Tăng lương công chức: “Vấn đề là ngân sách không có”

Posted: October 22, 2015 in Uncategorized
Tags:

Nguyên Vũ /VnEconnomy (cafeland.vn) – Đầu tháng 10, tại phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, khi Chính phủ không đề cập kế hoạch điều chỉnh lương cơ sở trong năm tới, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân đã yêu cầu cân nhắc và giải trình cụ thể vì việc kéo lùi lộ trình tăng lương đã quá lâu.

� Xem thêm: Phải chấm dứt lấy tiền nhà nước đi du lịch nước ngoài, gắn mác nghiên cứu + “Hậu” dự án Vinashin tại Quảng Ninh: Những nhà máy nghìn tỉ bỏ hoang.


Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi.

Bởi theo bà, nếu 2016 tiếp tục không tăng, thì đây sẽ là năm thứ 4 liên tục lương cơ sở được duy trì ở mức 1.150.000 đồng/tháng.

Tuy nhiên, chiều 20/10, báo cáo Quốc hội về dự toán ngân sách 2016, Bộ trưởng Bộ Tài chính Đinh Tiến Dũng cho biết không có nguồn để tăng lương cơ sở trong năm tới.

Cụ thể, dự toán ngân sách nhà nước năm 2016 phải tiếp tục bù để điều chỉnh tăng 8% lương hưu, trợ cấp ưu đãi người có công; tiền lương đối với những đối tượng công chức, viên chức có thu nhập thấp và bố trí thêm 1.500 tỷ đồng để điều chỉnh tăng lương đối với những người có mức lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hiện dưới 2 triệu đồng.

Một ngày sau đó, câu chuyện về tính hợp lý của việc có thể 4 năm liền lương không tăng đã được báo chí đặt ra với Phó chủ nhiệm Ủy ban Về các vấn đề xã hội Bùi Sỹ Lợi – một thành viên của Hội đồng Tiền lương Quốc gia

“Việc tăng lương cơ sở bản thân tôi đã nói không phải là một lần, mà kỳ họp nào tôi cũng hô hào nói về tiền lương cơ sở, vì đây chính là nguồn đảm bảo nhu cầu sống tối thiểu cho người lao động”, ông Lợi nói.

Đại biểu Lợi cũng giải thích, khu vực doanh nghiệp thì ta đã áp dụng bằng Bộ luật Lao động (điều 90, 91, 92) rồi, do cơ chế 3 bên quyết định và tư vấn cho Chính phủ cho phép được điều chỉnh lộ trình và 2017, 2018 thì hoàn toàn có thể đáp ứng được yêu cầu tiền lương tối thiểu của khu vực doanh nghiệp. Nếu 2016 nâng lên 12,4% thì đã bằng xấp xỉ 80% rồi, còn lộ trình 2017, 2018 nữa thì chắc chắn là đạt được.

Lưu ý là không thể so sánh lương cơ sở với lương tối thiểu của khối doanh nghiệp (vì bản chất lương tối thiểu chính là mức sống tối thiểu của người lao động còn lương cơ sở đối với khu vực nhà nước là mức để tính lương theo hệ số cụ thể) nhưng ông Lợi cũng cho rằng, nếu lấy mức lương cơ sở hiện nay là 1.150.000 đồng/tháng nhân với hệ số áp dụng với cử nhân đại học là 2,34, thì cũng chỉ được gần 2,7 triệu đồng.

Đây là mức tương đương với mức lương tối thiểu ở vùng 1 của khu vực sản xuất kinh doanh (3,1 triệu đồng). Với mức lương này, rõ ràng cuộc sống của cán bộ công chức rất khó khăn.

“Vậy nên nếu điều kiện mà cải cách, nâng được tiền lương cơ sở cho khu vực công chức thì đó chính là đòn bẩy để tăng năng suất lao động”, ông nói.

Tuy nhiên, đại biểu Lợi cũng bày tỏ chia sẻ với lý do chưa thể tăng lương, trước hết là do ngân sách chưa đáp ứng được mà tiền lương khu vực này là hoàn toàn do ngân sách chi trả, không như với khu vực sản xuất kinh doanh thực hiện lương thỏa thuận.

