Doanh nghiệp nhà nước làm tăng gánh nặng nợ công

Posted: October 21, 2015 in Uncategorized
Tags:

Hải Vân (DNSG) – Theo Luật Quản lý nợ công năm 2009, nợ công của nước ta không bao gồm nợ của Ngân hàng Nhà nước và các doanh nghiệp Nhà nước (DNNN).

� Xem thêm: Năm 2020: Nợ công Việt Nam không vượt quá 50% GDP + Doanh nghiệp muốn được vay ODA: Nhiều rủi ro.

Tuy nhiên, nhìn vào báo cáo của Chính phủ cuối năm 2013, tổng nợ của doanh nghiệp (DN) do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ tính đến cuối năm 2012 là gần 1.550 nghìn tỷ đồng, tương đương khoảng 52,5% GDP.

Nếu trừ khoản nợ đã được Chính phủ bảo lãnh (5,2% GDP trong nợ công nước ngoài và 6,5% GDP trong nợ công trong nước) thì vẫn còn khoảng 40,9% GDP nợ của các DNNN không được Chính phủ bảo lãnh. Nợ của DNNN, nợ chính phủ và nợ công đều đang tăng rất nhanh, trong khi mỗi bộ phận này có tính chất, cấu trúc khác nhau, đem lại những rủi ro khác nhau.

Trong cơ cấu vay nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được Chính phủ bảo lãnh chiếm tỷ lệ tương đối lớn và có xu hướng tăng mạnh. Nợ được Chính phủ bảo lãnh phần lớn là nợ nước ngoài của các DNNN, hầu hết là các khoản vay ngắn hạn. Trong điều kiện DNNN làm ăn kém hiệu quả như hiện nay, nghĩa vụ trả nợ đều dồn lên vai Nhà nước.

Bộ Tài chính nhiều lần tuyên bố nợ DNNN tự vay tự trả, song ngân sách nhà nước đã phải trả cho nhiều dự án, như khoản nợ 600 triệu USD của Vinashin, khoản nợ 45 triệu USD của Tổng công ty Cơ khí xây dựng (COMA), hàng chục triệu USD của HUD…

Việc không tính nợ của DNNN vào nợ công của nước ta rất khó lường trước được rủi ro, làm cho Việt Nam có khả năng rơi vào bẫy khủng hoảng nợ công, bởi nợ của DNNN là rất lớn, trong đó phần lớn là vốn vay.

Theo báo cáo của Chính phủ trước Quốc hội ngày 1/11/2010, nợ của 81/91 DNNN, chưa tính Vinashin, trong năm 2009 là 813.435 tỷ đồng, tương đương 49% GDP. Nếu tính cả nợ của Vinashin thì nợ của khu vực DNNN vào cuối năm 2009 tương đương 54,2% GDP.

Con số nợ công của Việt Nam đến nay chưa thống nhất, số liệu nợ công thường chỉ được công bố sau một đến một năm rưỡi. Các chuyên gia kinh tế tính toán, nếu cộng cả số nợ của DNNN không được Chính phủ bảo lãnh cùng với nợ đọng trong xây dựng cơ bản, nợ công Việt Nam có thể lên tới 100 – 105% GDP, vượt xa so với ngưỡng an toàn là 65% GDP mà Quốc hội cho phép.

Như vậy, nếu theo cách tính nợ công của thế giới, các khoản nợ của các DNNN và Ngân hàng Nhà nước đều tính vào nợ công, thì nợ công của nước ta sẽ cao hơn rất nhiều.

Chính sách mở rộng phạm vi, đối tượng bảo lãnh của Chính phủ cho DNNN vay vốn góp phần làm nợ công tăng cao. Phạm vi bảo lãnh của Chính phủ rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực sản xuất, kinh doanh như thép, xi măng, giấy, điện, than, khoáng sản, cảng biển, y tế và các dự án đầu tư hạ tầng.

