Việt Nam: Ba tỉ đô la và trái phiếu có gỡ được khó khăn khi nợ công chồng chất ?

Posted: October 18, 2015 in Uncategorized
Tags:

Thụy My (RFI) – Hãng tin AFP cách đây vài hôm loan tin chính phủ Việt Nam dự kiến bán số cổ phiếu trị giá lên đến 3 tỉ đô la do Nhà nước đang nắm giữ trong các công ty lớn, trong khuôn khổ các nỗ lực mới nhằm mở cửa lãnh vực quốc doanh cho vốn tư nhân.

� Xem thêm: Nợ công lại nóng!


Các ứng viên cuộc thi Hoa hậu Bò sữa ở Mộc Châu, 15/10/2015. Tập đoàn sữa Vinamilk
hiện được ví như “con bò sữa” đem lại nguồn thu đáng kể cho Nhà nước. REUTERS/Kham

Các cổ phiếu nhà nước dự định bán ra thuộc 10 công ty lớn, trong đó có những tên tuổi như Vinamilk – tập đoàn sữa làm ra lợi nhuận nhiều nhất hiện nay, tập đoàn bảo hiểm Bảo Minh, tập đoàn viễn thông FPT Télécom… AFP cho biết thêm, trong năm nay, chính quyền Việt Nam định cổ phần hóa 429 công ty nhưng chương trình này đang bị chậm trễ, và quốc doanh vẫn là chủ đạo trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay.

Báo chí trong nước cho biết bên cạnh đó, chính phủ Việt Nam đã ra nghị quyết thống nhất phương án phát hành trái phiếu ra thị trường quốc tế, nhằm tái cơ cấu lại nợ trong nước giai đoạn 2015-2016.

Phải chăng trước tình hình nợ công đang chồng chất, mà các số liệu cho đến nay vẫn rất khác nhau, các biện pháp trên đây là nhằm cố gắng tháo gỡ khó khăn trước mắt ? Chúng tôi đã đặt câu hỏi này với tiến sĩ kinh tế Phạm Chí Dũng ở Saigon.

RFI : Thân chào tiến sĩ Phạm Chí Dũng. Thưa anh, mới đây chính phủ Việt Nam đã đề nghị bán 3 tỉ đô la cổ phiếu, trong đó điều đáng ngạc nhiên là bán hết phần vốn cả trong các công ty hàng đầu, được coi là « con bò sữa » mang lại nhiều cổ tức cho Nhà nước như Vinamilk. Phải chăng đó là do nợ công quá lớn, nên Việt Nam đang đứng trước áp lực phải đảo nợ ? Không chỉ bán cổ phiếu, Nhà nước còn dự định phát hành cả trái phiếu…

TS Phạm Chí Dũng : Vừa rồi đã xảy ra hai hiện tượng đồng thời. Thứ nhất là đề nghị của chính phủ về phát hành trái phiếu quốc tế 3 tỉ đô la. Thứ hai là hiện tượng thoái vốn tại 10 tập đoàn, tổng công ty nhà nước lớn. Hai hiện tượng này nói lên cùng một điểm : tình trạng đặc biệt khó khăn của ngân sách và vấn đề nợ công quốc gia – không thể giải thích cách khác.

Mặc dù cho tới nay một số quan chức nhà nước vẫn lấp liếm, và họ ngụy biện rằng vấn đề bán phần vốn nhà nước chẳng qua là đã đầu tư rồi, bây giờ rút vốn ra thôi, không làm ảnh hưởng tới những chuyện khác. Vấn đề phát hành trái phiếu quốc tế cũng là chuyện bình thường, không phải để trả nợ công. Nhưng thực tế là thế này.

Liên quan đến vấn đề nợ công thì tất cả những báo cáo của chính phủ đều hết sức tô hồng. Từ cuối năm 2014 đầu 2015, chỉ báo cáo là nợ công khoảng 54 đến 55% GDP mà thôi. Cho tới gần đây thì Bộ Tài chính mới đưa ra con số cao hơn một chút, khoảng 59% GDP, có nghĩa là chưa tới ngưỡng nguy hiểm.

Và do đó chính phủ vẫn tiếp tục vay ODA, trước mắt là để giải quyết dự án sân bay Long Thành lên tới 15 tỉ đô la. Thậm chí còn một dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam. Số vốn tính từ năm 2009 đã lên tới 55 tỉ đô la rồi, nếu cộng dự án sân bay Long Thành và dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam sẽ lên tới 70 tỉ đô la. Đó là một con số khủng khiếp ! Với tình hình như vậy làm sao mà nợ công không tăng lên được.

