Ai sẽ “cầm tay” nông dân?

Posted: October 13, 2015 in Uncategorized
Tags:

Đinh Dức Hoàng (TTCT) – “Chất lượng đồng nhất, một nhà cung cấp đáng tin cậy và an toàn thực phẩm” – ba yêu cầu mà cố vấn an ninh lương thực của Chính phủ Mỹ Rick Gilmore, người vừa ở Việt Nam tuần qua, đưa ra để nâng chất lượng và vị thế nông sản Việt Nam trên thị trường toàn cầu.

� Xem thêm: Nông dân, doanh nghiệp miền Tây còn “ngơ ngác” với TPP + 5 tác động của TPP đối với nông nghiệp Việt Nam.


Làm rau sạch ở Củ Chi -N.C.T.

Một cuộc đua mới của các doanh nghiệp nông nghiệp dường như đã xuất hiện, nhưng các giá trị nông nghiệp mới cần thêm nhiều công sức để có thể đạt tới, và cũng sẽ phải mất nhiều thời gian để nông dân thật sự tham gia cuộc đua này.

Ngay quận 1 (TP.HCM), người ta có thể chứng kiến một hình ảnh khá tương phản cho công cuộc tiếp thị và bán sản phẩm nông nghiệp hiện tại.

Một bên là cửa hàng giới thiệu sản phẩm nông nghiệp của nhà nước – một ngôi nhà cũ với bảng hiệu không thể đơn giản hơn, bên trong là quầy hàng chật chội kiểu bao cấp với những người bán hàng đứng sau quầy. Một bên là cửa hàng của tư nhân với mô hình siêu thị mini bày bán các sản phẩm rau củ quả tươi đóng gói đẹp, ghi rõ ngày sản xuất và xuất xứ sản phẩm.

Kinh doanh của doanh nghiệp – Nhận thức của nông dân

Năm 2007, khi Louis Vuitton quyết định mở một nhà máy ở Pondicherry (Ấn Độ), rất nhiều người ngạc nhiên: trong suốt lịch sử của thương hiệu huyền thoại này, họ chưa bao giờ rời châu Âu, thậm chí rất ít xưởng khâu bên ngoài nước Pháp.

Lý do để Pondicherry được chọn, thoạt nhìn đơn giản là nơi đây sở hữu những thợ khâu đồ da nổi tiếng nhất Ấn Độ. Nhưng các nhà quan sát thì đặt ra một giả thiết khác cho động cơ quyết liệt của Louis Vuitton: bởi vì chính nơi này sẽ là nơi những món hàng “fake” tinh xảo nhất được tạo ra.

Louis Vuitton muốn thuê chính những “thích khách” này làm việc cho mình, vừa tận dụng được tay nghề của họ vừa giảm thiểu nguy cơ cho hãng. Ngoài mở nhà máy, Louis Vuitton thậm chí còn mua cổ phần trong công ty sản xuất đồ da lớn nhất địa phương. Công ty địa phương này cũng đầu tư sản xuất các mẫu đồ da sinh lợi lớn, nhưng chủ trương không nhái các hãng lớn, trong đó có Louis Vuitton.

Câu chuyện này được ông Nguyễn Duy Hưng – chủ tịch PAN Group, đang sở hữu nhiều công ty nông nghiệp lớn tại Việt Nam – kể cho phóng viên nghe bên lề một sự kiện, khi được hỏi về những người nông dân.

Từ lâu, khi nói tới sản xuất nông sản Việt Nam, người ta đã truyền khẩu nhau về “luống rau để bán và luống rau để ăn” của người nông dân. Luống rau để bán thì sẽ phun thuốc bừa bãi, luống rau để nhà ăn thì trồng tự nhiên. Tác giả truyện tranh Thành Phong, trong một truyện của anh, từng xây dựng bi kịch của một đứa trẻ con nhà bán rau không bao giờ được mẹ cho ăn rau, và đứa trẻ con nhà bán thịt luôn thèm thịt rỏ dãi. Những lo ngại đó không phải là không có căn cứ.

