Thách thức mới của nước Việt và chuyện người tài bị kiện

Posted: October 10, 2015 in Uncategorized
Tags:

Kỳ Duyên (VNN) – Nhưng chắc chắn một điều, từ hội nhập TPP của nước Việt đến một hợp đồng dân sự của công dân, đều đòi hỏi sự hiểu biết luật chơi một cách khôn ngoan và chặt chẽ, sự nỗ lực vượt bậc khi chấp nhận cuộc chơi, mới hy vọng… trưởng thành.

� Xem thêm: Kém xa Singapore, Thái Lan, sức ép của VN rất lớn.


Đoàn đàm phán TPP tại Atlanta ngày 5/10 vừa qua. Ảnh: VOV

Những ngày này, có một sự kiện lớn thu hút sự chú ý, quan tâm của cả XH, nhất là giới doanh nghiệp, bởi liên quan mật thiết đến vận mệnh sống còn của họ. Đó là Việt Nam đàm phán thành công việc gia nhập TPP- Hiệp định đối tác kinh tế xuyên Thái Bình Dương- gồm 12 quốc gia thành viên, bao gồm Úc, Brunei, Chile, Malaysia, Mexico, New Zealand, Canada, Peru, Singapore, VietNam, Mỹ và Nhật Bản.Khỏi phải nói trên các trang mạng truyền thông, hàng trăm bài báo nhất loạt bình luận sự kiện này dưới các góc nhìn đa chiều.

“Buôn có bạn bán có phường”

Cho dù là thời hiện đại, thì thành ngữ dân gian từ xa xưa của nước Việt buôn có bạn bán có phường vẫn luôn nóng hổi tính thời sự.

Dù vậy, đó chưa bao giờ là hành trình bằng phẳng êm ái với nước Việt, bởi trong thế giới này, với mỗi quốc gia khôn ngoan, lợi ích quốc gia, lợi ích dân tộc bao giờ cũng phải được đặt lên đầu tiên. Sự hội nhập buôn có bạn chỉ có thể thành công nếu mỗi quốc gia bình đẳng với các quốc gia khác về sức mạnh phát triển, giá trị văn minh, văn hóa, pháp luật thượng tôn. Chính vì thế, với một đất nước như VN, từ tư duy đến phong cách làm việc còn nặng tập quán tiểu nông, môi trường kinh tế và XH còn nhiều bất cập, thì sự buôn có bạn là thách thức rất lớn đòi hỏi sự nỗ lực, bởi phải tuân theo …. luật chơi quốc tế. Nhất là trong “phường TPP”, VN lại là quốc gia vào loại chậm phát triển.

Đi ngược lại thời gian, có thể thấy con đường hội nhập của nước Việt ba chìm bảy nổi, mặc dù lịch sử đàm phán thương mại với các nước Liên Xô (cũ), các nước Đông Âu có bề dầy, nhưng dẫu sao cũng vẫn là của khối XHCN một thời, có sự nhân nhượng, chấp nhận nhau. Còn đây là sự đàm phán của giữa các quốc gia có thể chế chính trị khác biệt, chỉ có một phần “giao thoa” là kinh tế thị trường. Mà thị trường thì thời nào cũng gay gắt như chiến trường, đòi hỏi mỗi quốc gia luôn tỉnh táo, trên luật chơi sòng phẳng.

Còn định mệnh cũng khiến hai quốc gia- VN và Mỹ vẫn luôn có những duyên nợ lịch sử kỳ lạ, từ quá khứ đến hiện tại.

Đó là Hiệp định Thương mại Việt Mỹ- BTA (7/2000), đánh dấu việc bình thường hóa quan hệ kinh tế Việt- Mỹ, khi mà “đồng vốn” hiểu biết  của VN chỉ là “tay không”… mặc cả. Hai năm sau BTA được ký kết, Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của VN. Từ mốc hội nhập này, VN phải học và chơi theo luật quốc tế. Với hàng loạt bộ luật được ban hành và sửa đổi, xác định rõ quyền tự do kinh doanh của thương nhân.

Đó là năm 2006, VN trở thành thành viên thứ 150 của WTO (Tổ chức Thương mại Thế giới), sau 11 năm với hơn 200 cuộc đàm phán đa phương, song phương. Kinh tế VN đã tạo ra một hiệu ứng khá mạnh. Ngay năm 2007, tổng giá trị hàng xuất nhập khẩu tăng 31,3%. Năm 2012, thương mại hàng hóa của VN đạt 228,31 tỷ USD, gấp đôi so với 2007 (theo VietNamNet, ngày 30/1/2014).

