Nợ công và tham nhũng vượt ngưỡng nguy hiểm

Posted: October 19, 2015 in Uncategorized
Tags:

Phạm Chí Dũng (NV) – Chỉ ít ngày trước Hội Nghị Trung Ương 12 và kỳ họp Quốc Hội cuối năm, bất chợt nổi lên những tín hiệu về thế trầm kha của nạn tham nhũng và nợ công Việt Nam.

� Xem thêm: ODA, FDI – Nợ công và tham nhũng ở Việt Nam + Nhà máy 7.000 tỉ đồng “đắp chiếu”.

Vượt trên ngưỡng nguy hiểm!

Vào đầu Tháng Mười, lần đầu tiên xuất hiện một báo cáo đáng giá lương tâm từ phía Học Viện Chính Sách và Phát Triển (Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư) về nợ công, khác hẳn thái độ cực kỳ “ngoan ngoãn” của bộ này trước đây.

Báo cáo này “tính toán lại” nợ công năm 2014: nếu tính thêm chi phí dự phòng nợ bất khả kháng là 5% nợ công trong nước thì sẽ là 66.4% GDP, chênh lệch tới 6.5 điểm phần trăm so với mức nợ công 59.9% GDP đã được các báo cáo của chính phủ công bố.

Tỷ lệ mới về nợ công đã hiển nhiên vượt hơn ngưỡng nguy hiểm 65%.

Thế nhưng trong nhiều báo cáo gửi tới các kỳ họp Quốc Hội trong những năm gần đây, chính phủ đều khẳng định nợ công vẫn ở mức an toàn. Một số chuyên gia “phản biện trung thành” đã được xuất hiện trên truyền thông để trấn an giới phản biện độc lập và dân chúng khi cho rằng chẳng có gì đáng lo ngại về nợ công quốc gia.

Xu thế vay mượn ODA cũng vì thế càng trở nên “ăn của dân không chừa thứ gì.” Không chỉ dự án sân bay Long Thành $15 tỷ mà cả dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam cũng đang ngấp nghé con số $55 tỷ, chỉ chực chờ đổ ập lên đầu dân chúng núi nợ truyền kiếp không biết bao nhiêu đời con cháu.

Để có được con số nợ công trung thực hơn, Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư đã thay đổi cách tính, bổ sung ba tiêu chí là nợ Ngân Hàng Nhà Nước, nợ của doanh nghiệp nhà nước (DNNN), và nợ của tổ chức bảo hiểm và an sinh xã hội. Đây cũng là những tiêu chí không nằm trong Luật Quản Lý nợ công 2009. Thế nhưng, những tiêu chí này, đặc biệt là nợ của DNNN, lại là tiêu chuẩn bắt buộc của Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) và Ngân Hàng Thế Giới (WB).

Cần nhắc lại, từ năm 2011, một số chuyên gia phản biện độc lập đã báo động về tình hình nợ công quốc gia của Việt Nam. Ông Vũ Quang Việt, nguyên vụ trưởng Tài Khoản Quốc Gia, Cục Thống Kê của Liên Hiệp Quốc, đã tính toán số nợ của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước để từ đó đưa ra tỉ lệ nợ công quốc gia trên GDP lên đến 106%.

Chỉ đến năm 2014, vài chuyên gia và quan chức nhà nước mới chịu thừa nhận nợ công quốc gia có thể lên đến 98% GDP, tức “làm ra 100 đồng đã phải dành đến 98 đồng để trả nợ.”

Trong khi đó, giới lãnh đạo chính phủ vẫn cố ép tỉ lệ này chỉ ở mức 50-55% GDP.

Vào Tháng Tám, khác với những lần trước khi thông báo về tình hình nợ công quốc gia được dẫn nguồn từ chính phủ hoặc thậm chí cơ quan tuyên giáo, báo giới nhà nước lại đồng loạt phát tin “Việt Nam là quốc gia có rủi ro nợ công lớn nhất khu vực Đông Nam Á” và “được” ngân hàng Bank of America (Mỹ) xếp hạng rủi ro thứ 12 trên thế giới.

