Bà Phạm Chi Lan: “Ngân sách đã khó khăn đến mức tận diệt DN”

Posted: October 24, 2015 in Uncategorized
Tags:

Hoàng Long (BVN) theo Một Thế Giới – Theo chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan, ngân sách hiện nay đã không còn tiền để đầu tư và đây là điều nguy hiểm. Ngân sách khó khăn đến mức “tận diệt” doanh nghiệp chứ không phải là tận thu nữa, nhiều doanh nghiệp không còn sức để làm ăn.

� Xem thêm: 4 vấn đề của kinh tế Việt Nam đằng sau những con số đẹp + 10 tên tuổi nổi nhất Việt Nam có giá 5,5 tỷ USD + 50 thương hiệu lớn nhất Việt Nam chưa bằng 1/2 thương hiệu Malaysia.

Ngân sách hết tiền đầu tư

Ngày 23.10, Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã tổ chức Hội thảo Công bố báo cáo kinh tế vĩ mô quý III/2015.

Theo đó, báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã chỉ ra những vấn đề bất cập về kỷ luật ngân sách Nhà nước (NSNN).

Cụ thể, báo cáo cho  biết, Nhà nước chưa quyết liệt trong tiết kiệm chi NSNN và đầu tư, chưa có kế hoạch trả nợ cụ thể, chưa quan tâm đến việc giảm “chèn lấn” đối với khu vực tư nhân. Trong khi đó lại loay hoay trước áp lực tài khóa, áp lực nợ công gần chạm trần.

Theo ông Nguyễn Anh Dương – Phó trưởng ban Ban Kinh tế vĩ mô (Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương), chúng ta nói nhiều đến vấn đề giảm chi nhưng rất nhiều dự án đầu tư công trong thời gian qua có hiệu quả kinh tế rất thấp. Thay vì đầu tư vào những dự án đạt hiệu quả kinh tế thì lại đầu tư vào cái không hiệu quả.

Ông Dương cho hay, về nợ công, cuối năm 2012, Việt Nam đã nâng trần lãi suất lên 5,3% nhưng khi quyết toán xong thì con số lên cao hơn nhiều.

“Như vậy, con số của năm nay liệu có đúng như báo cao hay lại tiếp tục tăng cao?”, ông Dương đặt câu hỏi.

Còn theo chuyên gia kinh tế  Phạm Chi Lan, ngân sách không còn tiền để đầu tư, đây là điều nguy hiểm. Ngân sách khó khăn hiện nay đã đến mức “tận diệt” doanh nghiệp chứ không phải là tận thu nữa, nhiều doanh nghiệp không còn sức để làm ăn. Hội nhập đến cửa nhưng các cơ quan quản lý vẫn bình chân như vại.

“Nhà nước tận thu như thế này thì làm sao có được tăng trưởng bền vững bởi vì nguồn thu của ngân sách là các doanh nghiệp lại không được chăm sóc, tạo điều kiện phát triển” – bà Lan nhấn mạnh.

Bà Lan nói thêm, năm nay cải thiện tình hình kinh tế vĩ mô nhưng số lượng doanh nghiệp “chết” rất nhiều, không thua kém năm 2011. Đây là điều phải xem lại. Quan hệ giữa Nhà nước với thị trường cần phải thay đổi rất nhiều.

Bà Lan cũng băn khoăn rằng, tình hình trên cứ tiếp tục thì liệu các nhà đầu tư nước ngoài có khai thác mãi thị trường Việt Nam khi nền kinh tế Việt Nam ngày càng què quặt và kém phát triển không?

“Trong bối cảnh thế này đáng ra phải giảm thuế, phí cho doanh nghiệp, người dân thuận lợi hơn trong phát triển thì Nhà nước lại thắt chặt và tăng thu”, bà Lan nói.

Bên cạnh đó, ông Lê Xuân Bá – nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cũng cho hay, Việt Nam đang vay đồng nào, làm ra đồng nào tiêu hết đồng đó, không có cái để dành cho đầu tư phát triển. Ngân sách hết tiền, thế giới không ai cho vay mãi nên tình trạng này rất nguy hiểm.

Ngoài ra, ông Bá cũng nói thêm điều mà theo ông, ít quan chức dám nói. Đó là chúng ta hơi thái quá về chi tiêu xã hội trong điều kiện kinh tế như thế này.

“Thường có 10 đồng thì chi xã hội khoảng 2 đồng. Cứ mạnh tay chi tiêu xã hội coi chừng rơi vào bẫy xóa đói giảm nghèo, cứ có đồng nào xóa đói giảm nghèo hết thì sẽ không còn cái mà xóa đói giảm nghèo nữa”, ông Bá nói.