Và nay, tháng 10/2015, sau ròng rã 05 năm bàn thảo, VN thành công trong việc đàm phán gia nhập TPP, chỉ còn chờ đón mốc ký kết, với sự chấp thuận của Quốc hội 12 quốc gia, trong đó có Quốc hội VN.

Dưới con mắt các chuyên gia kinh tế kỳ cựu tham gia các cuộc đàm phán, hoặc quan sát các hiệp định, TPP mang lại những kỳ vọng lớn cho nền kinh tế nước nhà, bởi có phạm vi rộng hơn nhiều so với WTO. Theo nghiên cứu của VCCI (Phòng Thương mại và Công nghiệp VN), VN có thể có thêm 64 tỷ USD, có tốc độ tăng trưởng 13% nhờ quy mô xuất khẩu sẽ tăng 37% trong TPP. TPP có thể giúp VN đảo ngược tình thế nhập siêu quá lớn từ Trung Quốc. Đặc biệt, liên quan đến thể chế, TPP tạo áp lực cho khu vực DNNN, vốn bị coi là trì trệ, nhiều yếu kém phải thay đổi và phải cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác. Mọi sự hỗ trợ trực tiếp, gián tiếp đối với DNNN đều phải theo quy định trong TPP (VietNamNet, ngày 6/10).

Ai cũng biết, đặc điểm kinh tế thị trường VN cả về lý luận lẫn thực tiễn đều còn lúng túng, và chưa hoàn thiện. Cũng chính vì thế, trong thực tế, môi trường kinh tế VN còn khá nhiều bất cập, kéo theo sự bất bình đẳng giữa các khu vực kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, với các DN vừa và nhỏ. Mặc dù khu vực này tạo ra giá trị sản phẩm lớn, đóng góp tích cực tới 32% vào GDP (con số này ở DNNN chỉ 20%), thu hút khoảng 51% lực lượng lao động cả nước và tạo khoảng 1,2 triệu việc làm mỗi năm, nhưng lại chịu thiệt thòi về chính sách hỗ trợ, tiếp cận nguồn vốn vay, chưa kể trong thực tế, còn bị làm khó dễ bởi những điều kiện kinh doanh, thuế má.

Chính vì thế, hội thảo “Động lực phát triển kinh tế tư nhân” diễn ra chiều 3/10 tại Hà Nội, với mong muốn giúp DN và cộng đồng xã hội hiểu rõ vai trò, vị thế của DN tư nhân đối với nền kinh tế đất nước rất được chú ý- một dấu hiệu củng cố và xác lập vị trí, vai trò của DN tư nhân như một động lực của nền kinh tế trong giai đoạn mới- khi chỉ còn ít thời gian nữa, TPP sẽ được ký kết.

Không phải không có lý, khi tại hội thảo, ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI cho rằng động lực kinh tế tư nhân có hai vế: Thứ nhất, kinh tế tư nhân là động lực. Thứ hai, động lực để phát triển cho kinh tế tư nhân.

Ở vế thứ nhất là sự đổi mới tư duy. Ở vế thứ hai là giải pháp. Cả hai vế này đều phải gắn bó chặt chẽ mới làm nên sự biến đổi về chất của kinh tế tư nhân.


Ảnh: Dân trí

Ở vế kinh tế tư nhân là động lực, thực chất chưa diễn ra trong XH ta bởi nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, nhưng đã là thực tiễn sinh động ở các quốc gia phát triển và đang phát triển, như Mỹ và Cu ba chẳng hạn. Theo ông Vũ Tiến Lộc, Cu Ba có dân số 11 triệu dân và t/p New York (Mỹ) chỉ có 08 triệu dân. Nhưng tổng GDP của New York đạt trên 1.000 tỷ USD trong khi tổng GDP của Cu Ba chỉ đạt trên 70 triệu USD. Sự khác biệt của 02 nền kinh tế này nằm ở chỗ Cu Ba gần như không có DN tư nhân, chủ yếu là DNNN, môi trường kinh doanh không bình đẳng. Trong khi đó, t/p New York lại chủ yếu là DN tư nhân, không tồn tại DNNN.

