Chuyện Phản biện

Posted: October 14, 2015 in Uncategorized
Tags:

Ông Giáo Làng Những mong muốn thay đổi từ trên xuống sẽ chẳng thể thực hiện một khi những đòi hỏi của quần chúng chưa đủ mạnh. Nguời dân chưa nắm được quyền lực, thông tin lại bị bưng bít hay định hướng thì chắc chắn có tới thế kỷ sau, tình trạng vẫn như cũ.

� Xem thêm: Cùng điểm xuất phát, có nước đã tiến lên thần kỳ + Chúng ta có dám thừa nhận yếu kém?

1. Khoảng 30 năm trước, có một từ luôn luôn được nhắc tới trong những buổi họp, những đợt học tập chính trị, hiển hiện trên những khẩu hiệu đập vào mắt mọi người, văng vẳng trên loa phát thanh công cộng: “tuyệt đối”. “Tuyệt đối tin tưởng”, “tuyệt đối chấp hành”, “tuyệt đối trung thành”, … những điều ấy thường thấy hàng ngày chẳng khác gì “cơm ăn nước uống”. Bất kỳ đường lối, chủ trương, chính sách, … nào, do cấp nào ban hành (thậm chí chỉ là nghị quyết của chi bộ có dăm ba “ông bà” hầu hết trình độ mới thoát nạn mù chữ thông qua) cũng đều được coi là “tuyệt đối” đúng, “tuyệt đối” không thể nghi ngờ và không thể có một lựa chọn nào khác ngoài việc phải “tuyệt đối” chấp hành.

Ngay những nguời có đầu óc được gọi là “ngang bướng” khi ấy nếu có dám hé răng phản bác một cách “nhẹ nhàng” thì trong đêm thâu, cũng có lúc phải nghĩ lại rằng “hay là mình giác ngộ quá kém, lập trường quá non nên chưa hiểu hết được cái uyên thâm, thấu hết được cái đúng đắn” của những đường lối, chủ trương ấy. Lâu ngày dần trở thành thói quen, hầu hết nguời ta đều cho rằng hễ cái gì của “cấp trên” đưa xuống ” thì không thể sai. Thậm chí khi thấy một “ông” bí thư chi bộ tự vỗ ngực quả quyết “đảng đây này!” mà không ít nguời cũng thấy như một điều tất yếu.

Không phải chỉ trong giới ít học, ngay cả những nguời vốn được coi là có trí tuệ hơn nguời, nghi ngờ cũng là điều không được khuyến khích. Trong cuốn “Trăm hoa đua nở trong đêm Việt Nam”, viết về vụ Nhân văn – Giai phẩm, tác giả George Boudaren, một hàng binh Pháp sau trở thành một nhà báo của ta, đã viết những bài ca ngợi Hồ Chí Minh, Võ Nguyên Giáp nhưng rồi cũng phải “bỏ của chạy lấy nguời” đã để không ít những trang đầu tiên viết về chuyện “thắc mắc”, điều “cấm kỵ” của một thời ngay trong giới tinh hoa của xã hội. Cho nên, chuyện “phản biện”, chuyện được nói lên những suy nghĩ của riêng mỗi nguời một cách công khai, thậm chí đả kích, châm biếm những tên tuổi cụ thể  trong những năm gần đây là một sự thay đổi đáng kể cần trân trọng.

Nhắc lại những chuyện buồn của thời  ấy, tôi hoàn toàn không muốn tỏ lòng biết ơn ai, bởi vì, có lần tôi đã viết “sao phải biết ơn kẻ đã bóp cổ ta đến sắp chết mới buông tay”. Nhắc lại chỉ để thông cảm với một thực trạng, không ít nguời, (không kể bọn cơ hội, vụ lợi) cũng học hàm học vị đầy mình vẫn chưa thay đổi được những tín điều của một thời, mặc dù nó đã được loài người vứt vào sọt rác của lịch sử, khá nhiều nguời mang đủ loại danh hiệu vẫn cúi rạp mình trước nguời có chức trọng quyền cao trên sân khấu (còn thực “bụng” ra sao thì thật khó đoán định); và thấy ngay việc phản biện trên khắp cả “lề phải” cũng như “lề trái”, có không ít điều đáng bàn cũng không có gì lạ. Món dù ngon cũng không phải mọi người đều biết cách ăn, chưa nói tới biết cách thưởng thức.