Đến đầu tháng 10, lần đầu tiên có một đơn vị của Bộ Kế hoạch Đầu tư là Học viện Chính sách công, đã công bố tỉ lệ mới hoàn toàn về nợ công quốc gia là trên 66% GDP. Con số này được họ tính trên cơ sở cộng thêm phần nợ của các doanh nghiệp nhà nước. Mà chúng ta biết rằng nợ của doanh nghiệp nhà nước trước giờ không được tính đến trong Luật Nợ công quốc gia, nhưng đây lại là một tiêu chí bắt buộc của Liên Hiệp Quốc khi đánh giá về nợ của chính phủ.

Như vậy nếu cộng thêm phần nợ của doanh nghiệp nhà nước – mà đặc biệt bây giờ rất nhiều doanh nghiệp nợ đầm đìa, như trước đây là Vinashin, Vinalines và sau này là khá nhiều doanh nghiệp khác – thì tỉ lệ nợ công quốc gia trên GDP phải lên tới 66% – đó là theo tính toán của là Học viện Chính sách công (Bộ Kế hoạch Đầu tư). Và với tỉ lệ này thì chắc chắn đã vượt qua ngưỡng nguy hiểm là 65%.

Với tỉ lệ vượt ngưỡng nguy hiểm như vậy, và với áp lực trả nợ công ngắn hạn cũng như trong trung hạn, theo báo cáo của Bộ Tài chính gần đây, thì rõ ràng ngân sách nhà nước Việt Nam thiếu hụt trầm trọng.

RFI : Tình hình như anh mô tả, thì việc bán cổ phần nhà nước không chỉ nhằm mở cửa cho vốn tư nhân ?

Có một hiện tượng nữa là, cùng với việc phát hành trái phiếu quốc tế và thoái vốn tại 10 tập đoàn, vừa rồi Bộ Tài chính lần đầu tiên phải đi vay mượn Ngân hàng Nhà nước được 30.000 tỉ đồng. Báo chí trong nước cho biết Ngân hàng Nhà nước cho vay nóng như vậy để tạm thời giải quyết khó khăn ngân sách. Nhưng thực chất ngân sách có thể nói là cực kỳ khó khăn rồi.

Song song đó lại xảy ra một hiện tượng xã hội nữa : Bộ Tài chính đề nghị việc tăng lương cho cán bộ công nhân viên vào năm 2016 có thể bị hoãn lại. Điều này có thể hiểu như thế nào ? Vì vào tháng 10 năm trước tại kỳ họp Quốc hội, cũng đã nêu ra vấn đề tăng lương cho công nhân viên chức rồi, và đã quyết định vào năm 2015 tăng. Nhưng đến năm 2015 vẫn không tăng được mà lại dự kiến đến cuối 2016, bây giờ lại đề nghị hoãn. Mặc dù chưa chính thức, nhưng cũng cho thấy tình hình ngân sách là cực kỳ khó khăn.

Nếu kỳ này chính phủ quyết định phát hành 3 tỉ đô la trái phiếu thì sẽ gấp ba lần con số 1 tỉ đô la trái phiếu quốc tế phát hành vào cuối năm 2014. Thực ra cuối năm 2014 chính phủ báo cáo là đã phát hành thành công 1 tỉ đô la trái phiếu quốc tế, nhưng tôi chưa thấy một báo cáo nào nêu ra đối tác doanh nghiệp hay tổ chức tài chính nào của nước ngoài đã mua 1 tỉ đô la đó. Không có tên tuổi cụ thể, thậm chí có những đồn đoán số 1 tỉ đô la trái phiếu quốc tế ấy thực chất là do doanh nghiệp trong nước mua, tức là tiền cũng chỉ chạy lòng vòng trong nước mà thôi.

Thứ hai nữa là cũng kỳ họp Quốc hội năm trước vào tháng 10, lần đầu tiên lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước đã phải báo cáo rằng con số nợ xấu thực chất lên tới khoảng 500.000 tỉ đồng. Con số này tồn từ năm 2013, nhưng đến cuối 2014 mới dám báo cáo. Lúc đó cho thấy tình hình đã khó khăn lắm rồi. Nợ xấu như vậy lại liên quan tới vấn đề nợ công quốc gia và chi tiêu tài chính.