Cách đây không lâu, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đưa ra kết quả điều tra: 85% các hộ trồng rau phun thuốc dựa vào kinh nghiệm, gần một nửa phun gấp đôi so với khuyến cáo. Liên tục xuất hiện các vụ ngộ độc thực phẩm. “Rau sạch” trở thành một khái niệm huyền bí được mọi nhà phân phối sử dụng để bán hàng. Người nông dân, do lòng tham hay do thiếu hiểu biết, đã tác động tiêu cực tới thị trường nông sản và trên hết, tự gây hại cho bản thân mình.

Không biết từ bao giờ, hình ảnh người nông dân với cách làm tùy tiện, chỉ vì lợi ích trước mắt và ngắn hạn ấy trở nên phổ biến. Nhưng thực tế khó phủ nhận là họ – những nông dân một nắng hai sương – sẽ khó mà quy hoạch mảnh ruộng của mình để phù hợp với các tiêu chuẩn thế giới.

Nhưng ai sẽ thay đổi nhận thức và hành vi của người nông dân? Câu trả lời của ông Hưng: những “Louis Vuitton” – các doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp.

Quan điểm ấy được tiến sĩ Rick Gilmore ủng hộ một phần (ông là cố vấn đặc biệt của Nhà Trắng trong vấn đề an ninh lương thực, giám đốc điều hành Diễn đàn An ninh lương thực toàn cầu), người vừa đến Việt Nam tuần rồi trong một chuỗi sự kiện liên quan đến nông nghiệp.

Cuộc phỏng vấn riêng với vị học giả tốn khá nhiều thời gian để sắp xếp nhưng thông điệp được đưa ra khá ngắn gọn: vị thế của nông sản Việt phụ thuộc vào nhận thức của người nông dân.

Tiến sĩ Gilmore khẳng định rằng Việt Nam hoàn toàn có đủ tiềm năng để trở thành một nhân tố quan trọng trên thị trường nông sản toàn cầu. Và để đạt được mục tiêu đó thì những nhà đầu tư như PAN Group dù có lớn đến mấy cũng không thể giải quyết được toàn bộ vấn đề. Việc kinh doanh của doanh nghiệp phải song hành với nâng cao nhận thức của nông dân.

Khu vực nhà nước không thể gánh được toàn bộ trọng trách này, tiến sĩ Gilmore khẳng định. Những ngày qua diễn ra một cuộc tranh luận khác về phát biểu của bà chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ thực vật Thái Bình trên VTV. Sau khi nhận xét “cánh đồng đẹp như tranh”, bà liên tục khẳng định mình đã chỉ đạo nông dân phun những loại thuốc “tốt nhất”.

Nhưng người nông dân trên địa bàn của bà Minh thì lại nói về “khả năng thiếu ăn” và “làm gì có gì mà thu” trong vụ mùa này.

Còn ai nữa ngoài doanh nghiệp và cơ quan quản lý sẽ truyền thông cho nông dân? Câu trả lời hẳn sẽ được nhiều người bật ra dễ dàng: Hội Nông dân. Nhưng trong báo cáo “Chính sách nông nghiệp Việt Nam” của OECD năm 2015, tổ chức này dù nhìn nhận vai trò của Hội Nông dân Việt Nam (VFU) là để phổ biến, giải thích chính sách mới và vận động nông dân song vẫn đi đến kết luận thông qua các nghiên cứu, khảo sát thực tế: “Rõ ràng rằng VFU đã không thật sự trở thành một tổ chức được hỗ trợ bởi nông dân và hoạt động hiệu quả vì lợi ích của nông dân”.