Mặt khác cũng phải thấy, các DN tư nhân ở nước Việt, ngoại trừ một số ăn nên làm ra vững vàng, tạo thương hiệu, số đông vẫn ở trạng thái quy mô nhỏ, làm ăn mang chất đầu cơ, chụp giật, ăn sổi ở thì, chỉ thấy lợi trước mắt, mà chưa phải chiến lược quản trị và đầu tư dài hạn. DN tư nhân vốn ít có kinh nghiệm làm ăn của kinh tế thị trường, trong bối cảnh nhà nước điều hành cũng ít kinh nghiệm nốt. Hai cái ít kinh nghiệm…. gặp nhau, trở thành một bất cập không nhỏ trước ngưỡng cửa TPP.

Chính vì thế, trả lời Một Thế Giới, ngày 6/10, chuyên gia kinh tế Bùi Trinh nhận xét thẳng thắn: Cái được nhất chính là sức ép buộc phải tự mình thay đổi, nếu không sẽ phải trả giá. Sự thay đổi đó bao gồm cả ở phía DN lẫn phía thể chế quản lý, ứng xử bằng thái độ ngang bằng, chứ không phải ban phát xin- cho của bề trên với kẻ dưới.

Và đây cũng chính là động lực để phát triển kinh tế tư nhân, vế thứ hai mà ông Vũ Tiến Lộc nêu lên tại hội thảo.

Những giải pháp tạo động lực để phát triển kinh tế tư nhân đó là gì, nếu không phải là những cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế, hải quan, đầu tư, hỗ trợ chính sách đất đai, tài chính…, để DN tư nhân có môi trường kinh doanh lành mạnh, có thể cạnh tranh bình đẳng với các khu vực kinh tế khác. Điều này, liệu có phù hợp với tinh thần của Báo cáo chính trị mới đây: Phát huy cao nhất các nguồn lực trong nước, đồng thời chủ động hội nhập quốc tế, huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài để phát triển mạnh DN Việt Nam, nhất là DN tư nhân làm động lực nâng cao sức cạnh tranh và tính tự chủ của nền kinh tế?

Nếu không nỗ lực vượt lên chính mình, và có “bà đỡ” là thể chế văn minh, là các chính sách nhà nước, cho dù TPP đã ký kết, các DN tư nhân sẽ vẫn chỉ như những chiếc “thuyền nan” mong manh ra … biển lớn.

Bút sa gà… ra tòa?

Có một vụ việc không quá lớn, nhưng vô tình liên quan đến khái niệm về “luật chơi” trong nền kinh tế thị trường, vừa xảy ra ở Đà Nẵng, khiến dư luận chú ý và không ít lời bàn.

Đó là việc Trung tâm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của t/p này đã quyết định khởi kiện hàng loạt học viên thuộc Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao (Đề án 922) do họ vi phạm hợp đồng cam kết trước đó với TT. Vì là nguồn nhân lực chất lượng cao, có bài báo gọi họ là “nhân tài”.


Đà Nẵng là một t/p năng động, có nhiều chính sách táo bạo. Ảnh: Vnexpress

Được biết, Đề án 922 có 625 học viên tham gia, trong đó có 390 học viên đã tốt nghiệp và t/p đã bố trí công tác cho 336 học viên. Nhưng rồi, đến thời điểm này, có 71 học viên vi phạm hợp đồng, hoặc xin ra khỏi đề án. Theo báo Thanh niên (ngày 2/10), trong số 42 học viên tốt nghiệp vi phạm hợp đồng không về phục vụ t/p, hiện TT đã khởi kiện 15 người. Trong 05 vụ học viên hầu tòa từ tháng 6 đến nay, tòa án đều chấp nhận yêu cầu khởi kiện của TT, tuyên buộc 05 học viên bồi thường 10,06 tỉ đồng cho ngân sách t/p. 10 vụ còn lại sẽ đưa ra xét xử trong tháng 10 này.  Học viên phải bồi thường nặng nhất là 03 tỉ đồng (ở phiên sơ thẩm). Bên cạnh đó, một số học viên sau khi trở về chỉ phục vụ t/p thời gian ngắn rồi bỏ việc.

Được biết, cả hai Đề án (922) và đề án khác 393 (đào tạo 100 thạc sĩ, tiến sĩ tại nước ngoài) trong 08 năm (từ 2006 – 2014) đã ngốn ngân sách thành phố đến 600 tỉ đồng.