“Vấn đề là ngân sách, ngân sách không có, trong khi ta liên tục nói thực hiện tinh giản biên chế, cải cách thủ tục hành chính, giảm nhẹ bộ máy, nhưng cho đến nay bộ máy của ta vẫn chưa cải cách, tinh giản được gọn nhẹ và năng suất lao động của khu vực công rõ ràng đang có vấn đề. Người ta vẫn đang nói một bộ phận cán bộ viên chức năng suất làm việc thấp, chất lượng công việc không tốt… thì làm sao chúng ta cải cách được tiền lương?”, ông Lợi nhấn mạnh.

Vị đại biểu này cũng cho rằng rất may là những năm gần đây lạm phát được kìm chế , cả năm nay chỉ khoảng 2%.

“Điều chỉnh lương cơ sở bây giờ trong khi ngân sách không cân đối được, thì một là phải tăng nợ công lên, hai là phải vay để cải cách tiền lương. Nếu thế mà xử lý đồng tiền không hợp lý, để lượng tiền trong lưu thông lớn lên thì giá cả lại tăng lên, và như thế tăng lương để giải quyết vấn đề gì?”, ông Lợi đặt vấn đề

Trong bối cảnh đó, theo ông Lợi, giữ tiền lương cơ sở nhưng bằng các biện pháp để kìm chế tăng giá thì có lợi hơn cho người làm công hưởng lương, bởi giá không lên thì đời sống cũng đỡ khó khăn.

“Nhưng thực sự là nếu chỉ số giá tiêu dùng tăng lên chút nữa mà không cải cách tiền lương thì đời sống của cán bộ công nhân viên chức rất khó giải quyết”, ông Lợi vẫn băn khoăn.

Và theo ông, Chính phủ phải tính đến một biện pháp toàn diện là cải cách toàn bộ hệ thống lương khu vực công, thang bảng lương để đảm bảo nguyên tắc phần lương chính chiếm 70% trở lên của toàn bộ thu nhập, phần phụ phải được cắt giảm xuống dưới 30%.

Vì thực tế hiện nay là trong cơ cấu thu nhập của cán bộ công chức viên chức, “phần cứng thậm chí thấp hơn cả phần mềm”.

Phân tích nhiều chiều, song Phó chủ nhiệm Bùi Sỹ Lợi vẫn kiên trì quan điểm về lâu dài, dứt khoát phải thực hiện việc nâng lương cơ sở theo đúng lộ trình. Khi năng suất lao động tăng lên thì tiền lương nhất thiết phải tăng theo để tiền lương đúng với ý nghĩa của nó – là đòn bẩy để tăng năng suất lao động.

Phải chấm dứt lấy tiền nhà nước
đi du lịch nước ngoài, gắn mác nghiên cứu

Ngọc Quang (GDVN) – Đại biểu Quốc hội Trần Du Lịch: “Chúng ta đừng biến những chuyện đi nghiên cứu nước ngoài để đi du lịch cá nhân nhưng nhà nước trả tiền”.

Trước tình hình ngân sách gặp nhiều khó khăn, chưa cân đối được nguồn để tăng lương, Đại biểu Trần Du Lịch cho rằng, Chính phủ phải mạnh tay cắt giảm các khoản chi cho tiếp khách, hội họp, đi nước ngoài, bởi vì bộ máy vẫn phình ra và chi quá nhiều.

Ông Lịch lưu ý, hàng chục năm qua, thu chỉ đủ chi thường xuyên, còn đầu tư phải đi vay, cho đến giờ dù tình hình rất khó khăn nhưng dứt khoát không thể vay để tăng lương.

Ông Lịch nói thẳng: “Chúng ta đừng biến những chuyện đi nghiên cứu nước ngoài để đi du lịch cá nhân nhưng nhà nước trả tiền. Chừng nào bộ máy hành chính không có những khoản dự toán để chi tiếp khách, hội họp như nước ngoài đã làm thì mới tăng lương được”.

Về vấn đề này, đã nhiều lần các Đại biểu Quốc hội lên tiếng yêu cầu phải chấn chỉnh, nhằm tránh thất thoát, lãng phí cho ngân sách nhà nước, bởi suy cho cùng khi ngân sách nhà nước thiếu hụt, gánh nặng sẽ đặt lên vai người dân nhiều hơn.

