Cạn kiệt nguồn ngân sách: Chính phủ bán cổ phiếu ở các công ty cổ phần

Posted: October 16, 2015 in Uncategorized

LS Nguyễn Văn Đài (Blog RFA) – Gần đây, thông tin báo chí cho biết, Bộ tài chính đã phải vay nhiều tỷ đô la từ Ngân hàng Nhà nước và Vietcombank. Rồi việc các đại biểu Quốc hội lo lắng, băn khoăn trong các cuộc thảo luận về ngân sách. Nợ công ngày càng tăng; Số tiền phải trả lãi vay cho chính phủ các nước, các thể chế tài chính quốc tế ngày càng tăng, chiếm tới gần 30% chi tiêu quốc qia. Mất cân bằng thu chi ngân sách, tức là nguồn thu từ thuế và các nguồn thu khác không đủ chi thường xuyên cho hoạt động của các cơ quan nhà nước, chính quyền từ trung ương đến địa phương.

� Xem thêm: Xăng “cõng” hơn 50% thuế, phí… + Thuốc giải TPP cho DNNN.

Các dấu hiệu trên cho thấy ngân sách của chính quyền đang gặp nguy. Không tìm đâu ra nguồn thu để chi tiêu, không dám tiếp tục vay nợ nước ngoài vì sợ nợ công tăng cao sẽ vi phạm luật ngân sách và những cam kết với các thể chế tài chính quốc tế.

Giải pháp cuối cùng để chính phủ có tiền chi tiêu là bán phần vốn góp tại các doanh nghiệp cổ phần. Thời gian trước chính phủ đã giao bán khá nhiều các doanh nghiệp nhà nước, nhưng phần lớn các doanh nghiệp này đều đang trong giai đoạn khó khăn, nên việc giao bán thất bại vì cả nhà đầu tư trong và ngoài nước đều không mặn mà.

Nay chính phủ chọn thoái vốn, tức bán cổ phần ở các công ty cổ phần đang làm ăn có lãi. Mặc dù cổ tức mà chính phủ nhận được hàng năm từ các công ty này là rất lớn. Cụ thể đầu tháng 7 vừa qua, Vinamilk đã chi tạm ứng cổ tức 2015 khoảng 4.000 tỷ đồng trả cổ tức bằng tiền tỷ lệ 40% và cổ phiếu thưởng tỷ lệ 20%, người sở hữu 5 cổ phiếu được nhận 1 cổ phiếu mới. Chỉ riêng tiền mặt, chính phủ đã thu về 2.164 tỷ đồng trong đợt này. Năm 2013, số tiền cổ tức thậm chí còn lớn hơn khi đạt 2.597 tỷ đồng.

Mặc dù số tiền cổ tức nhận được lớn như vậy, nhưng chắc vẫn không đủ cho nhu cầu chi tiêu và trả nợ của chính phủ. Nên buộc chính phủ phải bán hết cổ phiếu đang nắm giữ ở Vinamilk là 41,1% để thu về số tiền  khoảng 2,5 tỷ đô la.

Việc chính phủ chọn những công ty đang làm ăn có lãi, cổ phiếu hot để bán nhằm không gây ra xáo trộn trên thị trường chứng khoán. Đồng thời cũng thu về một nguồn tiền lớn. Sau khi bán cổ phiếu ở Công ty Vinamilk, chính phủ Việt Nam có kế hoạch bán cổ phiếu ở một loạt các công ty khác.

Không biết việc bán các tài sản của quốc gia có đủ tiền chi tiêu và trả nợ của chính phủ trong những tháng năm tới hay không? Nhưng gánh nợ trên 90 triệu người dân sẽ càng ngày nặng thêm.

[:-/] Bán Vinamilk: Bán cho ai, giá bao nhiêu? (BĐV) – Một khi nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần chi phối tại Vinamilk, họ cũng chi phối thị trường sữa VN

Trước thông tin Nhà nước sẽ bán hết vốn đang nắm giữ tại Vinamilk với giá trị hơn 2,5 tỉ USD, nhiều chuyên gia đặt câu hỏi về bán thế nào, bán cho ai, giá bao nhiêu…?

Ban Vinamilk: Ban cho ai, gia bao nhieu?

Theo ông Hoàng Thạch Lân, muốn bán được giá nhất, thu được nhiều tiền nhất về cho Nhà nước, chỉ có thể là nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài hoạt động trong cùng lĩnh vực. Tuy nhiên, nếu bán cho nhà đầu tư nước ngoài, Nhà nước chắc chắn sẽ cân nhắc với trường hợp của Vinamilk.