Theo hợp đồng, học viên sau khi kết thúc đào tạo phải công tác tại t/p trong vòng 07 năm, nếu không thực hiện đúng hợp đồng, phải bồi hoàn phí đào tạo gấp 05 lần. Riêng sau năm 2013 bồi hoàn 100% mức đào tạo.

Đà Nẵng là một t/p năng động, có nhiều chính sách táo bạo, mà Đề án 922 cũng nằm trong số đó, nhằm thu hút người tài, người giỏi về t/p.

Nhưng hiện tượng “chạy làng” kiểu ở Đề án 922 cũng chẳng phải là mới mẻ gì. Nó xưa như trái đất. Có điều người tham gia hợp đồng, đã cầm bút ký vào một hợp đồng dân sự, thì phải chấp nhận các điều khoản đã thỏa thuận. Dân gian có câu bút sa gà chết. Ở 15 trường hợp trên bút sa gà… ra tòa hành chính, trong đó một số đã bị xử lý.

Mà ra tòa là phải. Hợp đồng dân sự giữa cá nhân với cá nhân nếu bị phá vỡ người ta còn đưa nhau ra tòa nữa đây là hợp đồng dân sự giữa cá nhân với t/p, liên quan đến chuyện bạc tỷ, cũng là tiền thuế của người dân. Nhưng liệu việc đưa… gà ra tòa có phải là mong muốn của Đề án 922, chắc chắn là không? Bởi con số vi phạm chỉ là hàng chục, nhưng nó cũng vẫn là một tổn thất với trung tâm, và là sự tổn thương về danh dự của học viên, dù không ai muốn.

Tuy vậy, công bằng mà nói, ngay khi tham gia đề án, chắc chắn có không ít cách tính toán, dựa vào tiền của trung tâm đi học, rồi sẽ… tính sau.

Cái tính sau đó có thành công hay không, không rõ, nhưng cái thấy trước, là đã phải đứng dưới công đường chịu sự phán xét, xét xử của pháp luật- bậc thang cay đắng đầu tiên của đời một “người tài”.


Một hội thảo đánh giá công tác thu hút nhân tài về địa phương tại Đà Nẵng. Ảnh: Dân trí

Chính vì thế, có rất nhiều quan niệm khác nhau xung quanh chủ trương Đề án 922, và vụ việc này.

Luật sư Đỗ Pháp (Đoàn Luật sư TP Đà Nẵng) cho rằng, việc khởi kiện nhân tài như vậy tính nhân văn không cao lắm. Vấn đề thu hút nhân tài phải được “cởi trói”, nhân tài nên được tự do học tập, không nên thu hút bằng một đề án đào tạo kiểu này (LĐO- ngày 2/10)

Ở một quan niệm khác, một bài viết trên Tuần Việt Nam ngày 08/10 lại cho rằng, chủ trương này nên được duy trì dù gặp phải một vài vướng mắc như những vụ kiện cáo bất đắc dĩ đã nêu.

Còn người viết bài cho rằng, về lý, những học viên đã chấp nhận hợp đồng, đặt bút ký, cũng đã tức là chấp nhận “luật chơi”, không thể coi sự ứng xử bất đắc dĩ của TT là thiếu nhân văn. Thêm nữa, trước  hoàn cảnh cụ thể của học viên, TT cũng đã điều chỉnh mức đền bù.

Nhưng về tầm, phải nói rằng, thực tiễn sinh động của đời sống rất có thể luôn nảy sinh những tình huống bất ngờ mà đề án chưa tính được hết. Tỷ như những trường hợp học viên do kết quả học tập xuất sắc, họ có cơ hội học tiếp lên cao nữa ở xứ người, thì việc xử lý những vi phạm đặc biệt đó cần có sự xem xét cụ thể, đó mới là cái tình cần thiết. Và thêm nữa, quan niệm sau khi học xong, học viên dứt khoát phải trở về, làm việc trong những cơ quan, công sở nhà nước của t/p có quá cứng nhắc không, khi mà những nơi chen chúc sáng cắp ô đi tối cắp về chưa hẳn đã là “đất dụng võ” tốt nhất cho họ?

