Bội chi đe dọa kế hoạch tăng lương công chức

Posted: October 15, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nam Nguyên (RFA) – Tình trạng bội chi ngân sách triền miên, ngân sách nhà nước còn nợ nhiều khoản chi chưa có nguồn thanh toán là cảnh báo của Ủy ban Tài chính Ngân sách Quốc hội Việt Nam đưa ra trong phiên họp ngày 12/10 ở Hà Nội. Nam Nguyên trình bày thông tin này.

� Xem thêm: Vì sao kinh tế tăng trưởng mà doanh nghiệp nội suy kiệt? + Doanh nghiệp VN vẫn chưa biết phòng vệ thương mại.

trai-phieu.jpgẢnh minh họa File photo

Trái phiếu quốc tế

Tình trạng giật gấu vá vai, thu không đủ bù chi trong khi nợ công mỗi năm tăng nhanh, đưa tới việc Chính phủ đề nghị Quốc hội cho phép phát hành 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế kể từ 2017. Đây là hình thức vay nợ mới từ nước ngoài để trang trải nợ trong nước giai đoạn 2015-2016.

Theo báo chí chính thức, năm 2014 Việt Nam đã thành công phát hành trái phiếu chính phủ ra thị trường quốc tế tổng cộng 1 tỷ USD. Tuy vậy thông tin về việc này khá hạn chế, chỉ cho biết đã bán hết với lãi suất thấp 4,8% và thông qua Vietcombank. Chính phủ đã dùng khoản vay đó để đảo nợ vay có lãi suất cao hơn, hoặc cách sử dụng ngôn từ kỹ thuật là tái cơ cấu danh mục nợ của chính phủ.

Từ Saigon TS kinh tế Phạm Chí Dũng, một nhà hoạt động xã hội dân sự độc lập, bày tỏ sự nghi ngờ về đợt phát hành trái phiếu quốc tế 1 tỷ USD năm 2014 thông qua Vietcombank. Theo lời ông, có nhiều dấu hiệu cho thấy đó là doanh nghiệp trong nước mua, là tiền chạy lòng vòng không phải tiền tươi thóc thật, đúng ý nghĩa trái phiếu chính phủ phát hành ra thị trường quốc tế.

Đối với kế hoạch mới phát hành thêm 3 tỷ USD trái phiếu quốc tế, TS Phạm Chí Dũng nhận định:

  Tôi nghĩ tình hình rất khó khăn rồi, cho nên chính phủ mới nghĩ tới phát hành trái phiếu quốc tế. Nhưng vấn đề là có người mua hay không. Bởi vì từ năm 2013 đến giờ khi thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia VAMC công ty này cũng nhắm tới việc phát hành trái phiếu quốc tế hay là chào bán nợ cho nước ngoài. Họ đã gởi 500 hồ sơ cho nước ngoài để chào bán nợ nhưng mà cho tới giờ không nghe bất kỳ thông tin phản hồi nào được công khai
– TS Phạm Chí Dũng   

“ Tôi nghĩ tình hình rất khó khăn rồi, cho nên chính phủ mới nghĩ tới phát hành trái phiếu quốc tế. Nhưng vấn đề là có người mua hay không. Bởi vì từ năm 2013 đến giờ khi thành lập công ty quản lý tài sản quốc gia VAMC công ty này cũng nhắm tới việc phát hành trái phiếu quốc tế hay là chào bán nợ cho nước ngoài. Họ đã gởi 500 hồ sơ cho nước ngoài để chào bán nợ nhưng mà cho tới giờ không nghe bất kỳ thông tin phản hồi nào được công khai. Thì tình hình nợ công cũng như vậy phát hành nhưng không chắc có ai mua. Và một thông tin vừa mới xuất hiện thôi, việc tăng lương công chức hứa hẹn mấy năm nay và vừa rồi dự kiến đầu năm 2016 thực hiện, lại có thể bị đình lại thêm một lần nữa. Việc đó cho thấy tình hình là vô cùng khó khăn.”

TS Phạm Chí Dũng nhấn mạnh tới tình trạng ngân sách tiếp tục bội chi lớn, trong 9 tháng đầu năm đã bội chi 135.000 tỷ. Vừa  rồi Chính phủ đã phải vay ngân hàng Nhà nước 30.000 tỷ đồng đê chi tiêu. Chính phủ cũng lên kế hoạch thoái vốn nhà nước ở một số doanh nghiệp đã cổ phần hóa. Tuy nhiên các chuyên gia cho rằng, số tiền này nên để đầu tư phát triển thay vì để bù thiếu hụt ngân sách.