Chính phủ cũng đã nhiều lần yêu cầu các bộ ngành, địa phương hạn chế công tác nước ngoài, nhằm tiết kiệm ngân sách cho các hoạt động thiết thực với đời sống của nhân dân. Thậm chí vào tháng 11/2012, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có công văn hỏa tốc yêu cầu các bộ ngành, địa phương quản lý chặt chương trình đi công tác nước ngoài theo phương châm tiết kiệm, hiệu quả và không ảnh hưởng đến thời gian thực hiện các nhiệm vụ trong nước.

Còn nhớ, trong một buổi họp của Chính phủ vào chiều 24/12/2013, Phó Thủ tướng – Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh cho biết, việc quá nhiều đoàn của các bộ, ngành, địa phương liên tiếp đi công tác nước ngoài dẫn tới sự trùng lặp, lãng phí không cần thiết.

“Nhiều nước bạn phản hồi, có nhiều vấn đề vừa trả lời đoàn này, một thời gian ngắn sau lại có đoàn khác sang hỏi câu tương tự”, Phó Thủ tướng cho biết.

Năm 2012 tổng số có 3.780 đoàn của các bộ, ngành đi nước ngoài. Như vậy, tính trung bình một ngày có tới 6 đoàn đi công tác nước ngoài. Sang năm 2013 tuy có giảm nhưng số lượng còn lớn, tới 3.200 đoàn.

Phó Thủ tướng nhận định: “Vấn đề ở chỗ, các đoàn đi về cơ bản thúc đẩy tăng cường quan hệ có hiệu quả, nhưng có những đoàn đi lại không mang lại hiệu quả, bị trùng lặp nội dung tham quan, nghiên cứu. Số đoàn này chủ yếu là các đoàn đi với tư cách nghiên cứu. Nhiều nước bạn phản hồi, có nhiều vấn đề vừa trả lời đoàn này, một thời gian ngắn sau lại có đoàn khác sang hỏi câu tương tự. Điều này gây nên sự lãng phí tiền của đất nước”.

Qua báo cáo trên, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một lần nữa đề nghị các bộ, ngành, địa phương hết sức chú ý, tăng cường quản lý chặt chẽ vấn đề này: “Tôi nghe báo cáo có nước bạn thấy đoàn Việt Nam đến người ta sợ. Các đồng chí phải xem lại cái này, đi quá trời thế này, dù có giảm nhưng còn tới 3.200 đoàn thế này là rất lớn”.

Cùng chung tâm trạng lo lắng cho ngân sách quốc gia, Đại biểu Nguyễn Thị Quyết Tâm chỉ rõ, cải cách chính sách tiền lương có liên quan đến bộ máy cồng kềnh, chức năng nhiệm vụ chưa rõ, năng lực của từng vị cán bộ hạn chế. Các giải pháp đổi mới chưa đủ mạnh nên chưa thu được kết quả như mong muốn.

Theo bà Tâm: “Muốn tăng lương phải cải tổ bộ máy, còn bộ máy như hiện nay thì không có người dân nào nuôi nổi”.

Trong khi đó, Đại biểu Nguyễn Văn Minh cho biết, khi tiếp xúc cử tri vào năm 2014 có nói rằng cố gắng chờ 2015 sẽ tăng lương, nhưng chuẩn bị sang năm 2016 rồi mà Chính phủ vẫn chưa cân đối được nguồn để tăng lương nên không biết phải trả lời cử tri thế nào?

“Giá cả nhiều mặt hàng thiết yếu đang thực hiện cơ chế kinh tế thị trường sẽ tăng lên, lương không tăng người dân biết trông vào đâu? Vì vạy, dù kinh tế khó khăn thì năm 2016 cũng phải cố gắng tăng lương một mức hợp lý”, Đại biểu Minh đề nghị.

Cách đây hai kỳ họp, Đại biểu Đặng Ngọc Tùng – Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam cũng đã cảnh báo: “Trong khu vực hưởng lương từ ngân sách nhà nước, chúng tôi cho rằng Chính phủ đã thông qua lộ trình và hiện nghị quyết của Trung ương đã thông qua.