Đề án 922 hay hoặc dở, nên tiếp tục hay nên có chính sách thu hút nhân tài thay thế, đòi hỏi sự cân nhắc của t/p, trên cơ sở có điều tra XH học tỷ mỉ cần thiết, để đánh giá được chất lượng, hiệu quả của một Đề án.

Nhưng chắc chắn một điều, từ hội nhập TPP của nước Việt đến một hợp đồng dân sự của công dân, đều đòi hỏi sự hiểu biết luật chơi một cách khôn ngoan và chặt chẽ, sự nỗ lực vượt bậc khi chấp nhận cuộc chơi, mới hy vọng… trưởng thành.

Kém xa Singapore, Thái Lan, sức ép của VN rất lớn

Hoàng Ngọc (VNN) – Thể chế chính sách VN đi một đằng, các nước ASEAN khác đi một nẻo. Và DN VN làm sao có thể hoạt động được một cách cạnh tranh được đây?

Xem lại Kỳ 1: Mười một nước dồn vào ‘soi’, VN phải tiến nhanh hơn?

LTS: Nhân ngày Doanh nhân Việt Nam (13/10), Tuần Việt Nam phỏng vấn chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan về câu chuyện doanh nghiệp Việt trước những thách thức hội nhập, với các sân chơi như TPP, AEC…Dưới đây là nội dung phần 2 cuộc phỏng vấn.


Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan. Ảnh: Lê Anh Dũng

Còn ít người biết

Bây giờ người ta đang chủ yếu nói về TPP, nhưng trong quá trình hội nhập, còn có một sự kiện khác, đó là Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) sẽ hoàn thành vào cuối năm nay, mà ít người nói tới. Có vẻ VN không thấy đáng lo về chuyện này?

Không, tôi nghĩ ảnh hưởng của AEC đối với DN VN sẽ ngày càng rõ ràng hơn. Rất đáng tiếc là một số điều tra trong khoảng hơn một năm trở lại đây tỷ lệ DN biết được về những thông tin về AEC, những cơ hội và thách thức mà nó có thể có đối với cộng đồng DN, lại là một tỷ lệ thấp chỉ 35%. Ngay cả số biết  thì cũng biết hời hợt, chưa hiểu sâu. Đó là điều rất đáng ngại, bởi như vậy họ sẽ không có hướng để chuẩn bị, ứng phó và thích ứng được trong tương lai.

E ngại về phía DN một phần, nhưng e ngại về phía Nhà nước có khi còn nhiều hơn. Tỷ lệ 65% không biết đó tôi nghĩ không phải chỉ ở DN, mà còn cả ở khu vực nhà nước, là chính quyền trung ương ở các bộ các ngành, cũng như chính quyền các địa phương.

Ví dụ, có những điều được nói đến rất nhiều nhưng dường như các ngành dửng dưng. Thứ trưởng Bộ Công Thương nói rằng cam kết kinh tế của AEC đã có từ lâu nay, và thực hiện dần chứ có phải cái gì mới đâu. Ông ấy nói đúng, nhưng cam kết đã có từng ấy năm, tại sao các bộ các ngành không chuẩn bị, không thay đổi, điều chỉnh lại những qui định, cũng như cách thức hoạt động của mình, cho nói phù hợp với các nước khác.

Hai nữa là không hướng dẫn lại cho DN và người dân cho họ biết để chuẩn bị thích ứng. Đó là lỗi rất đáng kể từ chính Nhà nước. Bởi người đi đàm phán là họ, người đưa ra các cam kết là họ. Cái gọi là tham vấn tuy Chính phủ có qui định, nhưng diễn ra rất ít, và khi VN tham gia đàm phán Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương TPP rồi, thì các cuộc tham vấn lại chủ yếu hướng đến những vấn đề của TPP, hay những vấn đề của FTA mới với EU. Đối với  AEC cung cách ứng xử của cơ quan nhà nước với DN vẫn y hệt như xưa, thậm chí có cái còn tệ hơn.

Bà có thể ví dụ?

Như Chính phủ đưa ra Nghị quyết 19, có 22 trang, với những qui định rất cụ thể bộ nào ngành nào phải làm gì, các địa phương phải làm gì, công việc phải báo cáo Thủ tướng 3 tháng 1 lần về tiến trình thực hiện. Tại Hội thảo cuối tháng 9 ở Viện Quản lý Kinh tế TW thì người ta đã thống kê rằng chỉ có ba bộ, và Bảo hiểm Việt Nam, thực hiện nhiệm vụ báo cáo. Còn các địa phương thì đếm trên đầu ngón tay.