Ngoài ra tính tới đầu tháng 9/2015, Công ty quản lý tài sản quốc gia VAMC đã mua được 77.000 tỷ đồng nợ xấu của các ngân hàng thương mại. Nhưng thực chất là chỉ làm đẹp sổ sách kế toán. TS Phạm Chí Dũng lý giải, VAMC mua nợ rồi để đó không biết bán lại cho ai.

Nợ công

Công chức, viên chức là một trong những đối tượng được đề xuất tăng lương từ ngày 1-1-2015. Trong ảnh: Nhân viên UBND quận 1, TP HCM trong giờ làm việc

Ngày 12/10/2015 báo chí Việt Nam đồng loạt đưa tin nợ công của Việt Nam mỗi năm tăng 8 tỷ USD. Con số này được dựa vào đồng hồ nợ công toàn cầu của báo The Economist, theo đó nợ công của Việt Nam tính đến ngày 11/10/2015 là khoảng 92 tỷ 641 triệu USD và chiếm 46% GDP Tổng sản phẩm nội địa. Hồi tháng 7/2015, Ngân hàng Thế giới công bố nợ công của Việt nam đến hết 2014 là 110 tỷ USD tương đương 59% GDP, xấp xỉ số liệu của Bộ Tài chính Việt Nam. Tuy vậy hồi đầu tháng 10 vừa qua Học viện Chính sách và Phát triển thuộc Bộ kế hoạch Đầu tư đã tính toán nợ công của Việt Nam đến hết năm 2014 lên tới 66,4% GDP. Sở dĩ con số nợ công lớn hơn và vượt luôn trần cho phép 65% GDP là vì Học viện của Bộ Kế hoạch Đầu tư tính toán nợ công theo tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm luôn nợ của doanh nghiệp nhà nước và nợ của các tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội, bên cạnh nợ chính phủ, nợ do chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương, theo qui định của nhà nước.

Đề cập tới cách tính toán nợ công quốc gia theo tiêu chuẩn quốc tế, TS Vũ Quang Việt, nguyên Vụ trưởng Vụ Tài khoản Thống kê Liên Hiệp Quốc từ New York nhận định:

  Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm. Do đó nợ công không những phải tính nợ của chính phủ trung ương, nợ của chính quyền địa phương, nợ của doanh nghiệp nhà nước và đúng như bộ Kế hoạch Đầu tư họ nói là phải tính luôn nợ ở trong bảo hiểm xã hội nữa
– TS Vũ Quang Việt  

“ Quốc tế gọi nợ công là nợ của tất cả cơ quan công quyền Việt Nam hoặc doanh nghiệp thuộc về nhà nước. Bởi vì những  doanh nghiệp đó mà thất bại thì nhà nước phải có trách nhiệm. Do đó nợ công không những phải tính nợ của chính phủ trung ương, nợ của chính quyền địa phương, nợ của doanh nghiệp nhà nước và đúng như bộ Kế hoạch Đầu tư họ nói là phải tính luôn nợ ở trong bảo hiểm xã hội nữa.”

TS Vũ Quang Việt giải thích, hưu bổng các loại của người về hưu là một khoản nợ của chính phủ. Số tiền mà quỹ hưu bổng phải trả càng ngày càng lớn hơn, không những tiền lương tăng theo thâm niên mà tuổi thọ hiện nay cũng cao hơn. Ngoài ra còn một yếu tố đáng lưu ý là hiện nay quỹ hưu và bảo hiểm xã hội của Việt Nam cho thấy việc mất khả năng chi trả là một nguy cơ rõ rệt.

TS Vũ Quang Việt khẳng định, theo nguyên tắc của Liên Hiệp Quốc thì tất cả những mục khoản đó phải được tính vào nợ công hết. Ngoài ra đối với các số liệu đẹp mà một số tổ chức nước ngoài đưa ra, TS Vũ Quang Việt cho rằng, các tổ chức đó đã tính toán từ những số liệu do chính phủ nước sở tại đưa ra và do đó kết quả rất gần với số liệu chính thức của nước sở tại.

Theo đồng hồ nợ công toàn cầu của báo The Economist, tính đến 11/10/2015 nợ công của Việt Nam chỉ là 92 tỷ 641 triệu USD và chiếm tỷ lệ 46% GDP. Con số này thấp hơn rất nhiều so với số liệu gần đây của Bộ Tài chính công bố là 59,6% GDP. Phương pháp và dữ liệu đầu vào khác nhau sẽ cho ra những con số khác nhau.