Câu chuyện của NHK

Không phải công ty nào cũng mong muốn trở thành Louis Vuitton – hướng đến việc đưa ra thông điệp với người sản xuất. Khi Vingroup tung ra thị trường sản phẩm rau sạch hồi đầu tháng này, kèm theo hàng loạt thông điệp về thị trường, nhiều nhà quan sát không khỏi làm lạ vì thông điệp xanh sạch của công ty này dùng đến nhiều từ khóa rất kêu như “công nghệ Israel” hay “vì thế hệ tương lai”.

Thật khó mà liên tưởng gì được đến một nền sản xuất nông sản Việt Nam hiện tại với nền tảng cơ bản nhất của nó là người sản xuất – nông dân.

Thứ vắng bóng ở đây là điều mà tiến sĩ Rick Gilmore gọi là hoạt động “giới thiệu đến những người nuôi trồng các giá trị tốt về nông nghiệp” của những nhà đầu tư nông nghiệp. Trên thực tế, nhiều nhà kinh doanh hiện nay, trong các chiến dịch truyền thông, tập trung vào đối tượng khách hàng tiềm năng của họ là các cư dân thành thị, hay rộng hơn là người mua, chứ không nói đến người sản xuất.

Tuy nhiên, với các đặc thù của nông nghiệp, khi nông dân không chỉ là “người lao động” mà còn là “nhà sản xuất” thì hoạt động truyền thông đóng vai trò quan trọng. NHK – kênh truyền hình công của Nhật – là một điển hình về việc “lôi kéo” người nông dân vào các hoạt động nông nghiệp mới. Đài này từ lâu đã được biết đến với chính sách “nâng tầm ẩm thực Nhật để khuyến khích tiêu thụ nông sản Nhật”.

Một trong những chương trình nổi tiếng nhất của họ là “Go, Kitchen, Go!” (Căn bếp lên đường!). Cũng là một chương trình nấu ăn cùng với những đầu bếp nổi tiếng, nhưng họ sẽ đi trên một “căn bếp di động” và đến khắp các làng quê để nấu nướng bằng những sản vật địa phương.

Trong các bản quy hoạch chính sách của Bộ Nông nghiệp, thủy sản và lâm nghiệp Nhật, thì “khu vực nông thôn” luôn được nhắc đến là một đối tượng cần được quảng bá (promote) và nâng tầm. Đất nước này không thiếu các nhà đầu tư lớn, nhưng họ ý thức được rằng sẽ không thể chỉ làm nông nghiệp bằng các khoản đầu tư hay các mệnh lệnh hành chính.

Điều tra doanh nghiệp do Tổng cục Thống kê năm 2011 chỉ ra rằng hiện chỉ có 955 doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp (không tính lâm nghiệp và thủy sản), hoạt động trên khoảng 0,5 triệu ha, tức là chỉ chiếm khoảng 5% diện tích đất nông nghiệp. Thị trường vẫn sẽ bị chi phối bởi những hộ nông dân trong một thời gian dài nữa.

Và những doanh nghiệp lớn như PAN Group hay Vingroup sẽ vẫn tiếp tục phải “đơn thương độc mã” trong khoản đầu tư của mình, và nông sản Việt chưa thể có được ba đòi hỏi “chất lượng đồng nhất, một nhà cung cấp đáng tin cậy và an toàn thực phẩm” mà tiến sĩ Rick Gilmore vạch ra, trừ khi họ thực thi được hoạt động “giới thiệu các giá trị nông nghiệp mới” đến nông dân.

Ông Nguyễn Duy Hưng gọi đó là việc “đổ xô nước lên một cái cây” và hi vọng nước sẽ “lan ra trên mặt đất”. Tuy nhiên, hoạt động để “nước lan” này không đơn giản. Bản thân Louis Vuitton, ví dụ của ông Hưng, cũng đã phải rút chân khỏi thị trường Ấn Độ bốn năm sau khi quyết tâm biến các nghệ nhân ở đây trở thành người làm việc cho mình.