“Dù không nằm trong lĩnh vực an ninh quốc phòng, nhưng vấn đề lại nằm ở chính doanh nghiệp này bởi Vinamilk nắm giữ thị phần chi phối toàn thị trường sữa VN. Một khi nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ cổ phần chi phối tại Vinamilk, họ cũng chi phối thị trường sữa VN – mặt hàng thiết yếu đang nằm trong danh mục được bình ổn” – ông Lân nói.

Ông Nguyễn Minh Tân nhấn mạnh dù bối cảnh ngân sách khó khăn, chúng ta cần vốn để đầu tư nhưng không thể bán cổ phần nhà nước tại doanh nghiệp bằng bất cứ giá nào. Cùng quan điểm, một lãnh đạo Cục Tài chính doanh nghiệp (Bộ Tài chính) cho rằng dù là doanh nghiệp nào, ngay cả với Vinamilk – cổ phiếu được đánh giá là “hàng chất lượng cao”, cũng phải tính toán căn cơ xem bán khi nào, thậm chí bán cho ai để đảm bảo hiệu quả nhất đồng vốn của Nhà nước.

Tuy nhiên, theo ông Huỳnh Anh Tuấn, nếu VN đã cam kết mở cửa thị trường sữa với TPP, việc bán vốn nhà nước tại các doanh nghiệp này cho nhà đầu tư nước ngoài là một trong những bước đi nhằm thực hiện cam kết, chưa kể chỉ có nhà đầu tư nước ngoài mới đủ lực để tham gia Vinamilk do giá trị thoái vốn khá lớn.

Xăng “cõng” hơn 50% thuế, phí…

(VNTB) Theo Tuổi Trẻ – Giá xăng dầu nhập về trong chín tháng đầu năm 2015 giảm 35,8%, tuy nhiên giá xăng bán lẻ trong nước vẫn cao so với đầu năm. Người tiêu dùng có chịu thiệt?

Theo Tổng cục Hải quan, giá xăng dầu nhập về trong chín tháng đầu năm 2015 giảm 35,8%. Thế nhưng trên thực tế do cách tính thuế phí, quỹ bình ổn…, giá xăng bán lẻ trong nước vẫn cao so với đầu năm.


Dữ liệu: C.V.K., Nguồn: Bộ Công thương, Đồ họa: Vĩ Cường

Theo số liệu thống kê của cơ quan hải quan cập nhật ngày 15-10, tính đến hết tháng 9 cả nước nhập khẩu 7,09 triệu tấn xăng dầu, trị giá 3,97 tỉ USD. So với cùng kỳ 2014, dù lượng xăng nhập về tăng 7,4% nhưng giá đã giảm 35,8%.

Giảm không tương xứng

Dù mức giảm bình quân nhiều như vậy nhưng vì sao giá bán lẻ hiện vẫn ở mức cao? Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trịnh Quang Khanh – phó chủ tịch thường trực Hiệp hội Xăng dầu VN – thừa nhận có chênh lệch lớn giữa giá trong nước và giá thế giới.

Giá bình quân mặt hàng xăng Ron 92 tính đến hết tám tháng của năm 2015 là 70,32 USD/thùng. So với mức giá bình quân cùng thời kỳ này năm 2014, giá mặt hàng này đã giảm 35%.

Tuy nhiên, giá bán lẻ trong nước xăng RON 92 bình quân tám tháng qua vẫn là 18.922 đồng/lít, bằng 80% giá bán lẻ bình quân của năm 2014. Nghĩa là giá bán lẻ chỉ giảm bình quân 20% thay vì mức 35%.

“Rõ ràng giá xăng RON 92 không giảm tương xứng” – ông Khanh nói. Đặc biệt, theo ông Khanh, nếu so giá xăng trong nước với giá tại thời điểm cuối năm 2014 thì giá xăng hiện hành còn… cao hơn tới 
250 đồng/lít.

Lý giải nguyên nhân giá xăng RON 92 không giảm được mà buộc phải tăng so với thời điểm cuối năm 2014, ông Nguyễn Văn Tiu – tổng giám đốc Tổng công ty xăng dầu Tự Lực 1 (Hà Nội) – nhận định do chính sách thuế, phí thu quá lớn.