2. Đọc những lời thể hiện thái độ phản đối, phẫn nộ trên các phương tiện thông tin trước thực trạng cuộc sống hiện nay, dễ dàng ta có thể chia làm mấy loại. Trước hết là những lời chửi bới, nhiều khi thậm chí tục tĩu. Họ chẳng cần lý lẽ, dẫn chứng, lập luận, trước bất cứ điều gì dù là từ Cương lĩnh, đường lối, … tới một quyết định tăng giá điện, nước, học phí hay viện phí, …; từ chuyện vỡ đường ống dẫn nước từ sông Đà về Hà Nội đến chuyện Sài Gòn thành sông, thành hồ sau những trận mưa, … Họ đều lớn tiếng chửi, cất lời nguyền rủa tất cả. Tôi coi đây là những lời chửi đổng nhằm “xả” cơn tức tối bột phát và nó sẽ nguôi đi nhanh chóng của những kẻ vừa thiếu tỉnh táo (do rượu hoặc ma túy) vừa thiếu giáo dục, đặc biệt là giáo dục gia đình. Đây không thể coi là “phản biện” vì chắc chắn, nó không đóng góp gì vào sự thúc đẩy tiến bộ xã hội, thậm chí nó còn có hại vì đã gây ô nhiễm cho môi trường văn hóa, nêu những tấm gương rất xấu đặc biệt cho lớp trẻ.

Ngược lại, có những phản biện rất công phu. Các tác giả đã dày công trình bày lịch sử của vấn đề từ xưa tới nay, từ ở Việt Nam đến nhiều nước văn minh khác, dẫn các tác giả kinh điển từ Đông sang Tây, có những lời nhắc nhở, phê phán, cảnh tỉnh, … những nguời có trách nhiệm vừa giàu lý lẽ sắc sảo vừa nhiệt huyết tràn đầy, hy vọng họ có những thay đổi, có những quyết sách đúng đắn lâu dài và trước mắt để ích nước lợi dân, nhanh chóng  đưa một bộ phận không nhỏ dân ta thoát cảnh đói nghèo, sớm đưa nước ta hòa nhập vào dòng chảy chung của nhân loại tiến bộ. Tôi cảm phục những hiểu biết sâu sắc, những kế sách thức thời của các tác giả đó, những bài viết ấy cũng đã giúp tôi mở rộng tầm hiểu biết và học được nhiều điều về văn phong. Không thể nghi ngờ mục đích và tác dụng của những lời “phản biện” như thế, nhất là ở các nước văn minh tiến bộ, với những nguời lãnh đạo hoàn toàn vì nước vì dân.

Khác với việc được khuyến khích và sẵn sàng lắng nghe ở đâu đó, có lẽ ở Việt Nam hiện nay, chúng ta không nên hy vọng quá nhiều vào những nguời đang nắm quyền lực. Họ có thể trí tuệ chưa được sáng suốt, hiểu biết chưa được sâu rộng, lời ăn tiếng nói chưa thoát khỏi chút “quê kệch”, … nhưng theo tôi hiểu, thủ đoạn chính trị của họ đều thuộc loại bậc thầy và sự kiên trì với những mục đích cá nhân thì thật vô cùng đáng nể. Với các phe nhóm  từ nhỏ tới lớn hiện nay, lợi ích bản thân luôn luôn được đặt lên hàng đầu. Nếu có một chút nhượng bộ nào đấy ở một vài vụ việc  chẳng qua chỉ vì cái lợi quá vặt vãnh so với việc cần giữ gìn sao cho bộ mặt đỡ nhem nhuốc. Thực tế thời gian qua, chưa kể những vụ việc mang tính chất “sống còn”, ngay  trước những mối lợi chưa thực lớn (vụ chặt cây ở Hà Nội, vụ tượng đài ở Sơn La, … chẳng hạn) những phản biện rất kiên quyết, có tình có lý của đông đảo quần chúng  đều rơi vào quên lãng. Sau thời gian dài hoãn binh, khi kết luận cuối cùng trong vụ chặt cây, con số thiệt hại vẫn mù mờ, những thủ phạm vẫn ẩn danh, còn quyết tâm xây tượng của Sơn La thì hình như càng cao dù số nguời nghèo đói ở tỉnh này chưa bao giờ là thấp. Cuối cùng, vẫn việc ai nguời ấy làm.