“Việt Nam không bao giờ vỡ nợ công” thuộc loại tuyên bố “ấn tượng” vô trách nhiệm nhất của giới quan chức Việt Nam cách đây không lâu. Thế nhưng đã quá chán ngán trước tình cảnh dối trá bất tận về thực trạng nợ công, nợ xấu, cộng thêm đòi hỏi ngày càng lớn về minh bạch tài chính ngân sách, báo chí nhà nước chỉ còn chờ những tổ chức phân tích tài chính có uy tín như Bank of America phát thông tin là lập tức xé rào dẫn lại.

Với con số nợ công mới 66.4%/GDP mà Bộ Kế Hoạch và Đầu Tư đưa ra, kỳ họp Quốc Hội Việt Nam vào Tháng Mười Một sẽ có thể sôi động hơn chứ không thuần một chiều như trước đây. Có khả năng một số đại biểu sẽ phản bác báo cáo của chính phủ và những dự án vay ODA với dự toán theo kiểu “giết sống” dân nghèo.

Tình hình nợ công tiếp tục dấn sâu vào vùng nguy hiểm cũng đang là hiện tượng tiếp biến mà rất có thể sẽ làm cho nền kinh tế Việt Nam lao vào vùng phá sản trong ít năm tới – không khác mấy trường hợp Argentina năm 2001.

Đáy minh bạch – đỉnh tham nhũng

Trên một bình diện khác, vào đầu Tháng Chín, Tổ Chức Đối Tác Ngân Sách Quốc Tế công bố chỉ số công khai ngân sách mở của Việt Nam năm 2015 chỉ là 18 điểm trên thang điểm 100, thấp hơn nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 45 điểm. Chỉ số này thậm chí còn thấp hơn một điểm so với xếp hạng năm 2014.

Sự việc quá đáng xấu hổ trên phải có căn nguyên của nó. Vào Tháng Mười Hai, 2014, Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế (TI) công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng 2014 (CPI 2014): Việt Nam đạt 31/100 điểm, đứng thứ 119 trên bảng xếp hạng toàn cầu và thứ 18 trên tổng số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ được đánh giá trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương. Trong số chín quốc gia Đông Nam Á được đánh giá năm 2014, Việt Nam đứng thứ 6, chỉ xếp hạng trên Lào, Cambodia, và Miến Điện. Trong lúc điểm số của Việt Nam không thay đổi trong một bảng xếp hạng về tham nhũng hàng năm, nhiều quốc gia láng giềng lại đang cải thiện kết quả CPI của họ.

Mức độ thiếu công khai, minh bạch về ngân sách Việt Nam luôn đứng gần chót bảng xếp hạng lại không gây ngạc nhiên với nhiều người, trong đó có trưởng đại diện Tổ Chức Hợp Tác Quốc Tế Nhật tại Việt Nam (JICA), ông Mori Mutsuya. Trong nỗ lực tìm kiếm thông tin về ngân sách để phục vụ cho nghiên cứu gần đây về nợ công, nợ trong nước, nợ nước ngoài của Việt Nam mà JICA quan tâm, ông đã không khỏi thất vọng. Các số liệu ngân sách nhà nước mà Bộ Tài Chính thường công khai trên cổng thông tin điện tử đã không thể hiện được gì nhiều.

Ở cấp địa phương, vấn đề công khai, minh bạch ngân sách còn tồi tệ hơn nhiều. Một khảo sát gần đây với hơn 1,100 người dân tại năm tỉnh là Bắc Giang, Hòa Bình, Nam Định, Quảng Trị và Bà Rịa-Vũng Tàu của năm tổ chức xã hội dưới sự bảo trợ của Ủy Ban Tài Chính-Ngân Sách của Quốc Hội cho thấy điều đó.