Thị trường hàng “fake” của Louis Vuitton, đặc biệt là giày, xuất xứ từ Ấn Độ vẫn không ngừng tăng trưởng. Một chính sách tốt vẫn cần nhiều bên tham gia. “Chúng ta cần một cuộc đua” – ông Hưng nói, một cuộc đua giữa các doanh nghiệp xác lập giá trị mới và phần còn lại. “Lợi ích song hành” là cách diễn đạt của tiến sĩ Gilmore.

Cuộc đua có thể đang hình thành, ít nhất giữa các doanh nghiệp tư nhân lớn. Nhưng có một yếu tố mà chắc chắn là cố vấn an ninh lương thực của Nhà Trắng cũng khó tính tới với kinh nghiệm làm việc ở thị trường Mỹ của mình. Đó là các doanh nghiệp nhà nước.

Báo cáo “Chính sách nông nghiệp Việt Nam” của OECD nói rằng các doanh nghiệp này “có quyền chi phối thị trường đáng kể”, và “không thực hiện đủ tốt vai trò của mình” trong lĩnh vực chế biến và xuất khẩu, dẫn tới thực tế “Việt Nam đang phải chịu thiệt hại từ hàng hóa chất lượng thấp và giá rẻ ở thị trường xuất khẩu” cùng rất nhiều vấn đề khác.

Đó là một bài toán không dễ giải. Và “các giá trị nông nghiệp mới” của những doanh nghiệp như của ông Hưng có thể sẽ phải mất nhiều thời gian để “song hành” với nông dân, khi mà mối quan hệ này vẫn đang rất lỏng lẻo và đầy bất công.

Còn nhớ, trong chuỗi giá trị ngành gạo mà chuyên gia Nguyễn Đình Bích từng nhận xét là “dài nhất thế giới”, ngoài phân chia lợi nhuận thiệt thòi cho nông dân (bỏ ra 70% chi phí sản xuất, hưởng lợi nhuận chưa tới 30%), các khâu trung gian vô cùng lôi thôi còn để lại một hậu quả khác là không thể kiểm soát được chất lượng sản phẩm.

“Chất lượng đồng nhất, một nhà cung cấp đáng tin cậy và an toàn thực phẩm” là ba yêu cầu mà cố vấn an ninh lương thực của Nhà Trắng Rick Gilmore vạch ra trước câu hỏi: “Làm sao Việt Nam trở thành một thế lực trong thị trường nông sản toàn cầu?”. Đó đều là những yêu cầu vô cùng khó khăn nếu để nông dân tự quy hoạch nhỏ lẻ và cảm tính trên mảnh ruộng của riêng mình. Những “phong trào” chặt cây cũ trồng cây mới để rồi khi giá giảm lại tiếp tục thay đổi vẫn chưa có điểm dừng… Chưa kể nhiều “phong trào” rất đáng ngờ về tính khoa học và động cơ, có thể gây hại cho cả nền nông nghiệp trên diện rộng, như phong trào nuôi ốc bươu vàng cách đây nhiều năm.

Nông dân, doanh nghiệp miền Tây
còn “ngơ ngác” với TPP

Thanh Tùng (VOV) – TPP là khái niệm mới với nhiều doanh nghiệp, nông dân tại ĐBSCL – khu vực mạnh về nông nghiệp nhưng lại hạn chế về hội nhập quốc tế.

Một khi Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) là đã chấp nhận căng buồm ra biển lớn. Tuy nhiên, từ ĐBSCL, niềm vui và nỗi lo khi Việt Nam gia nhập TPP cứ đan xen vào nhau. Bởi trên thực tế, TPP là một khái niệm hoàn toàn mới với nhiều doanh nghiệp, nhà quản lý, người nông dân tại khu vực có thế mạnh về nông nghiệp nhưng lại hạn chế trong những bước đi của tiến trình hội nhập quốc tế.