Theo Bộ Tài chính, đến năm 2013, nợ do Chính phủ bảo lãnh là 396.114 tỷ đồng, tốc độ tăng bình quân trong giai đoạn 2010 – 2013 khá cao, tới 20,8%.

Thời gian tới, Chính phủ tiếp tục bảo lãnh DN vay thực hiện các dự án trọng điểm với trị giá bảo lãnh bình quân 3 – 4 tỷ USD/năm. Phát hành trái phiếu trong nước, mức tăng dư nợ bình quân 10%/năm với nhu cầu vay Chính phủ bảo lãnh từ 60 – 70 nghìn tỷ đồng/năm.

Một điểm lo ngại nhất là hiệu quả kinh tế của các DNNN rất thấp và có xu hướng giảm. Hệ số ICOR của khu vực DNNN luôn cao hơn khu vực tư nhân và toàn bộ nền kinh tế, đồng nghĩa với hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của khu vực kinh tế nhà nước thấp hơn các khu vực còn lại, trong khi tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ công ngày càng tăng.

Theo báo cáo của Thủ tướng trước Quốc hội ngày 20/10/2014, tỷ lệ trả nợ từ DNNN đã ở mức 26,2%, cao hơn so với mức 25% cho phép trong chiến lược quản lý nợ công. Dự kiến, năm 2015 tỷ lệ nghĩa vụ trả nợ chính phủ, gồm cho vay lại/thu ngân sách nhà nước có thể lên tới 31,87%.

Nhìn vào định hướng phát triển kinh tế – xã hội từ nay đến năm 2020 có thể thấy nước ta sẽ tiếp tục phải vay để trả nợ và bù đắp những thiếu hụt đầu tư, bởi tỷ lệ tiết kiệm nội địa hiện chỉ khoảng 27% GDP, trong khi mức đầu tư toàn xã hội của nền kinh tế chỉ đạt khoảng 30% GDP.

Nợ công thời gian tới phụ thuộc nhiều vào tính hiệu quả của nền kinh tế. Do đó, cùng với một loạt giải pháp kiểm soát, giám sát chặt chi tiêu công…, nước ta phải thay đổi cách tính nợ công, trong đó tính cả nợ DNNN, mà trước hết là nợ các DNNN được bảo lãnh trong cơ cấu nợ công. Chỉ như vậy Việt Nam mới có thể tính chính xác số nợ công hiện tại, ngưỡng rủi ro, để đưa ra giải pháp quản lý nợ công hiệu quả.

[:-/] Thủ tướng: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại (TBKTSG Online) – Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cam kết tập trung nỗ lực hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế.

Tại Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khoá XIII khai mạc sáng nay, 20-10, Thủ tướng cam kết từ nay đến năm 2020 cần phát triển và vận hành thông suốt, hiệu quả các loại thị trường; bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, phân bổ nguồn lực cho sản xuất kinh doanh và quản lý giá phải theo cơ chế thị trường.

Một trong những yếu kém nghiêm trọng nhất, ông thừa nhận, là do nhận thức về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên nhiều lĩnh vực chưa đủ rõ và còn khác nhau nên việc xây dựng thể chế, chính sách nhiều mặt còn lúng túng, thiếu nhất quán, chưa thật phù hợp với kinh tế thị trường, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển.

Xem thường dân chúng, nhà cầm quyền CSVN với “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mập mờ luôn vẽ lên tương lai hấp dẫn một cách vô liêm sỉ:

Năm 2020: Nợ công Việt Nam không vượt quá 50% GDP

(BĐV) – Chính phủ dự tính tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia đến năm 2020 không quá 50% GDP.

Tăng trưởng cao hơn 5 năm qua

Tổng nhu cầu vay của Chính phủ giai đoạn 2016-2020 từ 3.020-3.090 nghìn tỷ đồng, Chính phủ cho biết tại dự thảo kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 5 năm 2016 – 2020.

Đây là một trong số các tài liệu phục vụ kỳ họp thứ 10 của Quốc hội, khai mạc sáng 20/10.