Đừng hy vọng vào lương tâm, trong con người họ lương tâm từ lâu đã được thay bằng lương thực, lương tháng; đừng trông mong vào trách nhiệm với dân với nước của họ, đã phải chạy chức, chạy quyền thì việc trước mắt là làm sao phải hoàn vốn và sinh lời chứ không phải trách nhiệm với những nguời chẳng giúp gì cho việc đoạt quyền giành chức; đừng kêu gọi họ lòng yêu nước thương dân, dân với nước giờ chỉ là nguồn sữa bất tận từ con bò chỉ biết quanh năm gặm cỏ.

3. Cho nên những mong muốn thay đổi từ trên xuống sẽ chẳng thể thực hiện một khi những đòi hỏi của quần chúng chưa đủ mạnh. Nguời dân chưa nắm được quyền lực, thông tin lại bị bưng bít hay định hướng thì chắc chắn có tới thế kỷ sau, tình trạng vẫn như cũ. Đọc lại những nhận xét của các chí sĩ cách mạng hồi đầu thế kỷ 20 như Phan Chu Trinh, Phan Bội Châu, Ngô Đức Kế, … về dân trí của nguời dân Việt, ta có thể thấy hầu như chưa có những chuyển biến gì đáng kể. “Tục ngữ có câu Cọp chết để da, nguời chết để tiếng. Xem câu nói đó thời danh vẫn nên quý” (Phan Bội Châu); “Chứng bệnh hay giả dối là chứng bệnh chung của nguời nước ta mà ở trong đó lại có chứng đặc biệt là chứng ái quốc giả. Nào đám truy điệu, nào tiệc hoan nghênh, nào kỷ niệm anh hùng, nào sùng bái chí sĩ, chuông dồn trống giục, nam bắc hát hò, xem ở trong một đám lúc nhúc lao nhao, cũng đã có mấy phần nguời đã biết quyền nước đã mất thì tính mạng không còn…” (Phan Bội Châu); “Tính nguời mình không biết quý trọng công nghệ, nguời làm nghề tựa hồ như bất đắc dĩ không học được làm quan chẳng lẽ ngồi khoanh tay chịu chết mới phải xoay ra làm nghề thôi. Mà làm nghề thì không cần tinh xảo chỉ cốt bán rẻ tiền được nhiều nguời mua là hơn” (Phan Kế Bính); “Một nguời làm năm bảy việc, trong khi làm bàu gánh hát bộ lại có xuất bản một cuốn tiểu thuyết ái tình, lại có mở một cửa hàng tạp hóa, ít lúc chi đó lại vọt xuống tàu sang Pháp làm chính trị” (Tân Việt); …Hơn một thế kỷ đã trôi qua, nguời dân vẫn thờ ơ với chính trị, vẫn coi chuyện phát triển của đất nước, chuyện xã hội văn minh, công bằng, … không phải là việc của nhà mình, chỉ biết chạy chọt, lo lót mỗi khi chính mình hay nguời thân bị đè nén, chịu những oan khuất, bất công, …

Từ đầu thế kỷ 19, Thomas Jefferson (1743 – 1826), Tổng thống thứ 3 của nước Mỹ đã nói với một dân biểu: “Nếu quần chúng nhân dân không còn lưu tâm đến công việc chính trị xã hội, thì các ông và tôi, Quốc hội lập pháp, Chánh án, Thống đốc, tất cả sẽ biến thành những con chó sói. Điều này dường như là luật tự nhiên thuộc bản chất tổng quát của chúng ta, cho dù có vài ngoại lệ cá nhân”. Một thế kỷ sau, Tản Đà, một nhà thơ Việt Nam cũng đã cảnh báo:

Cũng bởi thằng dân ngu quá lợn
Cho nên quân nó mới làm quan.

Thế mới biết, không phải ngẫu nhiên, ngay từ những ngày đầu, “trong số các chí sĩ đương thời và cả sau này, Phan Châu Trinh là người thấy rõ nhất những nhược điểm của xã hội và con người Việt Nam. Ông chủ trương phải thay đổi từ gốc rễ bằng cách nâng cao trình độ trí tuệ và đạo đức của người Việt, phát triển kinh tế – văn hóa, học những tư tưởng tiến bộ của Phương Tây, từ bỏ phong tục tập quán lạc hậu…” và đưa ra khẩu hiệu “Khai dân trí, chấn dân khí, hậu dân sinh”. Một khi dân trí chưa được mở mang, dân khí chưa được khích lệ thì mãi mãi tương lai của đất nước còn trong vòng mờ mịt.