Anh thấy đấy, ngay cả Nghị quyết 19 về cải thiện môi trường kinh doanh của VN để VN tiến dần tới ngang bằng môi trường đầu tư của ASEAN-6, và tới năm 2016 đạt mức trung bình của ASEAN-4, thế nhưng họ dửng dưng hoàn toàn. Và nếu họ không thực hiện những yêu cầu cụ thể trong nghị quyết thì đến bao giờ VN mới có môi trường kinh doanh như các nước ASEAN để hoạt động?

Tác động của AEC đối với DN VN là phần bất lợi sẽ tăng lên khi mà môi trường kinh doanh không được cải thiện. Tinh thần của AEC là khu vực ASEAN là một nền kinh tế chung, tức là nó phải được hoạt động trên một mặt bằng ngang với nhau. Tinh thần kết nối, từ thể chế chính sách đến hạ tầng đến con người, sẽ thực hiện làm sao, thể chế chính sách VN đi một đằng, các nước ASEAN khác đi một nẻo. Và DN VN làm sao có thể hoạt động một cách cạnh tranh được đây?

Nhập siêu sẽ ngày càng lớn từ ASEAN?

Xin bà nói rõ những cơ hội đối với DN VN, khi AEC được thành lập?

Mặt tích cực là trên một nền tảng hài hoà hoá trong ASEAN rất cao sẽ tạo thuận lợi hơn cho VN trong xuất nhập khẩu và đầu tư với các nước trong vùng.

Hai là VN sẽ cùng với các nước ASEAN tận dụng lợi thế của qui mô kinh tế, vượt khỏi qui mô một quốc gia, đạt tới qui mô của một số quốc gia, để làm một số ngành của ASEAN. Sẽ có lợi thế cao hơn, khi sát cánh cùng nhau, phân công hợp lý để cùng nhau phát triển.

Thứ ba là nó sẽ làm cho vị thế của ASEAN trong các hội nhập khác trên toàn cầu tốt hơn.

Về qui mô kinh tế VN không lớn như các nước khác, nhưng về dân số đứng thứ ba, vì vậy kết nối với những nền kinh tế tiên tiến hơn như Singapore, Malaysia, Thái Lan, hay Indonesia, có thể đẩy VN lên.

Lâu nay, ASEAN có một nhược điểm là thương mại nội vùng rất thấp, chỉ đạt 24-25% tổng kim ngạch thương mại, trong khi EU chẳng hạn có hơn 50% thương mại nội vùng. Với AEC, các DN VN sẽ không nhất thiết phải mua bất cứ thứ gì từ Trung Quốc, hay thậm chí Hàn Quốc và Đài Loan, mà có thể mua ngay của các nước ASEAN khác.

Hay về xuất khẩu, DN VN sẽ không nhất thiết phải đi xuất khẩu ở những chân trời xa xôi, như châu Phi chẳng hạn, với những đắt đỏ về hạ tầng, về chi phí giao thông vận tải, hoặc những rủi ro do không thông thạo thị trường, mà xuất sang các nước ASEAN lợi hơn nhiều mặt.

TPP, AEC, hội nhập, doanh nghiệp, ngày doanh nhân Việt Nam 13/10, hàng Thái Lan, cạnh tranh, ASEAN

Thế thách thức lớn nhất là gì? Liệu có phải là hàng ASEAN, chẳng hạn như hàng Thái Lan, sẽ tràn ngập lãnh thổ VN, khi thuế suất rút xuống 0%, gây khó khăn cho DNVN?  

Tất nhiên cái bất lợi là sức ép cạnh tranh tăng lên rất nhiều. Với VN, nước ta có khoảng cách phát triển kém hơn các nước Singpapore, Malaysia, Thái Lan, Indonesia và Philipinnes, hay Brunei. Nghiên cứu gần đây nhất của Bộ Kế hoạch – Đầu tư đã đưa ra rằng về tăng năng suất Việt Nam đang thu hẹp khoảng cách, nhưng khoảng cách tuyệt đối vẫn đang giãn ra.