Ông Nguyễn Thanh Hải, ở xã Tân Thuận Tây, Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp có 5 ngàn m2 đất trồng xoài. Từ những năm đầu trồng để tiêu thụ trong nước, giờ đây ông phấn khởi khi nắm thông tin xoài Cao Lãnh có cơ hội được xuất đi Hàn Quốc, Nhật Bản…

Thế nhưng, từ sự vui mừng chuyển sang lo lắng vì không biết sản phẩm mình trồng có được cơ hội xuất khẩu không. Rồi giờ đây, ông lại quay trở lại trạng thái ban đầu, đó là trồng làm sao có năng suất cao, trông chờ vào sự may mắn của thị trường để bán được giá. Bởi cho đến nay, ông ít có thông tin về kiến thức hội nhập cũng như nắm bắt những cơ hội và thách thức của đất nước trong tiến trình hội nhập.


Xoài trồng nhiều ở Đồng Tháp nhưng phần lớn nông dân
chỉ xuất khẩu thô, chưa kết tinh thành giá trị.

“Nông dân chúng tôi không có điều kiện để quan hệ với doanh nghiệp, tổ chức mua bán hay vấn đề xuất khẩu. Vì thế, mong làm sao được Nhà nước hỗ trợ, tạo điều kiện cho người dân sản xuất, mua bán được ổn định,” ông Hải chia sẻ.

Nhìn vào thực trạng những năm gần đây cho thấy nông dân ĐBSCL mỗi khi vào vụ thu hoạch lúa, trái cây đều canh cánh nỗi lo tồn đọng, rớt giá. Nơi đây, sản lượng trái cây lớn nhưng sản xuất còn manh mún, nhỏ lẻ…

Bên cạnh đó, một nghịch l‎ý đáng nói là cùng với những vùng miền khác, ĐBSCL cũng phải đang chịu nhiều thách thức khi nhiều loại cây ăn trái có cùng chủng loại được nhập về từ Thái Lan lại được ưa chuộng hơn. Từ nhãn, xoài, bòn bon v.v.. đã bắt đầu thâm nhập thị trường với giá trị nhập khẩu từ Thái Lan lên đến trên 134 triệu USD.

Đây là vấn đề đáng quan tâm đối với ngành nghề sản xuất nông nghiệp, cây ăn quả ở khu vực có nhiều tiềm năng. Qua đó cho thấy, ngành hàng nông sản chủ lực của ĐBSCL đang trước áp lực đổi mới rất lớn để thích ứng với điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới.

Tuy nhiên, nông nghiệp nước ta nói chung, đặc biệt ở khu vực ĐBSCL chỉ còn đường tiến, không thể lùi vì TPP đã gần chạm đích. Chính vì thế, theo PGS-TS Phạm Văn Dư, Phó cục trưởng Cục trồng trọt, khu vực này phải gấp rút tái cơ cấu trong lĩnh vực nông nghiệp, chuyển sang canh tác trên những cánh đồng lớn. Bên cạnh đó, chuyển đa số nông dân hoạt động theo cung cách truyền thống trở thành những công nhân nông nghiệp được đào tạo, có kỹ năng và nhạy bén với thị trường.


Sản xuất cây ăn trái quy mô hộ gia đình, nhỏ lẻ
ở ĐBSCL sẽ khó khi xuất khẩu số lượng lớn.

Hiệp định thương mại tự do TPP được kỳ vọng sẽ giúp Việt Nam gia tăng thương mại với Nhật Bản và Mỹ. Với mức thuế suất gần như 0% sẽ giúp đất nước gia tăng xuất khẩu, trong đó đặc biệt là các mặt hàng nông, thủy sản, thế mạnh của ĐBSCL.

Tuy nhiên, thực trạng sản xuất nông nghiệp của khu vực này hiện vẫn theo quy mô hộ gia đình là chính; khoa học công nghệ vẫn chưa có sự phát triển đủ mạnh nên thực tế vẫn chưa kéo sản xuất phát triển để tạo ra sức cạnh tranh cao cho sản phẩm làm ra. PGS – TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam nhấn mạnh.