Kết quả tham vấn tại Bắc Giang cho thấy, hơn 43% người dân được hỏi không biết rằng ngân sách được chi cho phát triển kinh tế, bảo đảm an ninh quốc phòng và bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; tới hơn 63% số người được hỏi không biết rằng ngân sách được chi trả nợ của nhà nước và chi viện trợ. Trong khi đó, có gần 43% người dân ở các tỉnh Hòa Bình, Quảng Trị, Bà Rịa-Vũng Tàu và Nam Định cho biết họ có nghe hoặc có nhìn thấy báo cáo thu chi ngân sách của xã nhưng không nhớ hoặc không hiểu được những thông tin này.

Đặc biệt, chi đầu tư xây dựng cơ bản – thường chênh lệch tới 50% so với dự toán, vượt xa so với hướng dẫn về thông lệ tốt là duy trì chênh lệch chi tiêu ở mức không quá 5% dự toán. Bình quân các tỉnh miền núi phía Bắc chi cao hơn dự toán đến 42%, các tỉnh ở Tây Nguyên chi cao hơn 35%. Còn tại khu vực Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long, mức chi bình quân cao hơn lần lượt là 7% và 9%.

Nhân nào quả nấy. Bội chi ngân sách nhà nước năm 2013 đã vọt lên 6.6% GDP, từ mức 5.3% GDP được phê duyệt trước đó.

Bản dự thảo đầu tiên của Luật Ngân Sách nhà nước từng có điều khoản xử lý trách nhiệm cá nhân của những người chi tiêu sai ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, nội dung này không còn xuất hiện trong luật được Quốc Hội thông qua tại kỳ họp trước.

Hiển nhiên Tổ Chức Minh Bạch Quốc Tế chẳng thiếu cơ sở khi cho rằng chỉ số cảm nhận tham nhũng của Việt Nam không thay đổi trong ba năm liên tiếp (2012- 2014), và tham nhũng trong khu vực công vẫn là một vấn đề nghiêm trọng của quốc gia.

Quy luật nghịch đảo cuối cùng đã được giới báo chí nhà nước thừa nhận: thu chi ngân sách càng kém minh bạch, tham nhũng càng ngập ngụa, nợ công càng rủi ro. Song nếu phải chờ cho đến khi chính phủ Việt Nam phải thú nhận về hậu quả này, thì e rằng sẽ quá trễ để cứu vãn nền kinh tế chỉ còn da bọc xương.

Ai và cơ quan nào có thể khoan đến xương tủy sự thật về nợ xấu và nợ công, từ đây đến Đại Hội 12 của đảng cầm quyền?

[:-/] ODA, FDI : Nợ công và tham nhũng ở Việt Nam (Lâm Văn Bé 10/02/2012 – Cựu Hiệu trưởng trường TH Nguyễn Đình Chiểu-Mỹ Tho) – Tháng năm 1975, các dép râu nón cối từ Trường Sơn, từ các hầm hố chui ra, từ miền Bắc xã hội chủ nghĩa tràn vào miền Nam «Mỹ Ngụy». Những người chiến thắng ngồi chồm hổm trên xe, nuôi heo trên cao ốc, ngơ ngác trước cảnh sống tự do sung túc mà đã 30 năm họ chưa bao giờ được trông thấy. Họ vơ vét của cải của người dân miền Nam, và trong hành trang mang về quê quán, ít nhất có ba bảo vật mà họ hằng mơ ước là chiếc xe đạp, chiếc đồng hồ và cái radio (đạp-đồng-đài). Từ năm ấy, Cộng Sản đã thống nhất nghèo đói và chế độ độc tài trên toàn cả nước Việt Nam.