Nam 2020: No cong Viet Nam khong vuot qua 50% GDP
Dư nợ vay nước ngoài của doanh nghiệp đến năm 2020 khoảng 52-53 tỷ USD

Trong mục tiêu tổng quát của 5 năm tới, Chính phủ vẫn đặt bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, phấn đấu tăng trưởng kinh tế cao hơn 5 năm trước lên hàng đầu.

Với các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu, Chính phủ xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 6,5-7%/năm. Với tốc độ tăng trưởng này tổng GDP theo giá thực tế 5 năm 2016-2020 đạt khoảng 33.840-34.250 nghìn tỷ đồng. Đến năm 2020, GDP bình quân đầu người khoảng 3.670-3.750 USD.

Các chỉ tiêu tiếp theo là tỷ trọng công nghiệp – xây dựng và dịch vụ trong GDP trên 75%. Kiểm soát lạm phát trong khoảng 5-7%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội bình quân 5 năm khoảng 31% GDP. Bội chi ngân sách nhà nước đến năm 2020 giảm xuống còn 4,8% GDP.

Yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng khoảng 30-35%. Năng suất lao động xã hội bình quân tăng 4-5%/năm. Tiêu hao năng lượng tính trên GDP bình quân giảm 1-1,5%/năm. Tỷ lệ đô thị hoá đến năm 2020 đạt 38-40%.

Dự báo các cân đối lớn, báo cáo cho biết tổng tổng số vốn đầu tư toàn xã hội trong kế hoạch 5 năm 2016-2020 theo giá thực tế dự kiến khoảng 10.506 nghìn tỷ đồng, bằng khoảng 31% GDP.

Trong kế hoạch 5 năm tới, Chính phủ dự kiến tỷ lệ huy động vào ngân sách Nhà nước trên GDP bình quân khoảng 20-21%, trong đó huy động từ thuế và phí khoảng 19-20% GDP.

Tổng thu cân đối ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 dự kiến khoảng 7.000 nghìn tỷ đồng. Quy mô thu ngân sách nhà nước giai đoạn này bằng khoảng 1,7 lần so với giai đoạn 2011-2015, báo cáo nêu rõ.

Chính phủ cũng cho biết quy mô chi ngân sách nhà nước giai đoạn 2016-2020 dự kiến khoảng 8.660 nghìn tỷ đồng, đạt trên 25% GDP, đến năm 2020 bằng khoảng 1,7 lần năm 2016 và bình quân 5 năm trên 1,6 lần so với giai đoạn 2011-2015.

Bội chi ngân sách Nhà nước dự kiến giảm dần đến năm 2020 khoảng 4,8% GDP (bình quân giai đoạn khoảng 4,9% GDP). Đến năm 2020, dư nợ công không vượt quá 65% GDP, dư nợ của Chính phủ không quá 55% GDP, dư nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Xác định ngưỡng nợ công phù hợp

Như đã nói ở trên, tổng nhu cầu vay của Chính phủ giai đoạn 2016-2020 từ 3.020-3.090 nghìn tỷ đồng. Trong đó vay bù đắp bội chi là 1.360 nghìn tỷ đồng, vay về cho vay lại khoảng 280 nghìn tỷ đồng, phần còn lại để trả nợ gốc đến hạn theo quy định.

Tổng mức vay ODA, vay ưu đãi của các nhà tài trợ nước ngoài đưa vào cân đối ngân sách nhà nước trong 5 năm tới là 250 nghìn tỷ đồng.

Dư nợ vay nước ngoài của doanh nghiệp đến năm 2020 khoảng 52-53 tỷ USD, trong đó: vay trung hạn, dài hạn khoảng 35-36,3 tỷ USD; dư nợ vay ngắn hạn khoảng 17 tỷ USD.

Tỷ lệ nợ nước ngoài của quốc gia đến năm 2020 không quá 50% GDP, Chính phủ dự tính.

Định hướng 5 năm tới, Chính phủ xác định sẽ hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật có liên quan đến quản lý nợ công cho phù hợp với Luật Ngân sách nhà nước 2015, Luật Đầu tư công 2014 và các luật khác mới ban hành.

