một trong những trọng tâm thảo luận và kêu gọi hành động nhằm thúc đẩy nông nghiệp ĐBSCL tự tin khi hội nhập quốc tế.

Lúa gạo, trái cây, cá tôm… được đề cập như bài toán khó. Tại diễn đàn này, TS Doanh cho rằng nông dân trồng lúa không thể giàu lên được. Ông phân tích: “Nếu đạt 30% lợi nhuận cho người trồng lúa, mỗi nhân khẩu sản xuất lúa ở ĐBSCL có thể đạt mức lãi 3,8 triệu đồng/năm (khoảng 317.000 đồng/tháng), tức là dưới cả ngưỡng nghèo (400.000 đồng/tháng). Thu nhập của nông dân thấp, chưa bằng bình quân chung của cả nước. Nông sản các nước đang cạnh tranh ngày càng mạnh mẽ trên thị trường nội địa, đặc biệt là nông sản tại ĐBSCL”.
GS.TS Võ Tòng Xuân, hiệu trưởng trường ĐH Nam Cần Thơ xót xa nói: “Khi CEO của Apple, Tim Cook, cho biết ngày 29.9.2015, khi chiếc iPhone 6s mới xuất hiện trên thị trường đã bán được 13 triệu chiếc với giá từ 13 – 19 triệu đồng/chiếc, thì gạo – mặt hàng chiến lược của Việt Nam – bị tụt giá, thấp thê thảm mà vẫn không bán được. “May phước”, Philippines thiếu gạo đã đặt mua 450.000 tấn gạo giá rẻ của Việt Nam”. Vì sao có sự khác biệt lớn như vậy?

Đừng chạy theo số lượng nữa!

GS.TS Võ Tòng Xuân cho rằng: 1/ Sản xuất nông nghiệp không theo thị trường, duy ý chí, tự phát; 2/ Mỗi sản phẩm đưa ra thị trường chưa được tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị; cần thực hiện đúng quy trình GAP được liên kết bốn nhà, nòng cốt là doanh nghiệp đầu ra gắn kết với HTX nông nghiệp; 3/ Thị trường quyết định sự tiêu thụ mọi nông sản phẩm; cơ chế chính sách phải thay đổi, đặc biệt là những chính sách giúp đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, thu hút doanh nghiệp lớn đầu tư vào nông nghiệp, xem doanh nghiệp là lực lượng tiên phong thì mới có thể giải quyết được bài toán về thị trường; 4/ Doanh nghiệp có vai trò quyết định: tìm hoặc mở thị trường tiêu thụ sản phẩm chế biến từ nông sản nguyên liệu. Doanh nghiệp phải được đào tạo có bài bản và ưu đãi vốn sản xuất, hàng có thương hiệu…

Theo TS Lê Đăng Doanh, do phần lớn sản phẩm chưa tham gia chuỗi giá trị quốc tế, chưa có hợp đồng dài hạn hay hợp đồng giao sau, nên nông sản xuất khẩu khối lượng lớn nhưng rất bấp bênh và phụ thuộc quá nhiều vào một thị trường đầy may rủi là xuất khẩu tiểu ngạch hay biên mậu qua Trung Quốc. Phong trào rất thiện chí vận động “tiêu thụ giúp” cho nông dân tiêu thụ nông sản khê đọng, thực ra không thay thế được thị trường, không khắc phục được nhược điểm sản xuất không theo yêu cầu thị trường.

Nhiều chuyên gia kêu gọi “đừng chạy theo số lượng nữa, hãy chú tâm nhiều hơn vào việc nâng cao chất lượng (từ giống, tổ chức bảo quản, chế biến, tổ chức kênh phân phối, hàng hoá đúng quy cách…), đáp ứng đúng nhu cầu của nơi mua hàng. Riêng TS Lê Đăng Doanh kêu gọi: cần có quyết tâm lớn nhất và lãnh đạo sáng suốt để có chuyển biến mạnh mẽ, căn bản và hiệu quả; cần thu hút mạnh đầu tư vào ĐBSCL. Theo ông, ứng dụng khoa học – công nghệ có ý nghĩa quyết định năng lực cạnh tranh kinh tế, an ninh, quốc phòng và tăng trưởng bền vững ở vùng này.

Từ những góc nhìn khác, nhiều chuyên gia cho rằng cán bộ xúc tiến thương mại cũng phải học lại, phải nhập cuộc để thấy hết những nút thắt, rào cản, nghịch lý đang gây cản ngại, tiến tới đạt những tiêu chuẩn được thế giới công nhận. Đó là con đường duy nhất đúng, không thể ì ạch mãi.

[:-/] Khoảng cách giữa lời nói và việc làm còn xa ( Tư Giang TBKTSG Online) – Nhà nước cần rút ngắn khoảng cách giữa lời nói và việc làm trong hoàn thiện thể chế kinh tế để khu vực doanh nghiệp tư nhân có đất phát triển và cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập sâu rộng, Chủ tịch Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam Vũ Tiến Lộc kêu gọi.