Nhưng bây giờ chúng ta lại đặt ra vấn đề kinh tế khó khăn quá, không thực hiện theo lộ trình này thì hỏi những người lao động hưởng lương thấp, cán bộ công chức hưởng lương thấp như hiện nay thì làm sao họ đủ sống. Mà không đủ sống thì cán bộ công chức lại gây khó khăn cho doanh nghiệp, lại vui vẻ nhận phong bì bôi trơn, gây khó khăn cho người dân. Chính nguy cơ này còn lớn hơn nữa”.

Trong khi đó, ông Đỗ Văn Đương – Ủy viên Thường trực Ủy ban Tư pháp đề nghị Chính phủ nên có nghị quyết chuyên đề về siết chặt kỷ cương, kỷ luật tài chính và kỷ luật thu chi ngân sách, kể cả trung ương và địa phương. Cương quyết thu hồi các khoản chi sai mục đích, tổ chức kiểm điểm và truy cứu trách nhiệm người mắc sai phạm phải mạnh mẽ hơn trước. Thực hiện chính sách “thắt lưng buộc bụng”, hạn chế tối đa hội nghị, hội họp, lễ hội, giảm thiểu tối đa các đoàn ra nước ngoài.

Phải công khai danh tính dự án nào, công trình nào lãng phí, dở dang để quy trách nhiệm xử lý, chứ cứ để thế này nói gì thì nói thì chỉ là sự rung động trong không khí.

“Hậu” dự án Vinashin tại Quảng Ninh:
Những nhà máy nghìn tỉ bỏ hoang

Trần Ngọc Duy (VNTB) theo Lao Động – Nhà máy cán thép tấm nóng khổ rộng đầu tiên của Việt Nam có công suất 500.000 tấn/năm giá trị gần 2.900 tỉ đồng chỉ hoạt động duy nhất một lần cách đây 5 năm, sau đó bị bỏ mặc hoang tàn từ đó đến giờ. Cách đó không xa, môt nhà máy phát điện diesel công suất 39MW cũng trong KCN Cái Lân (TP.Hạ Long, Quảng Ninh) có vốn đầu tư 36 triệu USD cũng chung cảnh ngộ. Đó là những dự án nghìn tỉ hiện đang chịu cảnh bỏ mặc từ sau đại án Vinashin.


Dây chuyền nhà máy cán thép nóng khổ rộng Cái Lân dừng hoạt động hơn 5 năm.

Nhà máy không một bóng công nhân

Cỏ lau vây kín cao gấp hai đầu người, hoang tàn, sắt thép hoen gỉ và bám bẩn là cảm nhận đầu tiên khi chúng tôi trở lại nhà máy (NM) cán thép tấm nóng khổ rộng nhất Việt Nam và NM phát điện diesel tại KCN Cái Lân (TP. Hạ Long) sau hơn 5 năm bị bỏ mặc. Trong khu vực nhà máy rộng hàng chục hecta, không một máy móc, thiết bị nào hoạt động và cũng chẳng có một bóng dáng công nhân. Toàn bộ giàn máy các loại trong một nhà xưởng rộng mênh mông bị phủ bụi và hoen gỉ.

Theo lãnh đạo Cty cán nóng thép Cái Lân: Toàn bộ NM thép cán nóng khổ rộng đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam tính đến thời điểm này phục vụ đóng tàu công suất 500.000 tấn/năm được đầu tư với trị giá gần 2.900 tỉ đồng và được vận hành chạy thử, cho ra mẻ thép tấm đầu tiên đạt yêu cầu vào tháng 1.2010. Từ đó đến nay, lò luyện luôn trong tình trạng tắt ngấm và không thể bàn giao cho phía Cty cán nóng thép Cái Lân do những “bê bối” của Tập đoàn Vinashin. “Thỉnh thoảng một nhóm nhân viên bảo trì của tổng thầu là Cty CP công nghiệp nặng Cửu Long qua làm nhiệm vụ kiểm tra, bảo trì, nhưng vẫn không thể giúp NM tránh bị hủy hoại, xuống cấp do lâu ngày không hoạt động” – một nhân viên nữ ở Cty cán nóng thép Cái Lân lo lắng.