Dù là nợ công là con số nào thì thực tế bội chi ngân sách là vấn đề càng ngày càng nan giải cho Việt Nam. Nguồn thu lớn từ khai thác dầu thô của Việt Nam bị ảnh hưởng vì giá dầu thế giới xuống thấp. Giải pháp để giảm thâm hụt ngân sách là tận thu thuế phí, giảm đầu tư công, chính phủ trung ương và địa phương tiết kiệm chi tiêu. Tuy nhiên ngay cả những yếu tố như  thay đổi tỷ giá, giải ngân vốn ODA có khuynh hướng gia tăng hiện nay cũng có thể làm cho nợ công tăng và bội chi ngân sách càng lớn hơn nữa.

Vì sao kinh tế tăng trưởng mà doanh nghiệp nội suy kiệt?

Tư Giang (TBKTSG Online) – Những số liệu thống kê trong nước và quốc tế công bố gần đây đều khẳng định kinh tế Việt Nam đang đà hồi phục. Tuy nhiên, không có cơ quan nào giải thích đà suy giảm đáng lo lắng của khu vực doanh nghiệp tư nhân trong nước.


Kinh tế hồi phục, doanh nghiệp FDI xuất siêu mạnh trong khi doanh nghiệp tư nhân nội địa
phải vật lộn để tồn tại. Ảnh một nhà máy dệt vải tại quận Bình Tân, TPHCM – Ảnh: Văn Nam

Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2015 ước tính tăng 6,5% so với cùng kỳ năm 2014, theo Tổng cục Thống kê, là một tín hiệu đáng mừng.

Đồng điệu, cả Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Ngân hàng Thế giới đều cho rằng tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam trong năm 2015 và 2016 “sẽ vượt mức kỳ vọng.”

Trong báo cáo gửi tới phiên họp Chính phủ tháng 9 vừa rồi, Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia khẳng định thêm, tăng trưởng “giữ vững đà phục hồi” trước những biến động kinh tế thế giới.

Củng cố cho nhận định này, Ủy ban nhận xét tình hình doanh nghiệp và đầu tư tư nhân tiếp tục cải thiện; số doanh nghiệp thành lập mới trong 9 tháng đầu năm 2015 tăng 28,5% về lượng và 31,4% về vốn so với cùng kỳ 2014.

Thêm vào đó, theo Ủy ban, hoạt động sản xuất kinh doanh tích cực giúp duy trì thu nội địa, bù đắp một phần tác động của giá dầu giảm. Tính đến 15-9, thu nội địa tăng 17,5% so với cùng kỳ 2014, đạt 74,3% so với dự toán.

Tổng cục Thống kê cho biết thêm, tính chung 9 tháng năm nay, cả nước có 68.347 doanh nghiệp đăng ký thành lập mới; trong khi đó số doanh nghiệp gặp khó khăn buộc phải tạm ngừng hoạt động là 47.604 doanh nghiệp.

Trong một báo cáo gửi Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng cho biết, 9 tháng năm 2015 đã có 54.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể, “tương đương cả năm 2011 và 2012”.

Như vậy, đà đóng cửa, giải thể của các doanh nghiệp tư nhân trong nước vẫn chưa được chặn lại, và rất tương phản với các số liệu về tăng trưởng kinh tế ngoạn mục được báo cáo.

Ngay cả Ủy ban Giám sát Tài chính quốc gia, trong khi khẳng định kinh tế giữ vững “đà phục hồi”, cũng phải thừa nhận thực tế là tình hình doanh nghiệp mặc dù cải thiện nhưng chưa hết khó khăn, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Phần lớn những doanh nghiệp phải dừng hoạt động hoặc giải thể, phá sản trong 6 tháng đầu năm 2015 là doanh nghiệp quy mô nhỏ có vốn đăng ký dưới 10 tỉ đồng.

Trong dự thảo báo cáo thẩm tra đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết của Quốc hội về Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm 2015 và đánh giá khái quát 5 năm 2011-2015, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội năm 2016, Ủy ban Kinh tế của Quốc hội tổng kết: năm 2013 có khoảng 60.000 doanh nghiệp, năm 2014 khoảng 67.800 và 9 tháng năm 2015 đã có 54.566 doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể.

Đây là hệ quả của chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa thắt chặt khiến cho số lượng doanh nghiệp ngừng hoạt động, giải thể lớn trong những năm qua là “đáng báo động” và sẽ tác động tiêu cực trong trung hạn, dài hạn.