Để cứu giúp Việt Nam thoát ra khỏi tình trạng chậm tiến và bần cùng, tháng 11 năm 1993, một số quốc gia phát triển và các quỹ tiền tệ quốc tế họp tại Paris để chấp nhận tài trợ cho Việt Nam với chương trình ODA và trước đó vài năm, một số doanh thương ngoại quốc cũng đã bắt đầu đem vốn đến Việt Nam đầu tư dưới dạng FDI.

Ngoại tệ ào ạt đổ vào Việt Nam. Một số hạ tầng cơ sở được trùng tu phát triển, các tòa nhà chọc trời của giới tư bản được dựng lên tại các thành phố lớn. Bộ mặt của xã hội chủ nghĩa đã nhanh chóng đổi thay cùng nhịp với sự thay hình đổi dạng của các cán ngố. Một giai cấp mới tư bản đỏ xuất hiện, làm giàu với một vận tốc phi mã bằng tham nhũng trên số ngoại tệ tài trợ và tài sản quốc gia, khiến đất nước bên ngoài trông có vẻ «văn minh» hơn, nhưng che giấu bên trong một thực trạng phân cách giàu nghèo trầm trọng, số nợ công thêm chồng chất và vụ thất thoát 5 tỷ mỹ kim của công ty Vinashin là điển hình của chánh sách tham nhũng và bạo lực của Việt Nam hôm nay.

Bài viết đề cập đến một vấn đề tuy «đã nghe, đã đọc», nhưng những con số kinh hoàng sẽ giúp độc giả biết rõ hơn một hiểm họa đè nặng trên vai của nhiều thế hệ người Việt về những món nợ công mà tập đoàn tham nhũng cộng sản từ nhiều thập niên qua đã vơ vét tận tình. (…)

Những quan điểm  của các kinh tế gia uy tín trên nói lên một thực trạng  là các  cấp lãnh đạo  cộng sản đã sử dụng ODA như một phương tiện để làm giàu cho cá nhân và phe đảng.

Chuyện khôi hài là chánh phủ đi vay nợ của ngoại quốc để rồi đem cho vay lại trong nước, dùng tiền tài trợ với lãi suất kém đem cho các doanh nghiệp và địa phương vay với lãi suất cao hơn để lấy lời. Với quan niệm tiền tài trợ là tiền cho không, hay phải chờ đến 30-40 năm sau mới trả, các người có chức có quyền tranh nhau để lập dự án, tỉnh nào cũng lập sân bay, đường xa lộ, nhà máy làm đường tuy không phải là vùng đất trồng mía, nhà máy chế biến thủy sản ở vùng đất trồng lúa. Tiền ODA là của trời cho để các cấp lãnh đạo chia chác qua các dự án dễ sinh lợi trong chốc thời và khi quản trị kém vì thiếu khả năng, vì luật lệ chồng chéo không rõ ràng, các công ty vỡ nợ, các người trách nhiệm đỗ lỗi cho nhau rồi giựt nợ.

Dân chúng không biết ODA là gì, chính phủ xem ODA là một bộ phận của ngân sách nên quản trị như tài sản quốc gia, mặc tình phung phí và vơ vét, và các nhà tài trợ, vì nguyên tắc không can dự vào nội tình chính trị của nước tài trợ, đành bất lực nhìn tài sản của nhân dân họ đóng góp để phát triển các dân tộc nghèo lại rơi vào tay các nhà tỷ phú tham nhũng. (…)

Nhà máy 7.000 tỉ đồng “đắp chiếu”

(BĐV) Theo TTO – Chỉ sau hơn một năm hoạt động, nhà máy cùa Tập đoàn dầu khí VN phải liên tục “đắp chiếu”, lỗ hơn 1.700 tỉ đồng và đứng trước nguy cơ phá sản.

Bỏ ra gần 7.000 tỉ đồng đầu tư Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ (PVTex, Hải Phòng) với mong muốn VN làm chủ nguyên liệu dệt may.