RFI : Anh có thể nói rõ hơn một chút về vấn đề bội chi ?

Cho tới 9 tháng đầu năm nay, con số bội chi ngân sách đã lên đến khoảng 130.000 tỉ đồng, mặc dù tình hình thu được báo cáo là có khả quan. Khả quan là thế này thôi : do vẫn áp dụng nhiều loại thuế, đặc biệt trong đó có thuế nông nghiệp làm khốn khổ người nông dân rất nhiều. Có tăng thu, nhưng chi thì cũng khủng khiếp.

Chúng ta thấy từ đầu năm 2015 tới giờ liên tục có những phong trào xã hội phản ứng việc chi đầu tư xây dựng cơ bản : những trụ sở ngàn tỉ ở những tỉnh rất nghèo, thường xuyên phải xin gạo cứu đói hàng năm ở những tỉnh rất nghèo như Lai Châu, Khánh Hòa, Phú Yên…Đồng thời xây những tượng đài cũng ngàn tỉ.

Thậm chí có cả một đề án đổi mới sách giáo khoa của Bộ Giáo dục Đào tạo lên tới 34.000 tỉ. Sau đó khi Quốc hội, người dân và báo chí phản ứng, thì Ban thường vụ Quốc hội yêu cầu Bộ Giáo dục Đào tạo làm rõ lại đề án đó, tại sao 34.000 tỉ ? Thì ông Bộ Giáo dục Đào tạo lập tức rút xuống còn 400 tỉ ! Đến nỗi ông Nguyễn Sinh Hùng, chủ tịch Quốc hội cũng phải nói là : « Các đồng chí rút từ 34.000 tỉ xuống 400 tỉ thì tôi cũng sợ các đồng chí luôn ! ».

Tình hình bội chi là như vậy, và chi lãng phí là khủng khiếp. Từ đó chúng ta thấy là ngân sách nhà nước không phải do quá eo hẹp, nhưng bị chi xài lãng phí. Mà lãng phí cũng là một căn bệnh đã được nhận thức rằng gần như không thua kém gì nạn tham nhũng trầm kha ở Việt Nam từ nhiều năm qua.

Do vậy ngân sách nhà nước bội chi liên tục. Năm 2013 bội chi tới 6,3%. Năm 2014 thì lần đầu tiên ông Nguyễn Tấn Dũng, Thủ tướng chính phủ chịu trách nhiệm chính về chuyện nợ nần, đã phải ra Quốc hội để đề nghị nâng trần bội chi ngân sách từ 4,7% lên 5,3%. Nhưng đến năm 2015 này thì tình hình bội chi ngân sách được Bộ Tài chính dự báo là vẫn có thể vượt, thậm chí vượt 6%. Tức là tình hình nguy hiểm ! Mà trên 5% là đã không thể chấp nhận rồi, theo tiêu chuẩn quốc tế.

RFI : Tóm lại là nợ công nhiều, chi ngân sách không hợp lý với những công trình lãng phí gây phản ứng trong xã hội… Như vậy theo anh tình hình kinh tế Việt Nam hiện nay là rất khó khăn, do đó mà phải dự định phát hành trái phiếu chính phủ và thoái vốn như đã nói lúc nãy ?

Tất cả những vấn đề này cho thấy chính phủ không còn cách nào khác. Bây giờ phải giật gấu vá vai. Không còn tiền nữa ! Không còn tiền, mà chả lẽ lại đi in tiền ? In tiền thì lạm phát.

Cho nên từ giữa năm nay, chúng ta để ý thêm một hiện tượng là chính phủ dựa trên đề xuất của Bộ Tài chính, Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Xây dựng, đã bắt đầu tính đến việc bán một số công trình xây dựng đã hoàn chỉnh. Chẳng hạn như một số cầu, đường, kể cả sân bay, ví dụ như vừa rồi sân bay Phú Quốc cũng tính bán. Bán để thu tiền về cho ngân sách nhà nước, để giải quyết những thiếu hụt trầm trọng của ngân sách.

Và tình hình như thế này thì làm sao có tiền để tăng lương cho công nhân viên chức. Do vậy dẫn tới hiện tượng phải thoái vốn tập thể, đồng loạt ở 10 tập đoàn. Kể cả tập đoàn lớn nhất, coi như là « con bò sữa » Vinamilk mà chính phủ đã đầu tư vào và thu lợi được rất nhiều.