Trong hoàn cảnh ấy, thiết nghĩ những phản biện trên các diễn đàn không thể quên phải góp phần nâng cao dân trí.  Làm chuyển biến, thay đổi cả một cơ chế không phải là công việc dễ dàng, nó đòi hỏi thời gian và rất nhiều điều kiện khác; nhưng để giúp mỗi con người ý thức được bản thân, có những hành xử thích hợp có lợi nhất  trong những hoàn cảnh bất lợi để hạn chế tới mức thấp nhất những thiệt hại cho mình và gia đình là việc thuận lợi hơn nhiều. Trong cuộc sống, ta thường thấy không ít những nguời thu nhập chưa cao, thậm chí còn nghèo túng nhưng hay phạm luật giao thông để bị nộp phạt; nguời đang thiếu tiền để trang trải những nhu cầu tối thiểu trong cuộc sống gia đình lại thường xuyên ăn nhậu bằng những loại rượu bia kém chất lượng để rồi mỗi ngày thêm nguy cơ mắc bệnh nan y;  nguời đang thiếu tiền đóng học phí cho con cái lại thường xuyên là khách của những quầy xổ số, những quán ghi số đề, nguời thu nhập còn eo hẹp lại thích “so kè” với những nguời thuộc loại tỷ phú, đại gia, …sống không biết cẩn trọng đến khi có chuyện gì lại đổ do số mệnh, … Giá như những con người ấy được khai mở hiểu biết thông thường, chắc chắn những tệ nạn, những thói tục lạc hậu làm tổn hại tới cuộc sống của họ sẽ được hạn chế.

Mở mang, nâng cao dân trí luôn có hai mặt, vừa giúp nguời dân nâng cao ý thức về quyền lợi chính đáng mình được hưởng nhưng đồng thời cũng phải khẳng định trách nhiệm để góp phần xây dựng một xã hội văn minh. Trong những ý kiến phản biện hiện nay, không ít nguời phản đối, lên án bất cứ cái gì do chính quyền đưa ra. Thái độ ấy hoàn toàn vô lý,  và không đạt được mục đích. Một thời gian dài, để lấy lòng dân, Nhà nước đã thực hiện những chính sách mang nặng tính chất “duy ý chí” gây ảo tướng về sự tốt đẹp của xã hội  như miễn học phí, viện phí cho mọi người. Bước vào nền kinh tế thị trường, những chính sách ấy đã ngày càng lộ rõ sự “bất cập” không thể không thay đổi. Tôi không phủ nhận có nhiều chủ trương, chính sách không lấy quyền lợi của dân chúng làm mục đích. Nhưng rõ ràng nhiều chính sách là cần thiết. Trong một đất nước còn nghèo (chưa bàn tới nguyên nhân dẫn tới cái nghèo), phúc lợi xã hội chưa đủ để chăm lo mọi mặt cho đời sống con người thì việc tăng học phí, tăng viện phí, … là điều không thể tránh khỏi. Làm sao đòi hỏi giáo dục có chất lượng khi học phí của một học sinh trung học mỗi tháng chỉ tương đương 2 bát phở loại “xoàng” (60.000 đ) trong khi học phí của một trường phổ thông đạt chuẩn quốc tế ở ngay Hà Nội khoảng 25.000.000 đ/tháng? Làm sao có thể được chăm sóc sức khỏe tốt khi giá tiền một lần khám bệnh ở bệnh viện loại cao nhất chỉ có 17.000 đ  và ở Trạm xá xã chỉ có 5.000 đ? Không ít nguời lên án ngành y tế với rất nhiều biểu hiện tiêu cực, tôi rất đồng tình, nhưng đồng thời, có lẽ cũng nên cho mọi người biết chi phí cho một  lần khám bệnh ở bệnh viện Hồng Ngọc là 100.000 đ, còn ở bệnh viện Việt Pháp là 500.000 đ (25 đô-la). Để giảm tai nạn giao thông, thực hiện nhiều hình phạt nghiêm khắc trong đó chủ trương tăng mức tiền phạt khi vi phạm luật là cần thiết (hình như các nước họ đều làm như thế, ở Thái Lan, nguời lái xe có thể bị ngồi tù khi nồng độ cồn quá mức cho phép, khi sử dụng điện thoại di động kể cả lúc xe tạm dừng,  …) vì phần lớn nguyên nhân gây tai nạn giao thông là do ý thức nguời tham gia giao thông. Những lý sự kiểu như “nhà đã nghèo, có mỗi cái xe máy để kiếm cơm lại tịch thu (khi đi vào đường cao tốc) là bất nhân”, “xử phạt nặng chỉ tổ “béo” cảnh sát giao thông”, .. chỉ để “chống lưng” cho nguời vi phạm. Sao không có những bài viết nhắc nhở nguời dân làm thế nào để không bị phạt khi tham gia giao thông, làm thế nào để giữ sức khỏe, hạn chế vào bệnh viện, làm thế nào để tránh nạn bắt phải học thêm, … trong khi những thực trạng ấy khó thay đổi trong thời gian trước mắt.