Đồng tình với ý kiến của các chuyên gia, ông Nguyễn Đình Cung – Viện trưởng Viện Nghiên cứu Kinh tế Trung ương cũng cho hay, hiện nay trong ngân sách không có đầu tư phát triển. Chúng ta đang vi phạm nguyên tắc vàng trong đầu tư phát triển.

“Hội nhập, cả thế giới nâng thị trường lên, thúc đẩy, khuyến khích còn Việt Nam cứ đè thị trường xuống với tư duy thanh tra, kiểm tra, kiểm soát thì không ổn. Tư duy như thế cần phải  thay đổi, nếu Nhà nước không thay đổi thì thị trường không lên được, sẽ không kết nối được với thị trường các nước. Thay đổi này là cốt lõi của cải cách. Điểm này là điểm chúng ta ít nói đến”, ông Cung cho hay.

Nguyên nhân và giải pháp

Ngoài nguyên nhân do sức ép thông qua quyết toán và dự án đầu tư công tràn lan, còn có một nguyên nhân sâu xa khác là chưa quyết liệt trong tiết kiệm chi NSNN và đầu tư.

Bên cạnh đó, Việt Nam chưa có kế hoạch trả nợ cụ thể và chưa quan tâm đến giảm “chèn lấn” đối với khu vực tư nhân.

Trên cơ sở đó, báo cáo của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã đưa ra những kiến nghị về chính sách.

Cụ thể, về cải cách nền tảng kinh tế vĩ mô, chúng ta cần tạo thuận lợi hóa cho môi trường kinh doanh và cả thiện năng lực cạnh tranh (chuyển tinh thần Nghị quyết 19 thành kết quả thực tiễn trong quý IV). Hướng dẫn các luật DN, đầu tư có chất lượng và kịp thời. Theo dõi, rà soát diễn biến và hành vi cạnh tranh trên thị trường.

Về Chính sách tiền tệ cần phải ưu tiên cao nhất cho tái cơ cấu ngân hàng thương mại. Mục tiêu ưu tiên là tập trung xử lý nợ xấu.

Về chính sách tài khóa, báo cáo cho rằng khó giảm tính chi phối của chính sách tài khóa trong thời gian ngắn. Tuy nhiên, điều hành tài khóa cần cân nhắc hơn đến hệ lụy, thách thức khi điều hành các công cụ chính sách như tiền tệ, tỷ giá, tín dụng…

Bên cạnh đó là xây dựng và công khai kế hoạch trả nợ công trong trung và dài hạn. Cân nhắc việc khống chế trần thâm hụt NSNN trong giai đoạn 2016-2020 ở mức 4% GDP.

Song song với đó, báo cáo kinh tế này cũng đưa ra triển vọng kinh tế vĩ mô quý IV và cả năm 2015.

Cụ thể: tăng trưởng GDP quý IV sẽ đạt 6,83%, cả năm 2015 là 6,61% so với cùng kì năm 2014. Mục tiêu lạm phát quý IV và cả năm lần lượt là 0,28% và 0,68%.

Tăng trưởng xuất khẩu quý IV và cả năm lần lượt là 10,38% và 9,66%. Cán cân thương mại -0,5 tỷ USD và -4,5 tỷ USD.

4 vấn đề của kinh tế Việt Nam đằng sau những con số đẹp

(VNTB) Theo Tri Thức Trẻ – CIEM tính toán: GDP Quý IV của Việt Nam sẽ ở mức 6,83%. Dự tính GDP 2015 sẽ ở mức 6,61%. Tất cả các mục tiêu kinh tế năm 2015 đều có khả năng đạt được ở mức cao, trừ mục tiêu Xuất khẩu.

“Khả năng đạt được mục tiêu tăng trưởng GDP 2015 ở mức cao”, ông Nguyễn Anh Dương – Phó Trưởng ban Kinh tế vĩ mô, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM), nhận định.

Mức tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là con số được bàn cãi nhất từ đầu năm, khi mức tăng GDP Quý I ở mức 6,03% – mức gây shock cho các Bộ trưởng, kể cả Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Bùi Quang Vinh.

Quý II và Quý III, mức tăng của GDP tiếp tục vượt dự báo của các tổ chức quốc tế, lần lượt ở mức 6,44% và 6,81%.

CIEM dự tính: GDP Quý IV của Việt Nam sẽ ở mức 6,83% và GDP 2015 sẽ ở mức 6,61%.