Trước đây chính phủ đã có cho phát hành trái phiếu từ hồi năm 2005 để cung ứng vốn cho Vinashin. Thì hiện nay dư luận đang đặt ra câu hỏi, và có gây áp lực với chính phủ phải làm rõ thời điểm, tiến trình thoái vốn, và việc thoái vốn đó được chi dùng như thế nào. Chứ không phải giống như Vinashin trước đây, sau đó tiền đi đâu không biết, lỗ thì vẫn hoàn lỗ và cuối cùng người dân đóng thuế phải gánh chịu hoàn toàn.

Cũng cần nhắc lại là cuối năm 2014, cùng với kế hoạch phát hành 1 tỉ đô la trái phiếu, cũng đưa ra kế hoạch phát hành 600 triệu đô la cho Vinashin. Nhưng tôi nghe đâu là kế hoạch thất bại, vì không có ai mua. Tình hình đó cũng tương tự như việc mà Việt Nam bây giờ đang chào bán nợ xấu cho nước ngoài. Ngân hàng Nhà nước gởi 500 hồ sơ đi, nhưng cho tới nay chưa có bất kỳ một hồ sơ nào được phản hồi – theo báo cáo công khai là như vậy.

Thành thử hiện nay rất khó đối với ngân sách nhà nước. Đó là lý do tại sao chính phủ phải quyết định phát hành trái phiếu quốc tế, và tôi cho là có thể sắp tới còn hơn thế nữa. Nhưng vấn đề là có ai mua hay không.

Còn tôi đồ rằng chính phủ chắc chắn sẽ thành công trong việc thoái vốn tại 10 tập đoàn nhà nước, vì đó là tiền nằm trong túi họ. Nhưng còn việc bán nợ xấu và bán trái phiếu ra nước ngoài, thì đó là một điều vô cùng khó khăn. Tôi không tin là việc bán trái phiếu quốc tế của chính phủ sẽ thành công, thậm chí là sẽ thất bại. Tại vì gần đây cũng có hiện tượng một số phiên đấu giá trái phiếu của Bộ Tài chính và chính phủ ở trong nước, hầu như đều ế ẩm.

RFI: RFI Việt ngữ xin cảm ơn tiến sĩ Phạm Chí Dũng ở Saigon đã vui lòng nhận trả lời phỏng vấn hôm nay của chúng tôi.

[:-/] ‘Từ 34.000 tỷ xuống 800 tỷ đồng, tôi sợ quá!’ (VNN 27/09/2014) – “Đa thư đoan mục, lắm thầy rầy ma” tôi nhắc đi nhắc lại điều đó, cẩn thận không lại ra những sản phẩm giáo dục đầy tự do. Về vấn đề kinh phí, Chủ tịch Nguyễn Sinh Hùng đặt câu hỏi có nên đưa vào Nghị quyết gần 800 tỷ đồng không, hay chỉ phân ra từng hạng mục để Chính phủ duyệt. “Ta chốt 800 tỷ đồng sau này thành vài ngàn tỷ đồng thì tính sao? Từ 34.000 tỷ đồng xuống còn 800 tỷ đồng. Tôi sợ quá. Vì thế, có cần chốt con số không hay đưa ra hạng mục và hàng năm Chính phủ duyệt để làm”.


Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Phạm Vũ Luận thiên tài toán học đáng sợ!

Chủ tịch hội đồng dân tộc quốc hội K’so Phước thấy tờ trình “không có gì sai, rất hay nhưng vẫn chung chung”.

“Tôi quan tâm đến các vấn đề từ thực tiễn, tôi quan tâm đến việc dạy dỗ học sinh. Cấp 1 học sinh găp người lớn còn chào hỏi, nhưng càng lên cao càng ít chào hỏi, đó là một biểu hiện nhỏ nhưng rất đáng suy nghĩ. Tất cả đều bắt nguồn từ sản phẩm giáo dục cả, vì vậy rất cần lưu ý việc dạy người trong giáo dục phổ thông mới. Đồng thời, phải chú trọng dạy lịch sử cho học sinh” – ông đề nghị.

Chủ nhiệm văn phòng quốc hội Nguyễn Hạnh Phúc nêu ý kiến: “Bộ vừa tham gia biên soạn bộ SGK, vừa thẩm định thì có khách quan hay không?”

[:-/] Mỗi người Việt Nam đang ‘gánh’ gần 23 triệu đồng nợ công (VTC News) – Theo đồng hồ ghi chỉ số nợ công của The Economist, nợ công của Việt Nam đang ở mức 92,6 tỷ USD, đồng nghĩa với việc trung bình mỗi người Việt Nam đang “gánh” nợ khoảng 1.016 USD, tức gần 23 triệu đồng.