Cụ thể, thông tin từ Hiệp hội Xăng dầu VN cho thấy nếu lấy giá xăng dầu ngày 9-10, tổng số thu từ thuế, phí thu đối với xăng chiếm 50,4%, còn tính riêng tổng số thu từ các sắc thuế thì chiếm tới 41,3%.

Như vậy có nghĩa xăng dầu về đến VN chỉ có giá khoảng 9.000 đồng/lít. Nhưng sau khi áp các loại thuế phí theo quy định thì nhảy vọt lên gần 19.000 đồng/lít như hiện nay.

Theo quy định, 1 lít xăng “cõng” bốn sắc thuế gồm thuế bảo vệ môi trường với mức tuyệt đối 3.000 đồng, thuế nhập khẩu 20% (khoảng 1.750 đồng), thuế tiêu thụ đặc biệt 10% (khoảng 1.060 đồng), thuế giá trị gia tăng 10% (tương ứng 1.650 đồng).

Tổng cộng bốn sắc thuế này, để tiêu thụ 1 lít xăng người tiêu dùng phải đóng góp cho ngân sách khoảng 7.460 đồng. Nếu cộng thêm chi phí định mức, lợi nhuận định mức và mức trích quỹ bình ổn giá thì tổng số tiền thuế và phí mà người tiêu dùng phải bỏ ra nộp ngân sách và doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu là hơn 9.000 đồng/lít xăng. Tính ra giá 1 lít xăng RON 92 hiện hữu là 18.130 đồng.

Thuế, phí đã chiếm 
một nửa giá xăng

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn – cục trưởng Cục Quản lý giá Bộ Tài chính, cơ chế giá xăng dầu trong nước thời gian qua được điều hành theo thị trường và có sự quản lý của Nhà nước. Để đánh giá chính xác mức độ tăng giảm của mặt hàng xăng dầu thì phải tính toán, xem xét từng mặt hàng cụ thể.

Ông Tuấn xác nhận tính từ đầu năm tới nay, đúng là giá xăng RON 92 bán trong nước tăng so với thời điểm cuối năm 2014 là 250 đồng/lít. Tuy nhiên, ông Tuấn cho rằng các mặt hàng dầu đã giảm mạnh, trên 3.000 đồng/lít (kg), cá biệt như dầu hỏa giảm gần 4.700 đồng/lít.

Đề cập việc giá xăng dầu trong nước thời gian qua không giảm tương xứng với giá xăng dầu thế giới, một chuyên gia từng trực tiếp điều hành giá xăng dầu của Bộ Công thương xác nhận điều này.


Dữ liệu: C.V.K., Nguồn: Bộ Công thương, Đồ họa: Vĩ Cường

Theo chuyên gia này, nếu nhìn kỹ thì các sắc thuế trong nước cũng có điều chỉnh, chẳng hạn từ ngày 1-5 thuế bảo vệ môi trường đối với mặt hàng xăng tăng từ 1.000 đồng lên 3.000 đồng/lít.

Vì vậy, việc Bộ Công thương điều hành giá chỉ là khâu cuối cùng sau khi đã thực hiện các biện pháp điều hành của các 
bộ khác, đặc biệt là Bộ Tài chính.

Người tiêu dùng chịu thiệt

Theo ông Ngô Trí Long – chuyên gia kinh tế, 1 lít xăng cõng quá nhiều loại thuế, phí và ở mức cao nên đã lỡ cơ hội giảm giá. Trên thực tế, liên bộ Tài chính – Công thương luôn thông tin điều hành giá xăng dầu đảm bảo hài hòa lợi ích của người dân – Nhà nước và doanh nghiệp.

Song thực tế với việc tăng thu quá lớn từ các loại thuế, phí từ giá xăng dầu khiến người tiêu dùng đang phải chịu thiệt thòi.

Thuốc giải TPP cho DNNN

Đỗ Thiên Anh Tuấn (*) (TBKTSG) – Tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ là một thách thức không nhỏ đối với các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) ở bất kỳ quốc gia nào, nhất là Việt Nam, vốn lâu nay được bảo hộ của Chính phủ, nhưng cũng đồng thời là cơ hội để tạo ra các thúc ép cải cách DNNN vốn dĩ khó tiến hành vì những sức ỳ hệ thống đến từ bên trong.