Nguyễn  Du xưa đã nói: “Mà trong lẽ phải có người có ta”. Những ý kiến phản biện nếu luôn luôn thấy hai mặt của vấn đề, vừa tác động tới nguời cầm quyền để có chủ trương chính sách hợp lòng dân, vừa cảnh tỉnh để mỗi con người bình thường ý thức được chỗ đứng hiện tại để nếu chưa được sung sướng cũng hạn chế bao khổ đau chắc chắn sẽ được hoan nghênh vì nó rõ ràng đã góp phần làm cuộc sống ngày thêm tốt đẹp.

Cùng điểm xuất phát, có nước đã tiến lên thần kỳ

Nguyễn Đăng Tấn (VNN) Góp ý Đại hội Đảng XII – Định hướng XHCN được hiểu như thế nào? Đây là luận điểm còn nhiều tranh luận, còn nhiều phản biện nhất. Đó cũng là tất yếu trên con đường tìm ra chân lý. Vấn đề là tiếp thu để hoàn thiện cho phù hợp với qui luật vận động phát triển. Và đó cũng là yêu cầu mà Đảng đã chỉ ra: Cần phải hoàn thiện thể chế này.

Trong báo cáo Chính trị trình Đại hội Đảng lần thứ XII vấn đề mà bạn đọc quan tâm chính là định hướng phát triển nào cho Việt Nam trong những năm tới.

Chưa xứng với tiềm năng

Có thể nói, ở VN từ khi thống nhất đất nước và nhất là từ khi Đổi mới đến nay, chúng ta đã tiến được những bước khá dài. Đời sống người dân không ngừng được nâng lên, đất nước nhiều thay đổi…Tuy nhiên khách quan mà nói sự phát triển đó chưa tương xứng với tiềm năng.

Hãy nhìn sang Singapore, đất nước gần như không có tài nguyên thiên nhiên, diện tích chỉ bằng đảo Phú Quốc của nước ta nhưng tại sao họ lại phát triển nhanh chóng. Nhật Bản là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên, dân số đông, đất chật hẹp tại sao lại là nước có công nghệ nguồn của thế giới và là nước phát triển năng động đứng thứ 03 thế giới (trước đó là thứ 02). Hay Hàn Quốc chỉ sau khoảng 35 năm với xuất phát điểm như nước ta đã là nước phát triển… thần kỳ.

Còn VN ta thì sao, cứ tính từ năm 1986 bắt đầu đổi mới tới nay đã 30 năm mà vẫn đang loay hoay là nước phát triển ở mức độ trung bình thấp.

Phải tập trung lí giải điều này, nghiêm túc nhìn lại thì mới mong có những bước phát triển mới và đó cũng là đòi hỏi là yêu cầu của nhân dân đối với Đảng, những người lãnh đạo, người  “tổ chức mọi thắng lợi của cách mạng VN”.

Vậy cái gì cản trở làm cho VN chậm phát triển trong khi ta có điều kiện như tài nguyên, nguồn nhân lực và những lợi thế so sánh ở rất nhiều lĩnh vực khác nhau?