Đồng hồ’ ghi nợ công Việt Nam theo thời gian thực trên The Economist

Theo đồng hồ ghi nợ công công khai theo thời gian thực trên The Economist, tính đến ngày 11/10/2015, nợ công Việt Nam được ước tính ở mức 92,6 tỷ USD, chiếm 46% GDP.

Với dân số trên 91,8 triệu dân, tính trung bình nợ công theo đầu người thì hiện tại mỗi người Việt Nam đang “gánh” hơn 1.016 USD nợ công, tương đương gần 23 triệu đồng (tính theo tỷ giá 22.500 đồng/ 1 USD)

Nợ công lại nóng!

(VTC) – Tại Nghị quyết phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 9, Bộ Tài chính được yêu cầu thực hiện đồng bộ các giải pháp quản lý chặt chẽ nợ công.

Thực nợ là bao nhiêu?

Luôn luôn là một chủ đề được nhắc đến trong các phiên thảo luận tại Quốc hội, tình hình nợ công đang tiếp tục có những diễn biến mới trước thềm kỳ họp thứ 10 của cơ quan lập pháp. Có lẽ đó là một lý do quan trọng khiến Chính phủ ban hành Nghị quyết về vấn đề này.

Mới đây, tại cuộc hợp báo thường kỳ của Bộ Tài chính, Thứ trưởng Bộ Tài chính Vũ Thị Mai cho biết, nợ công so với GDP ước của năm 2014 là 59,6%. Con số này Bộ Tài chính đang đối chiếu với các nhà tài trợ và qua quyết toán của các đơn vị, thực tế có thể còn thấp hơn một chút, do số lượng rút vốn bảo lãnh thực tế.

Trong đó, nợ Chính phủ là 47,4%, nợ Chính phủ bảo lãnh là 11,4%; 0,8% là nợ chính quyền địa phương. Thứ trưởng Mai nhấn mạnh: “Con số mà truyền thông trích dẫn nguồn từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư cho rằng nợ công của Việt Nam khoảng 66,4% GDP là không chính xác, do cách tính sai lầm”.’


Tổng số nợ công của Việt Nam đã vượt 110 tỷ USD

Theo bà Mai, con số 66,4% là đã tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng 5%. Trong khi, theo Luật Quản lý nợ công hiện hành, nợ công bao gồm nợ Chính phủ, nợ Chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương.

TS Đỗ Thiên Anh Tuấn (Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright) lại cho rằng, định nghĩa nợ công nói trên tuy đúng với tiêu chuẩn của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), nhưng đã “bỏ qua” nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), thành phần vốn giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

Ngay cả khi không được Chính phủ bảo lãnh chính thức, một khi DNNN vỡ nợ thì Chính phủ cũng phải can thiệp bằng cách này hoặc cách khác. Chính vì vậy, nếu thận trọng tính cả nợ của DNNN thì tỉ lệ nợ công trên GDP của Việt Nam đã trên dưới 100% GDP, chưa kể nợ đọng xây dựng cơ bản hiện chiếm khoảng 1,5% GDP!

Trong một diễn biến khác, tuy sử dụng tỷ lệ nợ công 59,6% GDP của Bộ Tài chính để đánh giá tình hình, nhưng Báo cáo vừa công bố ngày 5/10 của Ngân hàng Thế giới (WB) về tình hình kinh tế Việt Nam nhận định, thâm hụt ngân sách tiếp tục tạo áp lực cho chính sách tài khóa, với mức dự kiến 5,6% GDP trong nửa đầu năm 2015 (tính cả trả nợ gốc).

“Điều đó thể hiện hiệu quả ngân sách kém trong khi chi thường xuyên và chi cho đầu tư cơ bản tăng. Tổng nợ công và nợ do Chính phủ bảo lãnh tiếp tục tăng và đạt mức 59,6% trong năm 2014 (54,5% năm 2013). Tuy nợ công vẫn nằm trong giới hạn bền vững nhưng chi phí trả nợ đã bắt đầu “ăn” vào các khoản chi hỗ trợ sản xuất khác trong ngân sách”, vẫn theo tài liệu nói trên.

Trước đó, hồi tháng 7 vừa qua, WB cũng đã cảnh báo rằng tổng số nợ công của Việt Nam đã vượt 110 tỷ USD và tình trạng mất cân đối tài khóa đã kéo dài nhiều năm.