Tham gia TPP, vai trò của chính phủ là phải đảm bảo DNNN hoạt động theo
cơ chế thị trường như một doanh nghiệp tư nhân thực thụ. Ảnh: THÀNH HOA

DNNN hiện diện ở hầu hết các nước trên thế giới với quy mô và vai trò khác nhau. Trong số các nước thành viên TPP, Việt Nam, Malaysia và Singapore là những quốc gia có “mật độ” DNNN tương đối cao.

Vấn đề DNNN

Bất kỳ trò chơi nào cũng phải đảm bảo nguyên tắc: bình đẳng. Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), TPP hay bất kỳ hiệp định thương mại tự do nào cũng thế, đối xử bình đẳng và công bằng giữa các thực thể kinh tế luôn là nguyên tắc hàng đầu mà ở đó các nước thành viên phải tuân thủ. Người ta lo ngại rằng sự hiện diện của DNNN trong nền kinh tế thị trường có tiềm năng làm bóp méo các quan hệ thương mại, chẳng hạn như các thỏa thuận mua sắm ưu đãi của chính phủ, các khoản trợ cấp, đối xử thuế phân biệt, và nhiều quy định thiên vị khác.

Hầu như ở quốc gia nào cũng vậy, nhiều hay ít và bằng cách này hay cách khác, các DNNN thường được ưu tiên tiếp cận nguồn lực, nhận nhiều ưu đãi của nhà nước và đương nhiên thường không dựa trên các nguyên tắc của thị trường cạnh tranh. Chẳng hạn như việc thiết kế chính sách theo hướng có lợi cho doanh nghiệp, cấp phép nhanh chóng và thuận lợi, khả năng miễn trừ khỏi luật (như luật về cạnh tranh, luật về phá sản), ngoại lệ khỏi cưỡng chế của tòa án (như khi vi phạm sở hữu trí tuệ), dễ dàng tiếp cận thông tin, khả năng tham gia vào các mạng lưới được kiểm soát hoặc các kênh phân phối trên cơ sở các ưu đãi và độc quyền…, đều là những đặc quyền kinh doanh.

DNNN cũng được nhận trợ cấp dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn, tiếp cận vốn thuận lợi, ưu tiên tín dụng cho xuất khẩu, ưu đãi thuế, tiếp cận giá rẻ đối với các yếu tố đầu vào cho sản xuất…

Nhờ những biệt đãi này mà các DNNN thường là những đối thủ cạnh tranh có sức mạnh đáng kể so với doanh nghiệp tư nhân và cả doanh nghiệp nước ngoài.

Tuy nhiên, cần phải lưu ý rằng sự lo ngại của các quốc gia không phải là sức mạnh hiện tại của DNNN mà là khả năng chính phủ vẫn tiếp tục duy trì các biệt đãi đó cho DNNN sau khi vào một sân chơi chung. Tình trạng thiếu minh bạch trong quan hệ giữa DNNN với chính quyền cũng là một mối lo ngại khác.

Chính những chuẩn mực và nguyên tắc của TPP sẽ là “thuốc giải” liều mạnh để giúp cải cách DNNN theo hướng thực chất và hiệu quả hơn.

Yêu cầu mà các quốc gia đặt ra khi tham gia vào các cuộc chơi chung là làm sao để DNNN hoạt động tuân thủ đầy đủ các chuẩn mực thị trường cạnh tranh, không gây phương hại đến lợi ích của doanh nghiệp nước họ khi chơi trên sân nước đối tác cũng như trên sân của các nước thành viên và cả trên sân của nước thứ ba.

Trong TPP, tại sao và như thế nào

Những quy tắc đa phương hiện hành trong khuôn khổ của WTO được đánh giá là có quá nhiều kẽ hở nghiêm trọng, đặc biệt là thiếu các quy tắc hữu hiệu trong việc giám sát độc quyền và quản lý hành vi của DNNN. Nhiều quốc gia đã tận dụng những bất cập đó để tiếp tục biệt đãi và bảo hộ DNNN, làm méo mó tính cạnh tranh của thị trường.

Những quy định liên quan đến DNNN trong TPP được cho là có nhiều ưu điểm vượt trội so với các hiệp định thương mại song phương cũng như đa phương mà Việt Nam đã từng tham gia. Những quy định của TPP đảm bảo rằng DNNN sẽ không thể làm “vô hiệu hóa hoặc làm suy yếu” (nullify or impair) các nguyên tắc của cạnh tranh bình đẳng.