Bên cạnh đó, theo Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, khu vực kinh tế trong nước luôn ở tình trạng nhập siêu. Giai đoạn 2011-2014 nhập siêu 56,3 tỉ đô la Mỹ, 9 tháng đầu năm 2015 đã nhập siêu 15,8 tỉ đô la Mỹ).

Trong khi đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài xuất siêu. Tính đến tháng 9-2015, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài xuất khẩu đạt 85,2 tỉ đô la Mỹ, tăng 15,8% và xuất siêu 11,9 tỉ đô la Mỹ; trong khi khu vực doanh nghiệp trong nước xuất khẩu 35,5 tỉ đô la Mỹ, giảm 2,7% (cùng kỳ tăng 14,2%) và nhập siêu khoảng 15,8 tỉ đô la Mỹ như đã nêu.

Trước thực trạng này, nhiều ý kiến của các thành viên Ủy ban Kinh tế Quốc hội lo ngại nếu không thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp tư nhân trong nước thì cơ cấu sản xuất doanh nghiệp trong nước sẽ ngày càng thu hẹp.

Tình trạng kinh tế tăng trưởng mà doanh nghiệp trong nước ngày càng suy giảm thật đáng quan tâm. Nó cho thấy doanh nghiệp FDI nay đã trở thành động lực của nền kinh tế.

Thêm vào đó, một điều đáng quan ngại là số lượng ngày một lớn các doanh nghiệp tư nhân đang bán mình qua các thương vụ M&A, mà tổng giá trị lên tới 4-5 tỉ đô la Mỹ mỗi năm gần đây.

Vì sao mà các doanh nghiệp tư nhân trong nước không thể lớn lên được như khu vực doanh nghiệp FDI? Hệ lụy của tình trạng này cần được xem xét, đánh giá toàn diện.

Doanh nghiệp VN vẫn chưa biết phòng vệ thương mại

Tư Hoàng (TBKTSG Online) – Trong khi hàng hóa Việt Nam xuất khẩu trở thành đối tượng của hàng trăm vụ kiện phòng vệ thương mại ở thị trường nước ngoài thì số vụ kiện tự vệ và kiện chống bán phá giá do Việt Nam thực hiện mới chỉ vỏn vẹn đếm trên đầu ngón tay.


Việt Nam mới chỉ khởi kiện một vụ liên quan đến chống bán phá giá tôm cách đây 10 năm – Ảnh TL.

Đây là kết quả của nghiên cứu mang tên “Điều gì cản trở doanh nghiệp Việt Nam sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại để tự bảo vệ trước hàng hoá nước ngoài?” do Trung tâm WTO và Hội nhập thuộc Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam công bố hôm nay 14-10.

Theo nghiên cứu này, tính tới tháng 10-2015, tổng số vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa Việt Nam ở nước ngoài là 70; tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là 36; tổng số vụ điều tra chống trợ cấp là 7; tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là 4; tổng số vụ điều tra tự vệ là 17; và tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là 6.

Trong khi đó, số lượng các vụ điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa nước ngoài nhập khẩu vào Việt Nam tính tới tháng 10-2015 như sau: tổng số vụ điều tra chống bán phá giá là 1; tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là 1; tổng số vụ điều tra tự vệ là 3; và tổng số vụ dẫn tới áp dụng biện pháp phòng vệ thương mại là 1. Không có vụ việc nào liên quan tới chống trợ cấp.

Khảo sát của Hội đồng Tư vấn phòng vệ thương mại, Trung tâm WTO và Hội nhập với hơn 1.000 doanh nghiệp cho thấy, đa số cho rằng hàng hóa nước ngoài có thể bán với giá thấp ở Việt Nam.

Có tới gần 70% doanh nghiệp cho rằng hàng hóa nước ngoài có thể bán với giá rất thấp vào Việt Nam là do các biện pháp bất hợp pháp, trong đó có nguyên nhân chính là chính phủ nước ngoài trợ cấp dưới các hình thức khác nhau hoặc do phía nước ngoài cố tình bán giá rẻ để chiếm lĩnh thị trường Việt Nam giai đoạn đầu.

Gần một phần ba các doanh nghiệp cho rằng có tồn tại hiện tượng hàng hóa nước ngoài bán sang Việt Nam với giá thậm chí còn rẻ hơn bán tại thị trường nước họ.