Cũng cần nói thêm rằng, chỉ số công khai ngân sách mở của Việt Nam năm 2015 chỉ là 18 điểm trên thang điểm 100 (mức trung bình toàn cầu là 45 điểm), theo khảo sát của tổ chức Đối tác Ngân sách quốc tế công bố ngày 9/9/2015. Năm 2014, Việt Nam được 19 điểm. Ngay cả với các nhà lập pháp thì ngân sách vẫn là một điều bí ẩn và khó giải thích.

Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng, người từng là Bộ trưởng Bộ Tài chính, cũng đã nhiều lần thẳng thắn cho rằng, việc phê chuẩn quyết toán ngân sách năm của Quốc hội hiện nay hầu như là là hợp thức việc đã rồi, nói gì đến việc kiểm soát từng khoản chi cụ thể!

Gánh nặng lúc tuổi già

Việt Nam phải tiết kiệm được 1% GDP thặng dư ngân sách mỗi năm để hiện thực hóa kịch bản kéo giảm nợ công

Trên thực tế, mỗi nền kinh tế có “ranh giới đỏ” khác nhau về nợ công. TS Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý kinh tế trung ương (CIEM) cho rằng, vấn đề quan trọng nhất là khả năng trả nợ.

Theo kịch bản nợ công đã được Quốc hội phê chuẩn, đến năm 2017, nợ công của Việt Nam sẽ đụng trần 65% GDP – ngưỡng Quốc hội cho phép, và sau đó sẽ được kéo xuống còn 60,2% vào năm 2020. Nhưng theo TS Đỗ Thiên Anh Tuấn, qua “chạy” thử nhiều kịch bản thì ngay cả với kịch bản tốt nhất là kinh tế tăng trưởng và ổn định vĩ mô, mỗi năm Việt Nam cũng phải tiết kiệm được 1% GDP thặng dư ngân sách – điều chưa từng xảy ra trong nhiều năm qua.

Trong khi đó, xét từ góc độ sức lan tỏa của các dự án đầu tư công, Việt Nam chưa sử dụng hiệu quả nợ công. Trong 10 năm qua, nợ công của Việt Nam đạt mức tăng bình quân gần 18%/năm, cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng kinh tế. Phát hành trái phiếu quốc tế để đảo nợ là cách Hy Lạp đang làm và Việt Nam cũng đã thực hiện vào cuối năm 2014, với tổng trị giá 1 tỷ USD ở mức lãi suất 4,8%/năm.

Đảo nợ để được hưởng lãi suất tốt hơn là giải pháp đúng đắn, nhưng chỉ là giải pháp tình thế. Đảo nợ chỉ hữu hiệu khi đi kèm các biện pháp tăng cường kỷ luật tài khóa và áp đặt ràng buộc ngân sách “cứng” nhằm giảm gánh nợ cho ngân sách.

Trong khi đó Việt Nam đã bắt đầu bước vào giai đoạn dân số già hóa với tốc độ nhanh. Ước tính nước ta sẽ có khoảng 25-30 năm để chuyển từ dân số vàng (bắt đầu từ năm 2007) sang già hóa dân số (khoảng thời gian tương ứng ở Pháp và Thụy Điển lần lượt là 115 và 70 năm).

Nhìn sang các nước trong ASEAN, có thể thấy Brunei và Malaysia có tỷ lệ dân số trên 65 tuổi lần lượt chỉ 4% và 5% nhưng lại có thu nhập cao hơn hẳn Việt Nam, lần lượt gấp 15 và 5 lần. Trong khi tỷ lệ nợ công cũng tương đương Việt Nam (trường hợp Malaysia), thậm chí thấp hơn rất xa (trường hợp Brunei, dưới 2,5% GDP).

Thái Lan, Singapore có tỷ lệ dân số già lớn hơn Việt Nam nhưng có thu nhập cao gấp nhiều lần. Thêm vào đó, năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất châu Á – Thái Bình Dương, mà tốc độ tăng năng suất lao động của Việt Nam lại có chiều hướng giảm. Nếu trong giai đoạn 2002 – 007, năng suất lao động tăng trung bình 5,2%/năm thì từ năm 2008 – 2014 tốc độ tăng năng suất lao động trung bình chỉ còn 3,3%/năm. Nỗi lo tuổi cao, nợ nặng là hoàn toàn có cơ sở!

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s