Xác định ngưỡng nợ công phù hợp để tạo ra đòn bẩy tài chính hiệu quả của quốc gia, đảm bảo tính bền vững của chính sách tài khóa và tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế là nhiệm vụ tiếp theo được nêu tại báo cáo.

Đồng thời, Chính phủ xác định sẽ tính toán lại trần nợ công cụ thể cho từng năm trong giai đoạn 2016-2020 theo nguyên tắc số dư nợ công phải tương ứng với ngưỡng nợ công phù hợp của quốc gia và đảm bảo khả năng trả nợ trong từng thời kỳ của nền kinh tế.

Cơ cấu lại nợ công theo hướng tăng tỷ trọng nợ vay dài hạn, tăng tỷ trọng nợ vay trong nước để giảm áp lực trả nợ trong ngắn hạn và rủi ro nợ vay nước ngoài khi kinh tế, tài chính thế giới biến động. Tăng dần tỷ lệ cho vay lại, giảm dần tỷ lệ cấp phát, cũng là nhiệm vụ Chính phủ được Chính phủ đề cập.

Chính phủ cũng “hứa” sẽ siết chặt, tăng cường kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay. Có chế tài tăng cường sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa, đầu tư công và quản lý nợ công. Vay nợ tuân thủ chương trình quản lý nợ trung hạn, gắn kết chặt chẽ với phát triển kinh tế – xã hội, kế hoạch tài chính và đầu tư công trung hạn 5 năm đã được phê duyệt.

Theo VnEconomy

Doanh nghiệp muốn được vay ODA: Nhiều rủi ro

Thành Luân (BĐV) – Có nhiều nguyên nhân khiến công nghiệp hỗ trợ Việt Nam yếu kém. Doanh nghiệp khó vay ODA để kinh doanh doanh thương mại vì nó nằm ngoài phạm vi điều chỉnh.

Khó, không hợp lý

Phát biểu tại Diễn đàn Kinh tế Việt Nam – Nhật Bản vừa qua, lãnh đạo một doanh nghiệp đã kiến nghị dùng nguồn ODA hỗ trợ doanh nghiệp trong ngành công nghiệp hỗ trợ.

Cụ thể, nguồn vốn ODA hoặc vốn vay ưu đãi của Nhật Bản nên được dành một phần cho doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vực công nghiệp phụ trợ vay để đầu tư máy móc, thiết bị.

“Với mức lãi suất ưu đãi và thời gian vay dài, các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam sẽ có điều kiện đầu tư đáp ứng các yêu cầu cao của các doanh nghiệp Nhật Bản đang hoạt động tại Việt Nam. Vì các doanh nghiệp sẽ phải đầu tư mua máy móc, thiết bị từ Nhật Bản, theo chuẩn của các doanh nghiệp Nhật Bản”, vị lãnh đạo doanh nghiệp này đề nghị.

Doanh nghiep muon duoc vay ODA: Nhieu rui ro
Đề xuất cho doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ vay vốn ODA. Ảnh minh họa

Trao đổi với Đất Việt về đề nghị này, Ths Bùi Ngọc Sơn, Trưởng phòng Kinh tế Quốc tế, Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính trị Thế giới cho biết, nguồn vốn ODA thường dành cho các chương trình phát triển cơ sở hạ tầng, giáo dục… còn kinh doanh thương mại không thuộc phạm vi cho vay.

“Vốn vay ODA không phải là viện trợ thương mại và không dành cho các hoạt động có tính chất thương mại. Nếu cho vay, nó có thể tạo ra sự không công bằng với các doanh nghiệp khác trên thị trường bởi doanh nghiệp được vay ODA tức là vay ưu đãi với lãi suất thấp, còn doanh nghiệp khác muốn làm ăn phải vay với lãi suất cao.