Mức này vượt xa mục tiêu tăng trưởng GDP 6,2% mà Chính phủ đặt ra từ đầu năm, vượt xa mức dự báo của các tổ chức quốc tế như Ngân hàng Thế giới ( World Bank dự báo tăng trưởng GDP Việt Nam ở mức 6,2%), và nhỉnh hơn so với dự báo của Ngân hàng Phát triển Châu Á ( ADB dự báo tăng trưởng kinh tế ở mức 6,6%).

Dự báo các mục tiêu kinh tế khác cũng đạt kỳ vọng, trừ Mục tiêu Xuất khẩu.

Bên cạnh đó, ông Dương cũng cảnh báo: Nhìn lướt qua thì các con số về kinh tế vĩ mô tương đối tốt, nhưng nhìn sâu xa hơn thì tăng trưởng này là một vấn đề.

“Số đơn đặt hàng tháng 9 giảm, ngay cả số đơn đặt hàng tháng 8 đã thấp hơn so với tháng trước. Chỉ số Nhà quản trị mua hàng ( PMI ) đang có đà tăng chậm lại”, ông Dương nói.

Ngoài ra, một loạt lĩnh vực khác đang có dấu hiệu đáng lo ngại.

– Khu vực nông – lâm nghiệp – thủy sản: Sản xuất ngày càng giảm. Các báo cáo của Tổng cục Thống kê hàng tháng đều chỉ ra diện tích canh tác, trồng lúa đều giảm so với năm trước. Điều này cho thấy sản xuất nông nghiệp tương đối bị ảnh hưởng, có thể bị ảnh hưởng cạnh tranh từ việc gia nhập các hiệp định thương mại tự do (FTA), do cạnh tranh của ngành nông nghiệp hay mức độ hưởng lợi của người nông dân còn quá thấp.

“Ngay cả lĩnh vực thủy sản cũng có xu hướng giảm. đây là vấn đề tương đối lo ngại”, ông Dương cảnh báo.

– Dịch vụ: Có tăng một chút, nhưng thấp hơn rất nhiều so với trước đây. Đây lẽ ra là khu vực được coi như tương đối năng động và có khả năng hỗ trợ các lĩnh vực khác.

– Lạm phát ổn định ở mức thấp. Nhưng có 2 vấn đề.

Một là, giá của một số mặt hàng mà Nhà nước đang quản lý như Y tế và Giáo dục có lộ trình tăng. Việc tăng giá 2 mặt hàng này được cho là không ảnh hưởng đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI) vì CPI đang thấp, nhưng nhìn vào thực tế, giá các mặt hàng này tăng trong khi các mặt hàng khác giảm tức là mức tăng đã tăng đáng kể, ảnh hưởng đến chất lượng hàng hóa và tiêu dùng của người dân.

Hai là, CPI đã giảm trong một thời gian dài nhưng chưa đạt kỳ vọng của người tiêu dùng. Họ cho biết chưa có cảm giác nào cho thấy kỳ vọng lạm phát có xu hướng giảm.

Mọi người vẫn cho rằng CPI có thể tăng do: Giá xăng dầu, giá các mặt hàng cơ bản như Y tế, Giáo dục chỉ có xu hướng tăng, riêng khối doanh nghiệp còn lo ngại do mức tăng lương tối thiểu còn chưa ngã ngũ. Vì vậy, dù lạm phát được coi là ổn định, nhưng kỳ vọng giá thấp của người dân và doanh nghiệp vẫn bất định do các yếu tố đầu vào tác động trong thời gian tới.

10 tên tuổi nổi nhất Việt Nam có giá 5,5 tỷ USD

D.Anh (VNN) – Danh sách 10 thương hiệu có giá trị nhất Việt Nam là Vinamilk, ba nhà mạng là Viettel, Mobifone, Vinaphone, ba ngân hàng là Vietinbank, BIDV, Vietcombank, thương hiệu BĐS duy nhất là Vinhomes và Petrolimex Gas.

Theo danh sách 50 thương hiệu giá trị lớn nhất VN năm 2015 do hãng tư vấn định giá thương hiệu Brand Finance (Anh) vừa công bố, thương hiệu giá trị lớn nhất là Vinamilk với hơn 1,1 tỉ USD, vượt qua rất xa so với thương hiệu xếp thứ 2 là Viettel (580 triệu USD).

Các tiêu chí đánh giá gồm: khả năng làm tăng giá trị sản phẩm của một thương hiệu, mức độ ảnh hưởng đối với quyết định mua của khách hàng, chi phí để xây dựng thương hiệu thành công, giá trị mua bán trên thị trường chứng khoán và khả năng tạo ra lợi nhuận của thương hiệu.