Ông Vũ Tiến Lộc mơ mộng có 5 triệu doanh nghiệp tư nhân tới năm 2020. Ảnh TH.

Tại Đại hội Thi đua yêu nước Khối doanh nghiệp, doanh nhân toàn quốc lần thứ nhất do VCCI tổ chức sáng nay, ông Lộc nhắc lại sự kiện chỉ mới cách đây ba ngày, tại Atlanta, Hoa Kỳ, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã kết thúc đàm phán.

“Đây là niềm vui và cũng là nỗi lo của tất cả chúng ta. Cơ hội nhiều mà thách thức cũng vô cùng lớn. Cạnh tranh sẽ khắc nghiệt hơn,” ông nói.

Ông nhận xét, TPP và các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là trận tuyến của các doanh nghiệp, là chiến trường của các doanh nhân. Sự thành bại của một nền kinh tế trong hội nhập được quyết định bởi sức mạnh của đội ngũ doanh nhân. Doanh nhân là người lính xung trận và Nhà nước là hậu phương vững chắc.

Tuy nhiên, ông Lộc khẳng định, đất nước vẫn chưa giàu và hàng chục triệu người dân lam lũ ở cả nông thôn và thành thị vẫn đang thiếu việc làm, vẫn chưa có được cái “cần câu” để có thể thoát nghèo. Công cuộc đổi mới kinh tế vẫn chưa tới đích, mang lại sự giàu mạnh, phồn vinh cho đất nước và cho tất cả mọi người.

Ông nói: “Cả bộ máy chính trị có trách nhiệm hậu thuẫn cho đội ngũ doanh nhân trong sự nghiệp làm giàu và tạo cơ hội việc làm cho những người lao động. Phong trào thi đua yêu nước trong thời đại mới cần có quan điểm mới: làm giàu chân chính là yêu nước. Và ai cản trở sự nghiệp làm giàu chân chính của người dân là có tội với đất nước này.”

Ông cho rằng, muốn cho dân làm giàu, Nhà nước có trách nhiệm tạo ra một thể chế tốt, khuyến khích cạnh tranh sáng tạo và công bằng. Tuy nhiên, trên thực tế đang còn rất nhiều việc cần làm.

Sự thành bại của doanh nghiệp trong cuộc hội nhập với thế giới được quyết định không chỉ bởi khuôn khổ pháp luật, định hướng hay chính sách vĩ mô từ tầm Chính phủ, ở cấp trung ương mà còn được quyết định bởi những hành vi công vụ hàng ngày từ cấp xã phường, từ chị văn thư, anh hộ tịch…

Ông nhận xét, “khoảng cách giữa lời nói và việc làm còn xa.”

Vì vậy, theo ông Lộc, thách thức lớn nhất của công cuộc cải cách hành chính là khép lại khoảng cách giữa lời nói với việc làm, làm sao cho quyết tâm và chương trình đổi mới được quyết định từ cấp trung ương phải trở thành hành vi của đội ngũ công chức ở cơ sở. Một chính quyền vì dân phải hiện hữu trong thái độ tận tâm của từng công chức.

Theo VCCI, hiện tại có gần 500.000 doanh nghiệp, hơn 15.000 trang trại và hợp tác xã, trên 4 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động trên cả nước. Về số lượng, vào thời điểm hiện nay, bình quân 200 người dân mới có một doanh nghiệp, trong khi ở các nền kinh tế phát triển cao, 15-20 người dân là có một doanh nghiệp.

Có tới 96-97% các doanh nghiệp trong nền kinh tế nước ta có qui mô nhỏ và siêu nhỏ.

Ông kêu gọi: “Một cuộc cách mạng về khởi nghiệp cần phải bắt đầu, và có được con số 5 triệu doanh nghiệp trong tương lai xa và 1 triệu doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả vào năm 2020 phải là mục tiêu hướng tới.”

Ông cho rằng, cần có nhiều doanh nghiệp, doanh nhân đạt tầm cỡ trong khu vực ASEAN, châu Á và thế giới. Tháng 9 vừa qua, trong danh sách 400 người giàu nhất nước Mỹ do tạp chí Forbes công bố, chỉ có một doanh nhân người Việt được xếp ở vị trí 149.

Ông nói, doanh nhân của chúng ta đã thành công ở Hoa Kỳ. Một số doanh nhân nước ta cũng bắt đầu được xếp thứ hạng cao trong các nước châu Á và ASEAN. Nhưng những gương mặt đó chưa nhiều. Và để có được những doanh nghiệp, doanh nhân và thương hiệu hàng đầu cần những nỗ lực đột phá từ cả hai phía: từ cộng đồng kinh doanh và từ Nhà nước.

Theo ông, đội ngũ doanh nhân cần phải được xốc lại để vươn tới những chuẩn mực toàn cầu, để có thể cạnh tranh thắng lợi. Nhà nước phải đẩy mạnh cải cách thể chế để hậu thuẫn cho đội ngũ doanh nhân. Mệnh lệnh “đột phá để đổi mới”, để bắt kịp thiên hạ, lại một lần nữa vang lên sau chặng đường ba thập kỷ nền kinh tế nước ta chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s