Trước kia ta hay viện dẫn khó khăn ảnh hưởng đến phát triển là do hậu quả chiến tranh để lại, sau đó là cơ chế quan liêu bao cấp kéo dài… Điều đó cũng là khách quan song từ khi đổi mới, chúng ta thay đổi tư duy đã 30 năm nhưng đất nước vẫn phát triển chưa tương xứng tiềm năng? Vì sao vậy? Và hiện nay nhiều chuyên gia đã cảnh báo VN có thể sẽ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”. Phải nhìn đúng bản chất, sự thật khách quan từ đó mới mong lí giải và mới mong có giải pháp đúng.

Có hai lý do dẫn đến tình trạng trên. Một là, chưa có lí luận phù hợp để mở đường. Hai là, chỉ đạo thực hiện còn nhiều thiếu sót khuyết điểm, duy ý chí. Phải chăng cả hai lý do đó đều làm cản trở sự phát triển của đất nước?

Lấy ví dụ về khoán 10. Một thời gian dài, chúng ta đã nhận thức chủ quan trong vấn đề chỉ đạo nông nghiệp nông thôn, trong phát triển hợp tác xã theo tư duy chủ quan…dẫn đến một đất nước có tiềm năng lớn về sản xuất lúa gạo lại thiếu lương thực. Và khoán 10 là “cây đời mãi mãi xanh tươi” phù hợp với qui luật của sự phát triển. Hay gần đây chúng ta cũng đã mạnh dạn thay đổi tư duy làm kinh tế tập đoàn, ưu tiên kinh tế nhà nước…Chính sự nhận thức không theo kịp thực tiễn vừa qua là nguyên nhân kìm hãm sự phát triển.

Thông báo về Hội nghị TW lần thứ 10, đánh giá về những hạn chế trong 05 năm vừa qua đã nhấn mạnh: Kinh tế – xã hội phát triển nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và còn nhiều hạn chế, bất cập; kinh tế vĩ mô ổn định nhưng chưa vững chắc, tăng trưởng kinh tế phục hồi còn chậm, chưa đạt chỉ tiêu đề ra; kết quả thực hiện ba đột phá chiến lược và cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới là mô hình tăng trưởng chưa đáp ứng yêu cầu; thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm hoàn thiện, chưa thực sự tạo động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế – xã hội…


Khách quan mà nói sự phát triển của VN chưa tương xứng với tiềm năng. Ảnh minh họa. Nguồn: Zing

Định hướng XHCN được hiểu thế nào?

Trong Báo cáo chính trị lần này, Đảng vẫn tiếp tục đề ra chủ trương: Hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Vậy thực chất nội dung này là gì? Tại sao Trung ương lại nhận định thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN chậm hoàn thiện?

Hiện nay chúng ta đã và đang thực hiện kinh tế thị trường và đã đề nghị các nước công nhận VN có nền kinh tế thị trường, điều đó là phù hợp. Nó đúng với điều kiện nước ta nhưng đồng thời cũng đúng với sự phát triển của qui luật khách quan.

Còn định hướng XHCN được hiểu như thế nào? Đây là luận điểm còn nhiều tranh luận, còn nhiều phản biện nhất. Đó cũng là tất yếu trên con đường tìm ra chân lý. Vấn đề là tiếp thu để hoàn thiện cho phù hợp với qui luật vận động phát triển. Và đó cũng là yêu cầu mà Đảng đã chỉ ra: Cần phải hoàn thiện thể chế này.

Trong tác phẩm Phê phán Cương lĩnh Gôtha, C. Mác có một câu nổi tiếng: Giữa xã hội tư bản chủ nghĩa và xã hội cộng sản chủ nghĩa là một thời kỳ cải biến cách mạng từ xã hội này sang xã hội kia. Thích ứng với thời kỳ ấy là một thời kỳ quá độ chính trị, và nhà nước của thời kỳ ấy không thể là cái gì khác hơn là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

Mác chỉ nói đến CNCS và cũng chỉ mới nói như là sự định hướng chính trị còn mô hình kinh tế cụ thể, ông cũng chưa đề cập đến.

Còn thời kỳ quá độ mà Mác nói, thực ra trong lí luận còn rất nhiều tranh luận, phải chăng CNXH chính là nằm trong cái thời kỳ quá độ ấy, thời kỳ mà Mác nói là nền chuyên chính cách mạng của giai cấp vô sản.

Và nếu đúng như vậy thì những qui luật cụ thể của nó là gì, để đi tới đó bằng cách nào…?  Chính là điều mà chúng ta còn thiếu, chưa rõ.