Đây là lần đầu tiên các thương hiệu Việt Nam được Brand Finance đưa vào danh sách được định giá hàng năm. Kết quả định giá thương hiệu sẽ được sử dụng và công bố chính thức trên các kênh truyền thông lớn như: BBC, CNN, CNBC… 50 thương hiệu hàng đầu VN được định giá tổng cộng khoảng 5,5 tỉ USD.

50 thương hiệu lớn nhất Việt Nam
chưa bằng 1/2 thương hiệu Malaysia

(VNN) Theo CafeBiz/TTVN – Giá trị thương hiệu Vinamilk + FPT + Viettel + Thế Giới Di Động… chưa bằng nửa giá trị một thương hiệu của Malaysia.

Theo công bố của Brand Finance, hầu hết thương hiệu đặt giá tại Việt Nam đều là những thương hiệu rất thông dụng, được nhiều người biết tới nhưu Vinamilk, Viettel, Mobifone, FPT, Vietcombank,…

Những tên tuổi đắt giá nhất thuộc về nhóm ngành tiêu dùng, viễn thông, ngân hàng, bất động sản.

Vinamilk, thống trị ngành sữa Việt Nam được định giá trên 1,1 tỉ USD, vượt qua rất xa so với thương hiệu xếp thứ 2 là Viettel (580 triệu USD).

Mặc dù vậy, đây không phải là thông tin vui của Vinamilk vì năm ngoái, thương hiệu này được định giá tới 1,5 tỉ USD. Chỉ trong vòng 1 năm, thương hiệu này đã bị mất giá tới 400 triệu USD.

Yếu tố nào quyết định giá trị một thương hiệu? Theo ban tổ chức, giá trị thương hiệu nằm trong các yếu tố vô hình của các công ty.

Đáng tiếc là tại Việt Nam, phần yếu tố này đang bị xem nhẹ. Các yếu tố vô hình mới chỉ đóng góp 38% trong tổng giá trị một doanh nghiệp Việt Nam, trong khi tỉ lệ này trung bình trên thế giới là 53%.

Chẳng hạn với Vinamilk, tỷ lệ này chỉ ở mức 23%. Một số ngành hàng tiêu dùng có độ nhận biết cao cũng có tỉ lệ tốt hơn, như Vinacafe, tỉ lệ giá trị vô hình trên tổng giá trị công ty đạt 36%.

Ngược lại là nhóm ngành sản xuất. Thép Hòa Phát, một trong những doanh nghiệp đứng đầu ngành thép Việt Nam, giá trị thương hiệu không đáng kể khi chỉ đáng 5% trên tổng giá trị doanh nghiệp.

“Nếu tỷ lệ này cao, chính thương hiệu đã tạo nên doanh số cho doanh nghiệp.

Nếu tỷ lệ này thấp, cần xem lại tiền cho quảng bá thương hiệu đang đầu tư thế nào”, ông Samir Dixit – Giám đốc Khu vực Châu Á-Thái Bình Dương của Brand Finance, cho biết.

Tổng giá trị thương hiệu toàn cầu là 7.000 tỷ đô, tăng 11%.

So với tỷ lệ quốc tế, đáng lẽ Việt Nam phải tăng mạnh hơn vì mô hình kinh tế ở mức thấp, nhưng tổng giá trị thương hiệu của doanh nghiệp Việt Nam là 67,3 tỷ USD – không tăng trưởng.

Chưa kể đến giá trị thương hiệu quốc gia của Việt Nam sụt giảm tới 18%, từ 172 tỷ USD năm 2014 xuống còn 139,5 tỷ USD năm 2015.

“Điều này có nghĩa chúng ta không cạnh tranh được với các thương hiệu toàn cầu. Khi thương hiệu toàn cầu vào Việt Nam, việc giữ miếng bánh thị phần của doanh nghiệp Việt sẽ khó khăn hơn nhiều”, ông Samir nói.

Ông Samir dẫn chứng, tổng giá trị thương hiệu của Top 50 ở Việt Nam là 5,5 tỷ USD. “Một thương hiệu như Petronas của Malaysia có thể gấp đôi con số này”.

Điều này cho thấy rằng các doanh nghiệp nội địa cần phải chú ý nhiều hơn nữa đến việc xây dựng thương hiệu – tài sản vô hình quan trọng nhất để tạo ra những giá trị lớn cho bản thân doanh nghiệp đó, cũng như cho các bên liên quan như nhà đầu tư, đối tác, khách hàng hay công chúng nói chung.

“Khả năng quản trị thương hiệu kém của các doanh nghiệp là một trong những trở ngại lớn nhất khiến các doanh nghiệp không tận dụng được những lợi thế mà tài sản thương hiệu của họ có thể mang lại”, ông Samir nói.

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s