Thế nhưng chỉ sau hơn một năm hoạt động, nhà máy liên tục “đắp chiếu”, lỗ hơn 1.700 tỉ đồng, đứng trước nguy cơ phá sản…

Nhà máy này do Tập đoàn Dầu khí VN (PVN) nắm giữ trên 75% vốn cổ phần, tổng vốn đầu tư lên tới 325 triệu USD (tương đương gần 7.000 tỉ đồng), dự định dùng nguyên liệu từ Nhà máy lọc dầu Dung Quất để chế biến thành xơ sợi với mục đích giúp VN tự chủ một phần nguyên liệu dệt may.

Nhưng ngay từ khi chạy thử rồi vận hành vào tháng 5-2014, nhà máy này liên tục đối mặt với việc không bán được hàng, tạm dừng nhà máy…

Nha may 7.000 ti dong “dap chieu”
Nhà máy ngàn tỉ của PVN hiện vẫn đang phải tạm dừng hoạt động, chỉ có vài công nhân bảo dưỡng đến trông coi

Ba lần 
“tạm đắp chiếu”

Có mặt tại nhà máy của PVTex trưa 12-10, trái ngược với dòng xe ra vào cảng Đình Vũ rầm rập đi lại, chúng tôi không khỏi ngạc nhiên khi khu vực khuôn viên rộng lớn của nhà máy PVTex không một bóng người, trừ mấy bác bảo vệ ngồi buồn thiu ở cổng.

Bên trong khu vực của nhà máy đều ở tình trạng “cửa đóng then cài”, chỉ có một vài công nhân lo điện nước, bảo dưỡng thiết bị.

Trao đổi với anh Nguyễn Tiến G.A. – nhân viên PVTex, giọng anh ỉu xìu: “Nhà máy phải dừng sản xuất. Từ đầu năm đến giờ dừng mấy lần rồi. Bọn em đang tính phải tìm nghề khác kiếm sống”…

Theo thông tin từ PVTex, đây là lần thứ hai trong năm nay nhà máy lâm vào cảnh “tạm thời đắp chiếu” và là lần thứ ba phải “tạm dừng” kể từ khi hoàn thành việc chạy thử.

Riêng năm 2015, đợt một dừng hoạt động hơn hai tháng từ ngày 6-1 đến 12-3. Đợt hai từ tháng 9-2015 và dự kiến kéo dài đến tận tháng 12.

Nhà máy xơ sợi Đình Vũ được xây dựng với mục tiêu ban đầu đầy tham vọng: đáp ứng 40% thị phần thị trường sản phẩm xơ và 12% sợi trong nước, “hỗ trợ ngành dệt may giảm nhập khẩu, chủ động về nguyên liệu”…

Tuy nhiên, đến nay thành tích của PVTex vẫn là những câu chuyện buồn.

Theo Bộ Công thương, nhà máy của PVTex được thiết kế để sản xuất 500 tấn xơ sợi/ngày, phục vụ ngành công nghiệp dệt, may trong nước.

Thế nhưng ngay khâu thi công nhà máy chậm tiến độ tới… hai năm. Khi đi vào hoạt động năm 2014, chỉ vận hành khoảng bảy tháng nhà máy lỗ hơn 1.085 tỉ đồng, doanh thu không đủ bù chi phí tối thiểu.

Và mục tiêu “hỗ trợ” ngành dệt may giảm nhập khẩu đến nay vẫn là… mong ước. Bởi rất nhiều doanh nghiệp dệt may trong nước không mua xơ sợi của PVTex do chất lượng và giá hàng nhập khẩu cạnh tranh hơn.

Do nhà máy “đắp chiếu”, khoảng 1.000 công nhân viên PVTex đang phải tạm nghỉ việc.

Tính toán một đằng, thực tế một nẻo

Theo thông tin của Tuổi Trẻ, ngay từ báo cáo nghiên cứu khả thi nhiều số liệu chứng minh dự án có hiệu quả, cần phải xây dựng nhà máy, nhưng đến nay thực tế vận hành đều… không đúng.