Những quốc gia theo triết lý thị trường luôn lo ngại chính phủ sẽ can thiệp vào nền kinh tế thông qua kênh DNNN. Những can thiệp như vậy thường được lý giải là gây biến dạng thị trường mà đằng sau đó là tổn hại đến lợi ích của các doanh nghiệp nước họ. Sứ mạng của TPP như được giao phó là phải đảm bảo rằng các nước thành viên luôn duy trì một hệ thống thương mại công bằng và kiên quyết loại bỏ những hình thức hỗ trợ (công khai hoặc ngấm ngầm) của chính phủ đối với DNNN của họ. Khi tham gia vào TPP, nước Mỹ và nhiều nước thành viên có thiên hướng thị trường hoàn toàn có cơ sở chính đáng để lo ngại về tính công bằng của luật chơi và do đó họ đặt ra một yêu cầu cao hơn là cần phải ngăn chặn những hình thức che đậy của chủ nghĩa bảo hộ và bài ngoại.

Tất nhiên chúng ta cũng hiểu rằng việc tham gia TPP không có nghĩa là các quốc gia phải xóa bỏ DNNN. Thay vào đó, vai trò của chính phủ là phải đảm bảo DNNN hoạt động theo cơ chế thị trường như một doanh nghiệp tư nhân thực thụ.

Một lời giải của Việt Nam

“Mật độ” DNNN ở Việt Nam là rất lớn và DNNN Việt Nam đang có nhiều vấn đề. Một trong những vấn đề là Nhà nước vừa thực hiện chức năng quản lý nhà nước, vừa giữ quyền đại diện chủ sở hữu doanh nghiệp, lại vừa trực tiếp thực hiện quyền quản lý doanh nghiệp. Chẳng hạn Bộ Y tế có chức năng hoạch định chính sách và quản lý nhập khẩu dược phẩm và thiết bị y tế nhưng cũng đồng thời là cơ quan chủ quản của nhiều công ty dược và thiết bị y tế quan trọng. Tương tự, Bộ Giao thông Vận tải có trách nhiệm quản lý và điều tiết hàng không dân dụng nhưng cũng đồng thời chịu trách nhiệm quản lý hãng hàng không nội địa lớn nhất. Bộ Công Thương có có trách nhiệm hoạch định chính sách và đảm bảo sân chơi công bằng cho các doanh nghiệp thương mại và công nghiệp nhưng lại đồng thời quản lý các công ty có vị thế độc quyền như điện lực và xăng dầu (FETP 2013).

Điều này làm phát sinh mâu thuẫn lợi ích nghiêm trọng, khiến cho DNNN hoạt động không được độc lập, lại nảy sinh tâm lý ỷ lại, tạo động cơ can thiệp tùy tiện của các cơ quan chủ quản. Những trục trặc này vừa khiến cho DNNN khó có thể hoạt động hiệu quả để có thể cạnh tranh được trước sức ép hội nhập mà đồng thời cũng vi phạm các nguyên tắc cơ bản của hội nhập và cạnh tranh như đã phân tích.

Việc đề xuất lập một cơ quan chuyên trách để quản lý vốn và tài sản DNNN gần đây cho thấy những nỗ lực của Chính phủ nhằm tìm kiếm một mô hình khả dĩ để quản lý DNNN sao cho hiệu quả. Với phương án đề xuất, việc chuyển cơ quan chủ quản từ các bộ/ngành/địa phương về một cơ quan chuyên trách có thể giúp tách chức năng quản lý nhà nước ra khỏi chức năng kinh doanh của doanh nghiệp.

Đây cũng chưa hẳn là phương án tối ưu bởi vẫn còn mâu thuẫn lợi ích của vấn đề sở hữu nhà nước và động cơ kinh doanh của doanh nghiệp. Chưa kể, liệu cơ quan chuyên trách này có được độc lập hay không cũng là một vấn đề. Nếu các bộ/ngành vẫn tham gia đại diện trong cơ quan này thì các trục trặc cũ sẽ lại xuất hiện như trước. Hơn nữa, do quy mô tài sản và vốn trong DNNN hiện nay là rất lớn nên cũng sẽ đặt ra thách thức không nhỏ về mặt năng lực kỹ trị.

Nói chung vẫn còn rất nhiều khía cạnh cần phân tích thêm liên quan đến mô hình này, song việc tìm kiếm một mô hình mới nhằm giúp quản lý DNNN hiệu quả hơn trong bối cảnh sức nóng của TPP đang đến gần là một nỗ lực cần được ghi nhận.

(*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s