Tuy nhiên, đa số doanh nghiệp cho rằng khó khởi kiện. Khảo sát cho biết, có tới 86% số doanh nghiệp cho rằng nếu đi kiện thì mình sẽ gặp khó khăn trong huy động tài chính cho việc này (trong đó 52% cho là khá khó khăn, 34% cho rằng việc huy động này là rất khó khăn). Chỉ có 2% cho rằng chi phí kiện phòng vệ thương mại sẽ không là vấn đề gì lớn, 12% cho rằng dù có thể khó khăn nhưng sẽ là không quá lớn.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang, Giám đốc Trung tâm WTO và Hội nhập, nhận xét:  “Dường như các doanh nghiệp Việt Nam hiện chưa có bất kỳ chuẩn bị vật chất gì sẵn sàng cho việc sử dụng công cụ kiện phòng vệ thương mại khi cần thiết. Đối với một nhóm nhỏ cho rằng việc huy động chi phí đi kiện không khó khăn lắm có lẽ là do các doanh nghiệp này có tiềm lực tài chính tương đối mạnh chứ không phải đã có một khoản dành riêng cho việc này”.

Chủ tịch Hội đồng tư vấn về phòng vệ thương mại, Trung tâm WTO và Hội nhập, bà Đinh Thị Mỹ Loan, cho biết Việt Nam đã khởi kiện Hoa Kỳ về cá tra, cá basa, sau đó là tôm đông lạnh cách đây 10 năm.

Gần đây, Việt Nam cũng khởi kiện Hoa Kỳ hai vụ về một số biện pháp áp thuế chống bán phá giá (anti-dumping) đối với mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh xuất khẩu từ Việt Nam vào Hoa Kỳ, và một số biện pháp áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng tôm nước ấm đông lạnh xuất khẩu từ Việt Nam.

Theo bà Trang, trong cả ba vụ việc phòng vệ thương mại của Việt Nam thì nguyên đơn chỉ bao gồm một doanh nghiệp (với hai vụ tự vệ) hoặc hai doanh nghiệp (với vụ chống bán phá giá) và sản lượng sản phẩm liên quan mà các nguyên đơn sản xuất chiếm tới trên dưới 70-80% tổng sản lượng sản xuất nội địa.

Thực tế này không khó lý giải bởi thường thì các doanh nghiệp có thị phần lớn là các doanh nghiệp mạnh, có đủ năng lực để thực hiện việc đi kiện theo các thủ tục phức tạp cũng như có đủ nguồn lực để “đầu tư” vào việc đi kiện, coi đó như là một chiến lược kinh doanh của mình.

Tại hội thảo, đại diện Hiệp hội Vận tải Ô tô Việt Nam đặt câu hỏi, liệu ba hiệp hội taxi tại Hà Nội, TPHCM, và Hải Phòng có thể khởi kiện GrabTaxi hay không bởi từ khi họ chính thức hoạt động tại TP.HCM và Hà Nội với mức giá “siêu rẻ” nhờ áp dụng tiến bộ của công nghệ thông tin tốt, làm các hãng taxi trong nước đã bị mất dần một lượng khách lớn?

Bà Loan khẳng định, các hiệp hội này không thể kiện được, vì các công cụ phòng vệ thương mại này chỉ áp dụng với hàng hóa chứ chưa mở rộng ra với dịch vụ.

Tính đến nay, Việt Nam đã ký kết 10 hiệp định thương mại tự do (FTA) với 22 đối tác, trong đó có một FTA trong khuôn khổ ASEAN, sáu FTA ASEAN+ với các đối tác bên ngoài ASEAN, ba FTA song phương (với Nhật Bản, Chi Lê, Hàn Quốc), một FTA đa phương (với Liên minh kinh tế Á Âu). Tám trong số 10 FTA đã có hiệu lực và đang được thực thi trên thực tế (hai FTA mới ký trong năm 2015, bao gồm FTA với Liên minh Á Âu chưa phát sinh hiệu lực).

Bà Trang cho biết, các FTA xóa bỏ hàng rào thuế quan và ngay lập tức thị trường Việt Nam sẽ được mở cửa hàng hóa. Trong WTO, Việt Nam chỉ cam kết cắt giảm thuế cho khoảng 1/3 số dòng thuế, trong hầu hết các FTAs đã ký Việt Nam cam kết xóa bỏ tới 80-90% số dòng thuế.

“Câu chuyện về cạnh trạnh không lành mạnh trên thị trường hàng hóa là câu chuyện nhãn tiền”, bà Trang nói.

 

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s