“Lợi thế của ĐBSCL là nông nghiệp. Muốn phát huy lợi thế này thì không thể dựa vào nền tảng nông dân với hàng triệu hộ với phương thức canh tác cổ truyền như bây giờ. Muốn nền nông nghiệp mang tính cạnh tranh phải phát triển chuỗi sản xuất nông nghiệp mà chủ lực phải là doanh nghiệp. Người dẫn dắt về phương thức phải là doanh nghiệp,” TS Trần Đình Thiên nhấn mạnh.

TPP sẽ mang cơ hội để nông dân các nước tham gia tăng tính cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp. Nông sản Việt sẽ có cơ hội được xuất sang các nước nhiều hơn. Ngược lại, nông sản của các quốc gia khác cũng sẽ ồ ạt vào thị trường đầy tiềm năng như Việt Nam. Vì thế, ngay từ bây giờ, phải giúp cho nông dân hiểu khái niệm cốt lõi TPP là gì, từ đó mới có thể nói đến những vấn đề sâu xa hơn.

Đây là đòi hỏi thiết thực nhất để người nông dân có đủ tâm thế khi chính thức bước vào cuộc cạnh tranh “khốc liệt”. Từ đó, các cơ quan, tổ chức, cá nhân cần có những giải pháp kịp thời để thúc đẩy tiêu thụ nông sản gắn với vấn đề tái cơ cấu nông nghiệp; tận dụng cơ hội, khắc phục các thách thức của hội nhập để sản phẩm từ nông nghiệp của ĐBSCL đủ sức cạnh tranh trên thị trường.

5 tác động của TPP đối với nông nghiệp Việt Nam

(soha.vn) theo Doanh nhân Sài Gòn – Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã đạt được thỏa thuận cuối cùng vào hôm 5/10 và được dự báo sẽ tác động mạnh đến nhiều lĩnh vực trong nền kinh tế Việt Nam, trong đó có nông nghiệp.


Hoa nước – Tác giả: Trần Túy

1. Nông dân – đối tượng dễ bị “tổn thương”

Tới 60% dân số Việt Nam phụ thuộc vào nông nghiệp nhưng đa phần người nông dân – vốn là đối tượng dễ bị “tổn thương” trong quá trình hội nhập vẫn chưa được trang bị nhiều kiến thức.

Điều này dẫn tới năng lực cạnh tranh của một số mặt hàng trong lĩnh vực này vẫn còn yếu, điển hình là các nhóm hàng nông sản.

Gia nhập TPP, nông sản Việt Nam sẽ có cơ hội được xuất sang nhiều nước nhưng bên cạnh đó, nông sản của các nước khác cũng sẽ được nhập khẩu ồ ạt hơn.

Việc không được chuẩn bị kỹ để “hội nhập” sẽ khiến sản phẩm nội địa có thể bị thua ngay trên “sân nhà”.

2. Vì sao thủy sản hưởng lợi?

Thủy sản được cho là ngành nông nghiệp tận dụng được nhiều lợi thế hơn cả khi Việt Nam gia nhập TPP, cụ thể là cơ hội gia tăng xuất khẩu.

Nhật Bản, Mỹ là hai trong các quốc gia nhập khẩu thủy sản hàng đầu của Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã nhận thấy thị trường này sẽ còn lớn hơn khi thuế nhập khẩu giảm về 0%.

Đồng thời, thuế nhập khẩu đối với các thị trường nhỏ hơn như Australia, Singapore và Mexico cũng sẽ giảm xuống, và “lối vào” các thị trường này sẽ rộng mở hơn.

Với tôm, mực, cá ngừ, hiện thuế xuất khẩu chỉ từ 1- 10%.

3. Ngành chăn nuôi gặp khó

So với thủy sản, nhóm hàng chăn nuôi (lấy thịt, lấy sữa) và trồng trọt (trái cây) lại được dự báo là khó cạnh tranh ngay tại thị trường nội địa.