Ta cần mạnh dạn khẳng định con đường ta đi tới như Bác Hồ nói và sau này nhiều văn kiện Đảng đã nhấn mạnh: Dân giàu nước mạnh dân chủ công bằng văn minh. Có thể đó cũng là CNXH mà ta đang hướng tới, là cái tên ta đặt ra? Nhưng có lẽ quan trọng hơn là chúng ta đưa ra được mô hình kinh tế để đạt được mục tiêu đã vạch: Dân giàu nước mạnh, dân chủ công bằng văn minh, mới điều cốt lõi hiện nay.

Một thời gian dài ta lẫn lộn giữa làm kinh tế và chuyện dân chủ công bằng văn minh nên các doanh nghiệp Nhà nước vừa phải làm kinh tế lại vừa như làm nhiệm vụ của an sinh xã hội, dẫn đến không theo qui luật, thị trường không ra thị trường, bao cấp không ra bao cấp. Hậu quả là nhiều tập đoàn quả đấm thép làm ăn thua lỗ vì phải gánh trên vai nhiều nhiệm vụ song trùng, một số phá sản để lại hệ lụy rất nghiêm trọng cho nền kinh tế.

Gần đây Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã phân tích vấn đề này, Thủ tướng nhấn mạnh: “Tất cả phải đi vào kinh thế thị trường và đã là thị trường thì phải thực hiện đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường, trước hết là giá cả, phân bổ nguồn lực phải theo thị trường. Và đã thị trường thì phải công khai, minh bạch, bình đẳng”.

Còn định hướng XHCN là Nhà nước sẽ dùng chính sách, dùng công cụ, dùng nguồn lực của mình để điều tiết, để phân phối, phân phối lại, bảo đảm cho tiến bộ công bằng xã hội, xóa đói giảm nghèo…

Có thể thấy đó là cách tiếp cận mới. Vấn đề này cần thảo luận và định hướng một cách cụ thể. Rất tiếc là Văn kiện còn chưa làm rõ vấn đề này.

Chúng ta có dám thừa nhận yếu kém?

Nguyễn Đăng Tấn (VNN) Góp ý Đại hội Đảng XII – Sòng phẳng với lịch sử, sòng phẳng với chính thực tiễn kinh tế để từ đó mới mong tìm ra đường hướng, giải pháp. Đó cũng chính là khẳng định chúng ta dám nhìn thẳng vào sự thật, vào những yếu kém, bất cập mới để khắc phục và đi tới.

30 năm đổi mới vừa qua không phải là dài so với lịch sử dân tộc nhưng không phải là quá ngắn để một quốc gia không chỉ đưa ra đường hướng phát triển, mà còn có thể gặt hái được nhiều thành tựu trong thực tiễn.

Nhiều nước trong khu vực nếu so sánh cùng điều kiện điểm xuất phát như VN nhưng chỉ sau 30 năm họ đã có bước đi thần kỳ.

Vậy VN ta phát triển ra sao trong vòng 30 năm qua, khi mục tiêu đặt ra là đến năm 2020 cơ bản là nước công nghiệp hóa?

Về vấn đề này Tiến sĩ Lê Đăng Doanh (nguyên Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế TƯ) dẫn lời cựu lãnh đạo Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tính toán để minh chứng cho khả năng thành công và kết quả của mục tiêu công nghiệp hoá mà ta hoạch định. Theo vị cựu lãnh đạo này, nếu tăng trưởng công nghiệp đạt 11 – 20% thì đến năm 2020, thu nhập bình quân đầu người sẽ là 4.800 USD.


Ảnh: Trần Chánh Nghĩa

Ông Lê Đăng Doanh bình luận, nếu đúng vậy thì vẫn chưa đạt được mức 6.800 USD để được thế giới công nhận là nước công nghiệp. Còn nếu quy đổi con số 4.800 USD đó ra trung bình sức mua (PPP) để được con số cao hơn thì đó là việc tự mình dùng một cái thước đo khác với thế giới. Ông Lê Đăng Doanh còn nghi ngờ, thực tế thì làm sao có được con số tăng trưởng đó. Cho nên, kế hoạch năm năm lần này cũng như mục tiêu đến năm 2020, theo ông là sẽ khó thành công.