Có thể có quốc gia nào đó sẽ đặt chuyện này vào chương trình phát triển của họ nhưng ở Việt Nam thì khó bởi doanh nghiệp vừa và nhỏ là doanh nghiệp đi theo ngạch thương mại nên phải vay thương mại. Còn trong vay thương mại có những chương trình nào đó để hỗ trợ là việc tổ chức của doanh nghiệp.

Các nước khác thường dành ra những ngân hàng hoặc các quỹ sẵn sàng hỗ trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tiếp cận nguồn vốn vay. Thậm chí sẽ không chỉ có doanh nghiệp vừa và nhỏ bởi ngành công nghiệp hỗ trợ không nhất thiết chỉ gồm những doanh nghiệp này.

Ví dụ như công nghiệp hóa chất, ngành luyện thép… vẫn được coi là ngành công nghiệp hỗ trợ. Ngành công nghiệp hỗ trợ được xác định là những ngành tạo ra các nguyên liệu và bán thành phẩm phục vụ cho quá trình sản xuất tiếp theo, nó có thể là những ngành có vốn rất lớn và phức tạp về công nghệ.

Bởi thế, nếu doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ muốn được vay ODA ít nhất phải xem lại định nghĩa ngành công nghiệp hỗ trợ thế nào và nó phải có một danh mục trong đó đưa những doanh nghiệp cần phải có một nền tảng lâu dài cho quốc gia phát triển thì may ra mới được”, ông Sơn nói.

Vị chuyên gia này cũng khẳng định, nếu đề xuất doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ được vay ODA thành hiện thực sẽ có nhiều rủi ro.

“Các nước cho vay vốn ODA với lãi suất ưu đãi là để nước tiếp nhận nguồn vốn này xây dựng cơ sở hạ tầng, chúng sẽ thành đường sá, đập nước, nhà máy điện… hoặc để quốc gia đó đầu tư cho lĩnh vực giáo dục tạo ra nguồn nhân lực. Đây là những thứ có tính chất trường tồn và là nền tảng cho phát triển của quốc gia trong tương lai.

Phía nước cho vay vốn ODA có thể tận mắt trông thấy sản phẩm, biết được tiền của họ đã làm được cụ thể bao nhiêu km đường bộ, đường sắt, bao nhiêu nhà máy điện.., biết được chúng góp phần làm nền tảng cho kinh tế nước vay phát triển thì họ sẵn sàng chi tiền trực tiếp cho chương trình đó”, ông Sơn nói.

Trở lại với đề xuất trên, ông Sơn cho rằng không hợp lý và rất khó để thực hiện bởi vay như thế không khác gì đánh cược, bản thân doanh nghiệp cũng không có gì để bảo đảm. Vụ Vinashin là một bài học nhãn tiền.

Vào năm 2005, Chính phủ đã phát hành 750 triệu USD trái phiếu quốc tế. Theo phương án phát hành, số trái phiếu này sẽ đến hạn trả nợ gốc và lãi vào năm 2016.

Tuy nhiên, Chính phủ đã cho Vinashin vay lại toàn bộ số trái phiếu nói trên và tập đoàn này hầu như không có khả năng trả nợ.

 Đến năm 2014, Chính phủ đứng ra phát hành trái phiếu quốc tế trị giá 1 tỷ USD để đảo nợ các khoản vay sắp đến hạn với lãi suất thấp hơn. Chi tiết khoản vay như thế nào không rõ nhưng khoản vay trái phiếu quốc tế đến hạn phải trả gần nhất chính là 750 triệu USD nói trên.

Và ngay từ năm 2013, khi Chính phủ yêu cầu Bộ Tài chính đứng ra phát hành trái phiếu đảo nợ cho khoản vay 600 triệu đô la Mỹ cũng của Vinashin, thì cũng đồng thời yêu cầu bộ này chuẩn bị phương án đảo nợ tương tự cho khoản vay 750 triệu USD, nói khác đi là trả thay cho Vinashin.