Trước hết là nguy cơ cạnh tranh gay gắt giữa Việt Nam và hai nước gồm Australia và New Zealand, vì hai nước này được đánh giá có năng lực cạnh tranh vào hàng cao nhất thế giới ở các sản phẩm ngành chăn nuôi bò (thịt bò, sữa), quả ôn đới (táo, cam).

Thêm vào đó là nguy cơ cạnh tranh giữa Việt Nam và Mỹ. Hiện tại, Mỹ có thế mạnh trong các sản phẩm như sữa, thịt bò, thịt gia cầm, thịt heo.

Bảng giá thịt bò tại Hà Nội tháng 3/2015 Khó khăn hiện tại là Việt Nam đang nhập khá nhiều các mặt hàng này từ Mỹ, nếu mở cửa thị trường, nguy cơ sản phẩm tương tự của Việt Nam gặp khó khăn khi cạnh tranh với sản phẩm nhập khẩu từ Mỹ là rất lớn.

Cụ thể, giá thịt heo của Mỹ trung bình cao hơn của Việt Nam khoảng 40%, trong đó tiền vận chuyển mất 20% và 20% còn lại là do Việt Nam đánh thuế.

Tuy nhiên, khi TPP có hiệu lực, hầu hết các hàng nông sản đều giảm thuế về 0%, thịt heo Mỹ sẽ tràn vào Việt Nam và rẻ hơn thịt sản xuất trong nước khoảng 15 – 20%.

Theo nhận định của các chuyên gia, sau khi ký kết TPP, dòng thương mại có xu hướng thay đổi theo hướng chuyển sang nhập khẩu sữa bột từ New Zealand, trâu bò sống từ Australia và các sản phẩm thịt từ Mỹ.

Ngoài ra, mặt hàng thịt đông lạnh cũng sẽ phát triển do yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm của người tiêu dùng ngày một tăng lên, thịt “nóng” ngoài chợ sẽ không đáp ứng được.

4. Chú trọng đến các biện pháp SPS – TBT

Về cơ bản, nhóm “biện pháp kỹ thuật” (TBT) với nhóm các “biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật” (SPS) là những rào cản dưới dạng quy định kỹ thuật, vệ sinh dịch tễ rất có khả năng vô hiệu hóa lợi ích từ việc giảm thuế quan đối với hàng hóa Việt Nam.

Nguyên nhân bởi dù thuế nhập khẩu vào các nước có được xóa bỏ nhưng việc kiểm dịch, kiểm tra dư lượng kháng sinh, các đòi hỏi về nhãn mác bao bì… của các nước vẫn ngăn chặn khả năng xuất khẩu của nông sản Việt Nam, thậm chí còn rủi ro hơn nhiều so với thuế quan.

Ví dụ, những quy định của TPP về quy tắc xuất xứ sẽ gây khó khăn cho một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam như thủy – hải sản; còn về môi trường, có những yêu cầu cam kết cấm trợ cấp đánh bắt thủy hải sản có thể gây bất lợi đối với chính sách phát triển của ngành này.

5. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao

Trái ngược với các rủi ro trong đàm phán về SPS – TBT và lao động, nội dung về đầu tư lại hứa hẹn đem đến nhiều cơ hội cho ngành nông nghiệp nước ta.

Khi TPP có hiệu lực, hiệp định này sẽ thúc đẩy, gia tăng đầu tư của các nước thành viên (nhất là các nước phát triển như Mỹ, Australia, New Zealand, Singapore…) vào Việt Nam.

Đặc biệt trong một số lĩnh vực Việt Nam mong muốn phát triển như các ngành nông nghiệp công nghệ cao, TPP sẽ tạo cơ hội hình thành các chuỗi khép kín với công nghệ tiên tiến, tạo khả năng cho Việt Nam tham gia tốt hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s