Báo cáo của Bộ Công thương gửi Thủ tướng cũng cho biết nhiều dữ liệu tính toán trong nghiên cứu khả thi “phi thực tế” khiến phát sinh khoản chênh lệch rất lớn so với tính toán.

Cụ thể chi phí điện cả năm theo báo cáo nghiên cứu khả thi chỉ tốn khoảng 4,69 triệu USD, nhưng thực tế lên tới 12 triệu USD; chi phí hóa chất, phụ liệu khác theo tính toán chỉ 500.000 USD song thực tế lên tới 11 triệu USD.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo PVN thừa nhận các chi phí của PVTex như: khí đốt, chi phí nhân công đều tăng 1,5 – 3 lần. Dự kiến nhà máy khi hoàn thành chỉ cần khoảng 500 nhân viên, song thực tế đang phải thuê tới 1.000 nhân viên vận hành nhà máy. Chưa hết, do chất lượng có vấn đề nên có thời điểm PVTex phải đi thuê thêm kho để… chất hàng tồn vì không bán được.

Một điểm đáng chú ý khác, đó là tính toán ban đầu cho rằng nhà máy có khả năng thu hồi vốn trong 8 năm 8 tháng, nhưng khi tính toán lại phải mất tới 
22 năm 10 tháng mới thu hồi được vốn, chênh lệch tới 14 năm 2 tháng.

Trong văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ, Bộ Công thương cho biết năm tháng đầu năm 2015 PVTex sản xuất trên 32.000 tấn sản phẩm nhưng tiêu thụ được chỉ 23.000 tấn, chưa kể còn một phần hàng tồn của năm trước.

Có nghĩa vừa tiêu thụ hết hàng tồn năm 2014 thì tiếp tục… tồn kho sản phẩm năm 2015. Trong khi đó, mỗi tấn sản phẩm PVTex lỗ ít nhất 3,3 triệu đồng.

Đến ngày 31-3-2015, tổng lỗ của PVTex lên tới 1.732 tỉ đồng.

Nha may 7.000 ti dong ... “dap chieu”
Nhà máy sản xuất xơ sợi polyester Đình Vũ (Hải Phòng) trị giá hàng ngàn tỉ đồng hiện phải tạm dừng hoạt động

Lại xin cơ chế đặc thù…

Trước thực tế thua lỗ liên tục và sắp hết vốn hoạt động tại PVTex, PVN đã đề nghị Nhà nước cần có hỗ trợ bằng cơ chế đặc thù đưa nhà máy “trăm triệu đô” này hoạt động ổn định và thu hồi vốn đầu tư.

Cụ thể, dù có thể ảnh hưởng đến các doanh nghiệp ngành dệt may nhưng để doanh nghiệp trong nước tăng mua sản phẩm của PVTex, PVN đề nghị Bộ Tài chính áp thuế nhập khẩu và hạn ngạch đối với sản phẩm xơ sợi polyester nhập khẩu.

PVN cũng đề nghị cần miễn giảm thuế giá trị gia tăng; miễn giảm chi phí điện, nước, chi phí thuê đất, chi phí quản lý, xử lý nước thải của Khu công nghiệp Đình Vũ với PVTex trong hai năm…

Đặc biệt, dù đã là cơ chế thị trường nhưng theo Bộ Công thương, PVN đã đề nghị cần cho phép xây dựng cơ chế tiêu thụ sản phẩm trong nước theo hướng yêu cầu các doanh nghiệp dệt may “phải sử dụng các sản phẩm của PVTex”.

PVN đề xuất các nhà máy kéo sợi trong nước muốn được tiếp cận vốn ưu đãi của ngân hàng, ưu đãi thuế… phải dùng sản phẩm xơ sợi DTY nội địa với tỉ lệ ít nhất là 30% trong năm đầu tiên, từ năm thứ hai là 50%.