Nằm cánh đó vài trăm mét là NM phát điện diesel công suất 39MW cũng tắt ngấm lò. Dự án khi đó được chủ đầu tư Vinashin (nay là TCty Công nghiệp tàu thủy) ký hợp đồng EPC (chìa khóa trao tay) với trị giá 35,95 triệu USD với một đối tác nước ngoài. Khi chưa kịp phân phối vào lưới điện quốc gia và cung cấp cho NM cán nóng thép Cái Lân, vị Chủ tịch Cty công nghiệp tàu thủy Cái Lân khi đó là ông Tô Nghiêm bị cơ quan điều tra bắt giữ và đưa ra xét xử trong vụ án Vinashin. Chỉ khi đó, người ta mới biết là thiết bị chính của NM phát điện diesel được tháo dỡ từ một NM điện cũ sử dụng từ thập niên 70 của thế kỷ trước tại Trung Quốc.


Nhà máy phát điện diesel nằm kề Nhà máy thép Cái Lân
cùng chung cảnh ngộ tương tàn. Ảnh:TRẦN NGỌC DUY

Bế tắc hồi sinh

Do khó khăn kinh tế sau sự “sụp đổ” của Tập đoàn Vinashin, TCty Công nghiệp tàu thủy (SBIC) được thành lập trên cơ sở kế thừa Tập đoàn Vinashin. Do đó, 2 NM này thuộc quyền quản lý của SBIC. Tiếc rằng, nhiều năm trôi qua, giải pháp hồi phục các NM công nghiệp trên vẫn bế tắc. Ông Hoàng Việt Văn – Giám đốc Cty cán nóng thép Cái Lân – cho biết: “TCty lập ra tổ công tác tái cơ cấu đề xuất các giải pháp trình Bộ GTVT. Không những vậy, phía tổng thầu Cửu Long cũng gửi công văn lên bộ đề nghị được thuê lại NM để sản xuất thép tấm nhưng chưa có phản hồi tích cực. “Do NM cán thép đang mắc khoản nợ chủ yếu từ nguồn trái phiếu chính phủ và một số ngân hàng đang là rào cản, dẫn đến “bế tắc” phương án phục hồi sản xuất” – ông Văn lý giải. Cũng theo vị này, chỉ cần bảo dưỡng, khởi động chạy lại NM ở mức tối thiểu với số tiền ban đầu trên 100 tỉ đồng, NM cán thép Cái Lân có thể “hồi sinh” trở lại và cung cấp nguồn thép tấm khổ rộng cho các đơn vị đóng tàu trong nước. Tuy nhiên, ước mơ đó còn quá xa vời, trong khi những gánh nặng về tài chính sau sự vụ Vinashin đang còn đó, để lại hậu quả nghiêm trọng cho đơn vị tiếp quản là SBIC.

Khả năng trở lại sản xuất của NM phát điện diesel cũng hoàn toàn mờ mịt. Do nhập công nghệ lạc hậu nên có hoạt động cũng không thể đủ bù chi phí mua dầu chạy máy chứ chưa nói đến chuyện vay nợ. Hiện toàn bộ công nợ và tài sản của NM điện đang bị phong tỏa theo chỉ đạo của Chính phủ. “Chúng tôi là một trong số ngân hàng hiện còn dư nợ trên 200 tỉ đồng nhưng theo chỉ đạo, một phần được chuyển sang trái phiếu thanh toán, phần lớn còn lại ngân hàng đưa vào xử lý quỹ rủi ro dự phòng. Trông chờ phía Cty công nghiệp tàu thủy Cái Lân thanh toán… thì chưa biết đến bao giờ” – lãnh đạo Agribank chi nhánh Quảng Ninh tỏ ra ngao ngán .

Như vậy, sau hơn 5 năm bỏ không, các NM trị giá hàng nghìn tỉ đồng đang xuống cấp nghiêm trọng, trong khi theo đại diện Cty đóng tàu Hạ Long, toàn bộ nguồn thép đóng tàu trong nước đang phải nhập khẩu 100% khiến ngành công nghiệp đóng tàu Việt Nam gặp rất nhiều bất lợi về giá thành và tỉ lệ nội địa hóa, do mỗi năm phải chi ra hàng chục triệu USD nhập khẩu thép tấm. Dư luận đòi hỏi cơ quan chủ quản là Bộ GTVT sớm có phương án đề xuất Chính phủ và các bộ, ngành nhằm khôi phục sản xuất nhà máy cán thép lớn nhất Việt Nam ở thời điểm này.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s