Công nghiệp hỗ trợ yếu kém không chỉ vì thiếu vốn

Theo ông Bùi Ngọc Sơn, trên thế giới, đối với kinh tế tư nhân thường có các quỹ đầu tư mạo hiểm sẵn sàng đứng ra cho vay. Với các doanh nghiệp mới thành lập, thường là doanh nghiệp vừa và nhỏ, thiếu vốn, tiếp cận hệ thống ngân hàng khó khăn vì không có gì chứng minh được tương lai sẽ làm ăn đến đâu, khách hàng thế nào…, các nhà cho vay vốn mạo hiểm sẽ đến tận nơi xem xét, đánh giá rồi cho vay.

Có nhiều hình thức cho vay hoặc cho vay không hoặc cấp vốn cho doanh nghiệp và quỹ đó trở thành cổ đông trong doanh nghiệp để kiểm soát vốn vay. Khi doanh nghiệp làm ăn trôi chảy, có thị trường, có thương hiệu thì quỹ đầu tư hoặc tiếp tục giữ cổ phần trong doanh nghiệp hoặc bán cổ phần ra kiếm lời

“Nhưng vì Việt Nam không tạo dựng các hành lang pháp lý rõ ràng cho các thị trường như thế nên các công ty không biết trông vào nguồn vốn nào. Các quỹ đầu tư mạo hiểm muốn cho vay phải có nền tảng pháp lý rõ ràng, còn dùng vốn ODA cho vay thế này thì rất khó.

Làm ăn thương mại thì phải vay bên ngoài, còn chính phủ đặt ra bao nhiêu quỹ, tiền hỗ trợ doanh nghiệp hoặc thiết lập thị trường cho doanh nghiệpvận hành tốt đó là việc quản trị quốc gia phải làm”.

Bởi thế một lần nữa ông Sơn nhận định, để đề xuất cho doanh nghiệp ngành công nghiệp hỗ trợ vay ODA thành hiện thực sẽ rất khó bởi biện minh phức tạp, người cho vay cũng không có cơ sở gì để đồng ý và rất khó giám sát.

Một vấn đề khác cũng được ông Bùi Ngọc Sơn chỉ ra, đó là công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam yếu kém không chỉ do thiếu vốn.

“Trước đây người ta đã nói nhiều về việc công nghiệp hỗ trợ Việt Nam vì sao cứ thất bại mãi mà không xây dựng được. Đó là vì chính sách phát triển công nghiệp của Việt Nam không rõ ràng, hay thay đổi, không mạch lạc, đặc biệt chính sách tỷ giá làm đồng Việt Nam cao quá. Việt Nam lại nằm ngay cạnh Trung Quốc, đất nước rất giống Việt Nam về cấu trúc kinh tế, lại đi trước 10 năm và họ đã nhiều lần phá giá đồng nhân dân tệ.

Do đó, tất cả các mặt hàng nguyên liệu, phụ liệu, bán thành phẩm thuộc công nghiệp hỗ trợ nhập từ Trung Quốc về rẻ hơn rất nhiều so với sản phẩm sản xuất tại Việt Nam. Điều đó khiến doanh nghiệp Việt hễ làm ra cái gì là không thể bán được.

Tóm lại, công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam không phát triển được là do những yếu kém về chương trình phát triển công nghệp, thuế hay các hỗ trợ hành chính cho ngành hàng đó, yếu kém, sai lầm trong vấn đề sử dụng chính sách tỷ giá…

Có rất nhiều nguyên nhân khiến công nghiệp hỗ trợ Việt Nam yếu kém mà vốn chỉ là một phần, do đó phải xem xét tất cả những khía cạnh này. Nếu doanh nghiệp ở trong một môi trường hoạt động chính sách còn yếu, chưa rõ ràng, minh bạch, chính sách tỷ giá luôn làm doanh nghiệp thua thiệt thì khi doanh nghiệp đi vay làm sao ai dám cho vay? Bây giờ vay thương mại không chịu nổi lại muốn vay ODA lãi suất thấp để làm ăn, nguồn vốn lẽ ra dùng cho các chương trình phát triển khác lại không có nữa thì làm sao được?”, ông Sơn bày tỏ.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s