Mặc dù chia sẻ với khó khăn của PVTex, nhưng nhiều kiến nghị của PVN đã bị Bộ Công thương và Bộ Tài chính đánh giá “trái với cam kết gia nhập WTO” và “không có cơ sở để thực hiện” hay “rất khó thực hiện”.

Để giải quyết khó khăn trước mắt, Bộ Công thương cho biết đã có văn bản gửi các doanh nghiệp, hiệp hội dệt may đề nghị ưu tiên sử dụng các sản phẩm của PVTex. Bộ Tài chính cũng nâng thuế mặt hàng xơ polyester từ 0% lên 2%. Dù vậy, Bộ Công thương vẫn cho rằng “tình hình tài chính của PVTex là hết sức khó khăn, thậm chí có nguy cơ phá sản”.

Tồn kho nhiều do giá cao hơn hàng nhập

Theo ước tính của các chuyên gia lâu năm trong ngành xơ sợi, năng lực sản xuất xơ hóa học của VN hiện khoảng 500.000 tấn/năm, trong đó có 200.000 tấn/năm sợi filament, 300.000 tấn/năm xơ polyester, do năm doanh nghiệp trong nước cung ứng là PVTex, Formosa, Hoa Long, Sợi Thế Kỷ và Đông Tiến Hưng. Nhu cầu sử dụng trong nước đối với xơ polyester trên 400.000 tấn/năm.

Năm 2014, VN đã nhập khẩu khoảng 246.000 tấn xơ polyester, trị giá 405,8 triệu USD, chủ yếu từ Đài Loan (khoảng 40%), Thái Lan (26%), Trung Quốc (15%) và Hàn Quốc (18%). Theo Tổng cục Hải quan, giá nhập khẩu trung bình năm 2014 đối với xơ polyester khoảng 1.237 USD/tấn.

Trong khi đó, theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ, giá thành sản xuất xơ của PVTex trung bình ba tháng cuối năm 2014 khoảng 1.434 USD/tấn. Như vậy, giá xơ của PVTex cao hơn giá nhập khẩu trung bình năm 2014 khoảng 197 USD/tấn.

Một chuyên gia cho rằng nếu PVTex chạy hết công suất thiết kế 145.000 tấn xơ/năm (chứ không phải chỉ khoảng 50% hoặc thấp hơn như hiện nay), giá thành sản xuất xơ của công ty này vẫn cao hơn giá nhập khẩu khoảng 53 USD/tấn.

“Giá cả cao hoặc thấp cũng chỉ là một yếu tố. Vấn đề quan trọng nhất, theo chúng tôi, là chất lượng xơ polyester của PVTex thật sự không ổn định. Cho nên Nhà nước có nâng thuế để hạn chế xơ nhập khẩu như đề xuất của PVTex đi chăng nữa thì các doanh nghiệp sản xuất sợi, dệt vẫn tiếp tục sử dụng nguyên liệu xơ nhập khẩu” – một chuyên gia trong ngành xơ sợi khẳng định.

Trần Vũ Nghi

Vinatex đã rút hết vốn khỏi PVTex

Tháng 1-2008, PVTex được thành lập trên cơ sở thỏa thuận giữa Tập đoàn Dầu khí VN và Tập đoàn Dệt may VN (Vinatex) với góp vốn ban đầu cho mỗi bên là 50/50. Sau đó Vinatex và đơn vị thành viên là Tổng công ty CP Phong Phú đã giảm tỉ lệ vốn góp vào PVTex còn 19%, đến tháng 9-2014 hai đơn vị này đã thoái vốn khỏi PVTex.

Nhà thầu EPC của dự án này là liên danh nhà thầu HEC-LGI-PVC (Hàn Quốc và VN). Đơn vị lập báo cáo nghiên cứu khả thi (DFS) là Công ty Industrial Engineering GmbH (Đức).

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s