Dự thảo lần này lại vẫn tiếp tục đưa ra định hướng “Xây dựng nền tảng sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”, vậy hướng hiện đại là gì? Cụ thể ra sao? Giải pháp dài hạn, trung hạn và ngắn hạn là gì? Nếu cứ đà này, thì kinh tế VN làm được hay không cũng vẫn thế. Khái niệm trong văn bản về hướng phát triển hiện đại 10 năm cũng đúng, hàng mấy chục năm cũng không sai.

Nếu xem xét kỹ, đáng tiếc, trong 30 năm qua bất cứ nghị quyết gì chúng ta cũng chỉ nhắc lại mục tiêu đó và khi không đạt được không thấy ai có khuyết điểm gì trong việc đề ra mục tiêu này. Và rồi cũng chẳng ai có khuyết điểm, hoặc trách nhiệm gì khi không thực hiện được mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Để rồi đến lần này, rất có thể do không thực hiện được mục tiêu đã định, văn kiện lại ghi rõ “Xây dựng nền tảng sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại”. Nhưng nếu cứ theo cách làm này thì nghị quyết sẽ không có nhiều ý nghĩa trong chỉ đạo thực tiễn.

Một thực tế khách quan, trọng tâm để thực hiện mục tiêu đầy lý tưởng là công nghiệp hóa hiện đại hóa cũng chưa rõ ràng. Dựa vào đâu để có thể đi tới công nghiệp hóa? Dựa vào nội lực, hay vào sự đầu tư của nước ngoài thông qua các dự án ký kết?

Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh từng dẫn ra những bất hợp lý khi Nhà nước đặt động lực phát triển công nghiệp vào hai trụ cột là doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI). Mặc dù được ưu đãi sử dụng nhiều nguồn lực, thậm chí ưu thế, tiềm lực hơn hẳn các khu vực khác, nhất là dân doanh, nhưng giá trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ chiếm khoảng 20 – 25% giá trị sản xuất công nghiệp cả nước, trong khi tỷ lệ này của khu vực dân doanh là 40% (nếu tính theo giá trị gia tăng thì chênh lệch còn lớn hơn). Theo ông Vũ  Thành Tự Anh, doanh nghiệp nhà nước còn đang là nguyên nhân của các vấn đề kinh tế vĩ mô chứ không phải là giải pháp.

Một thời gian dài chúng ta đã đặt niềm tin vào các Tổng công ty 90, 91 coi đây là giải pháp và cũng là động lực để thúc đẩy công nghiệp hóa hiện đại hóa. Vinashin là một ví dụ về việc chúng ta muốn đẩy ngành công nghiệp đóng tàu ra biển lớn cạnh tranh với các nước có ngành đóng tàu tiên tiến. Rồi một loạt các tổng công ty khác được thành lập đảm nhận mũi nhọn then chốt nhưng tất cả đều không thành công bởi cách làm bước đi cách quản trị doanh nghiệp không hợp lý.

Đã đến lúc, Đảng và Nhà nước cần mạnh dạn mổ xẻ vấn đề tìm ra nguyên nhân, tìm ra giải pháp, đáp ứng yêu cầu thách thức, phát triển và hội nhập quốc tế. Sòng phẳng với lịch sử, sòng phẳng với chính thực tiễn kinh tế để từ đó mới mong tìm ra đường hướng, giải pháp. Đó cũng chính là khẳng định chúng ta dám nhìn thẳng vào sự thật, vào những yếu kém, bất cập mới để khắc phục và đi tới.

Ta có dám thừa nhận hay không? Cũng giống như ta đã dám nhận khuyết điểm non yếu trong đường lối phát triển nông nghiệp tập trung là hợp tác xã, để rồi từ đó mà quyết đoán chuyển sang khoán hộ, tạo bước phát triển mới.

Khi có định hướng phát triển đúng thì chắc chắn hành trình đi tới sẽ không thua kém các nước trong khu vực, và sẽ thành công. Đó cũng chính là nhiệm vụ đặt lên hàng đầu của Đại hội Đảng sắp tới.

[:-/] Cải cách thể chế từ câu hỏi chưa có lời giải (TBKTSG 3/5/2014) – Một câu hỏi mà gần 30 năm qua Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh vẫn chưa có câu trả lời, đó là thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nhiều người hỏi Bộ trưởng Bùi Quang Vinh, thế nào là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Ông đáp: “Chúng ta cứ nghiên cứu mô hình đó, mà mãi có tìm ra đâu. Làm gì có cái thứ đó mà đi tìm”.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s