Cái đó là do VN chỉ được khai thác ở mảng năng suất thấp, lao động giá rẻ, tài nguyên rẻ và các nhân tố đầu vào giá rẻ, hơn là các ngành cao cấp hơn, và các nước ASEAN khác đang lợi dụng VN theo kiểu đó, hoặc tận dụng thị trường nội địa của VN như thị trường tiêu dùng hàng của họ, hơn là nơi cung cấp các sản phẩm trở lại cho họ. Tức là VN tiếp tục nhập siêu trong thương mại với họ và ngày càng nặng nề hơn.

Công ty Mackenzie, điều tra cơ hội lớn nhất là gì khi AEC hình thành, thu được kết quả là 52% công ty ở Thái Lan cho rằng thị trường VN là cơ hội lớn nhất của họ. Nếu nhìn động thái họ chuẩn bị 3-4 năm nay rất là tích cực. Có thể thấy rất rõ họ đang nắm hệ thống phân phối ở VN, mua lại từ các nhà đầu tư nước ngoài khác ở VN, hay mua lại các chuỗi phân phối của VN như các siêu thị, chuỗi cửa hàng tiện ích để xâm nhập vào thị trường.

Mặt khác, hàng Thái Lan rất nhiều ở VN và có lợi thế cạnh tranh với VN vì uy tín cao hơn, chất lượng tốt hơn, về sản phẩm và dịch vụ đi cùng với sản phẩm, mà giá cả không chênh nhiều. Điều đó có lợi cho người tiêu dùng, nhưng với DN VN đang muốn vượt lên để phát triển thì bất lợi lớn, mất đi thị trường nội địa. Ta phải nhớ rằng 70% SMEs của VN chỉ hoạt động trên thị trường nội địa, chứ không có xuất khẩu. Còn 30% có hoạt động xuất khẩu, thì mảng thị trường nội địa với họ cũng là rất lớn.

Đối với nông dân VN cũng vậy, dù VN đang xuất khẩu 20 mấy tỷ đô la một năm thì thị trường nội địa vẫn là thị trường cuối cùng lớn nhất của nông dân VN. Cạnh tranh với các nước xung quanh có những mặt hàng rất là tương tự với VN, mang tính cạnh tranh nhiều hơn là mang tính bổ sung (trừ có Singapore là mang tính bổ sung), các DN VN sẽ vươn lên thế nào đây? Đây là một bài toán rất lớn ngay trên thị trường nội địa, khi mà xuất khẩu sang ASEAN cũng rất nhiều thách thức.

Bà nói rằng DN VN sẽ có lựa chọn xuất khẩu sang ASEAN, thay vì xuất sang châu Phi chẳng hạn. Vậy sức cạnh tranh của hàng VN khi xuất khẩu sang các nước ASEAN như thế nào?

Hiện nay, trên thực tế nói đến hàng VN nói chung sức cạnh tranh là khó, và điều tương tự khi nói đến DN VN nói chung. Ngay trong hàng VN có sự phân tầng khá rõ, một số DN và một số sản phẩm, rất tiếc chỉ là số ít thôi, thực sự có năng lực cạnh tranh, và họ cũng bắt tay vào chuẩn bị trong mấy năm vừa qua để nâng sức cạnh tranh lên và sẵn sàng với cuộc chơi mới. Đó là một nhóm DN VN tương đối tiên tiến, có hiểu biết về thương trường, có một tinh thần chấp nhận cạnh tranh rất cao, và có một khát vọng vượt lên cho DN mình, cho hàng Việt, cho thương hiệu VN,  và tập trung khá cao ở phía Nam.

Ví dụ như CLB Đổi mới – Sáng tạo, mà Bộ Khoa học Công nghệ rất ủng hộ. Sắp tới họ sẽ tham gia Hội chợ Techmart ở Hà Nội để chia sẻ kinh nghiệm. Một nhóm thứ hai là những DN tham gia CLB Dẫn đầu (LBC), chủ yếu cũng là từ TP HCM. Hay nhóm DN Hàng Việt Nam Chất lượng cao đang cố gắng vừa giữ thị trường nội địa, cũng như vươn ra thị trường các nước xung quanh, đặc biệt vào các nước ASEAN…

Rất đáng tiếc là với số đông DN VN sức cạnh tranh vẫn kém, nhất là tinh thần kinh doanh. Điều tra của VCCI cho thấy, nếu đo về tinh thần kinh doanh so với các nước ASEAN khác, DN VN thấp hơn đáng kể, chỉ bằng một nửa.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s